| KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
Quyển thứ nhất.
PHẨM THỨ NHẤT : HÀNG MA
Tôi nghe như vầy, một thuở đức Thế Tôn ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại thành Vương Xá, cùng với chúng Ðại Tỳ kheo gồm một ngàn người, đều là bậc A-la-hán, các lậu đã hết, việc làm đã thành tựu, bỏ các gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các kết sử, đều được Chánh tri, tâm thiện giải thoát. Và cùng với Ðại Bồ tát, gồm một vạn người. Những vị ấy tên là Trì Tu Di Ðảnh đồng chơn, Thủy Trí đồng chơn, Ðịa Trí đồng chơn, Thắng Trí đồng chơn, Không Trí đồng chơn, Minh Trí đồng chơn, Ðiện Trí đồng chơn, Văn Thù Sư Lợi đồng chơn, Hàng Phục Thắng đồng chơn, Thủy Thiên đồng chơn, Vô Cấu đồng chơn, Ðại Bồ tát Di Lặc.v.v... mà là thượng thủ. Tất cả đều được Sằn-đề đà-la-ni tam-ma-đề, đầy đủ trí tất cả pháp không chướng ngại, đối với tất cả chúng sinh lòng các vị ấy bình đẳng, qua khỏi các ma giới, giỏi vào tất cả cảnh giới trí của Như Lai, đầy đủ trí đại từ đại bi thiện giải phương tiện... Các vị ấy đều theo đức Phật trụ ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại đại thành Vương Xá.
Lúc bấy giờ, đại thành Vương Xá có hai người ngoại đạo thông tuệ minh đạt quá hơn mười tám minh xứ, cùng ở với năm trăm người. Một người tên là Ưu ba Ðể Sa, người thứ hai tên là Câu Lợi Ða mà là thượng thủ của nhóm người đó. Họ cùng nói với nhau rằng : Hợp đồng uống cam lộ với nhau. Lúc ấy, trưởng lão A Thuyết Thị (người đời Ðường gọi là Mã Ðằng) vào đầu ngày, mặc áo mang bát, vào đại thành Vương Xá khất thực. Ưu Ba Ðể Sa thấy ngài A Thuyết Thị thì sinh lòng hy hữu : “Ta chưa từng thấy người uy nghi tường tự như vị Sa môn này, lại không có người như vị Tỳ kheo đó. Ta nên đến hỏi xem vị trưởng lão này lấy ai làm thầy, nương ai xuất gia, nương ai cầu pháp ?” Lúc ấy, ngài Ưu Ba Ðể Sa liền đến chỗ vị Tỳ kheo đó, đến nơi thăm hỏi đủ thứ, rồi lui về trụ một bên mà bạch trưởng lão A Thuyết Thị rằng :
- Ngài lấy ai làm thầy ? Nương ai xuất gia ? Nương ai cầu pháp ?
Lúc bấy giờ, trưởng lão A Thuyết Thị đáp ngài Ưu Ba Ðể Sa rằng :
- Có vị dòng họ Thích, dũng mãnh tinh tấn, có thể tu đại khổ hạnh, ở tất cả chỗ được tự tại tối thượng, đã qua bể cả vô biên sanh tử, nay đem lòng Ðại bi muốn độ chúng sinh, hiệu danh là Phật. Ngài giác ngộ chúng sinh, làm cạn khô bể khổ, không ai sánh bằng. Tôi thường qui y cầu pháp Vô cấu.
Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :
- Bậc thầy đó vì ngài nói những pháp gì ? Lấy gì dạy bày ?
Trưởng lão A Thuyết Thị đáp ngài Ưu Ba Ðể Sa rằng :
- Hay thay ! Khoái thay ! Hãy lắng nghe ! Tôi sẽ vì ngài giải nói !
Liền nói kệ rằng :
Nghiệp phiền não nhân duyên
Thế gian như vậy chuyển.
Nghiệp phiền não chẳng sinh
Ðạo sư như vậy nói !
Sinh, lão, tử hoại tan
Giải thoát đó Vô thượng
Như vua trâu dũng cường
Như Lai tự ngộ nói.
Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa nghe pháp này rồi thì xa trần lìa cấu, pháp nhãn thanh tịnh, đắc quả Tu Ðà Hoàn mà nói kệ rằng :
Tôi chứng pháp giải thật
Cạn hẳn dòng tử sinh.
Cái gọi Như Lai nói
Cam lộ tạng khó khăn.
Chúng sinh được dứt khổ
Trí tuệ hay trừ tan
Các pháp tu đủ thứ
Hay tạo đạo rốt cùng.
Hành đạo rốt cùng ấy
Ðược Vô Ðẳng Niết bàn.
Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa nói bài kệ này rồi, bạch trưởng lão A Thuyết Thị rằng :
- Thưa trưởng lão ! Thầy của ngài, đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà hiện nay ở chỗ nào ?
Ngài A Thuyết Thị đáp rằng :
- Thưa trưởng lão ! Ðức Như Lai, thầy tôi hiện nay ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại thành Vương Xá, cùng với chúng đại Tỳ kheo gồm một ngàn người vốn là ngoại đạo gặp đức Phật xuất gia.
Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :
- Tôi nay từ giả thiện tri thức và các quyến thuộc, đi đến chỗ đức Phật mà xuất gia.
Khi ấy, ngài Ưu Ba Ðể Sa làm lễ dưới chân ngài A Thuyết Thị, nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi từ tạ mà đi. Ông ấy đi đến chỗ ngài Câu Lợi Ða. Ngài Câu Lợi Ða thấy ngài Ưu Ba Ðể Sa từ xa đi đến, gặp nhau rồi, liền bạch ngài Ưu Ba Ðể Sa rằng :
- Thưa ngài ! Các căn thanh tịnh, nhan sắc tươi vui, nhất định ngài được cam lộ rồi !
Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :
- Ðúng vậy ! Thưa trưởng lão ! Tôi hôm nay được pháp cam lộ. Hãy lắng nghe ! Lắng nghe ! Nay tôi vì ngài nói pháp sở đắc của tôi.
Lúc bấy giờ, ngài Câu Lợi Ða liền đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, liền nói kệ thỉnh rằng :
Xin nói đạo Vô ưu kiết tường
Ðạo này chóng qua biển ba cõi
Các ấm đại oán tặc biệt phân
Theo đạo này chẳng còn luân hồi.
Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa đem kệ đã nghe, liền vì bạn nói cho :
Nghiệp phiền não nhân duyên
Thế gian như vậy chuyển.
Nghiệp phiền não chẳng sinh
Ðạo sư như vậy nói !
Sinh, lão, tử hoại tan
Giải thoát đó Vô thượng
Như vua Trâu dũng cường
Như Lai tự ngộ nói.
Lúc bấy giờ, Câu Lợi Ða nghe kệ này xong, lòng rất vui mừng, lại một lần nữa khen ngợi, thỉnh nói lại kệ trước :
Khổ tịch diệt vô cấu
Mâu ni nói pháp này
Tất cả phiền não diệt
Ðoạn các kiến vô tri
Uế ác hữu vi rỗng
Chẳng thể tin không ta (vô ngã)
Nói lại câu vô cấu
Ðược Niết bàn, ta nghe.
Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa liền một lần nữa vì bạn nói lại bài kệ đã nghe :
Nghiệp phiền não nhân duyên
Thế gian như vậy chuyển.
Nghiệp phiền não chẳng sinh
Ðạo sư như vậy nói !
Sinh, lão, tử hoại tan
Giải thoát đó Vô thượng
Như vua trâu dũng cường
Như Lai tự ngộ nói.
Khi ấy, ngài Câu Lợi Ða nghe bài kệ này xong thì xa trần lìa cấu, pháp nhãn thanh tịnh, đắc quả Tu đà hoàn, lại dùng kệ khen rằng :
Như pháp hạnh chơn ấy
Thuyền nhanh qua khỏi dòng.
Trí này dứt ba khổ
Hay độ khỏi thế gian.
Các ma ấm phiền não
Biết đây hay phục hàng
Giải thoát lìa oán tránh
Biển khổ cạn khô khan.
Ngài Câu Lợi Ða nói rằng :
- Nay đức Phật Thế Tôn trụ tại ở đâu ?
Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :
- Thưa trưởng lão ! Tôi nghe đức Thế Tôn ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại đại thành vương Xá, cùng với đại Tỳ kheo tăng và chúng Bồ tát. Tôi nay định sẽ cùng ngài đi đến chỗ đức Thế Tôn cầu Phật xuất gia.
Ngài Câu Lợi Ða nói rằng :
- Ðúng vậy ! Thưa trưởng lão ! Ta nên nói với đệ tử của mình đi đến chỗ đức Thế Tôn theo nhau xuất gia luôn !
Ngài Ưu Ba Ðể Sa cùng ngài Câu Lợi Ða đi đến chỗ đồ chúng của mình. Lúc bấy giờ, ác ma ở trong khoảnh khắc một niệm, nghe trong nước Ma Già Ðà có hai ngoại đạo, Ưu Ba Ðể Sa cùng Câu Lợi Ða và các quyến thuộc, thông minh đầy đủ, danh tiếng vang lừng, là những thiện trượng phu, đang muốn ở trong pháp của ông Sa môn Cù Ðàm xuất gia học đạo. Ma đó tác khởi ý niệm : “Lạ kỳ thay ! Nếu hai người này ở trong pháp của ông Sa môn Cù Ðàm mà xuất gia thì cảnh giới của ta trống không. Ta phải đến chỗ hai vị trượng phu đó phá sự xuất gia ấy, khiến cho họ mang ác kiến”. Lúc ấy, ác ma ở trong khoảnh khắc một niệm biến mất khỏi cung của mình, hóa làm uy nghi hình tướng của A Thuyết Thị, liền ở giữa đường, hiện ra trước mặt hai người, nói lên như vầy :
Như ta trước đã nói
Phi quyết định, thử ông !
Theo ý ông hành động
Nên mau thọ dục hoan (lạc).
Tất cả nghiệp đen trắng
Nhân quả thẩy đều không
Không sinh, già, bệnh, chết
Ðời hậu thế cũng không
Phước, phi phước quả nghiệp
Không có nhân này làm
Thích tử vì lợi nói
Nên bỏ, ông chớ tin !
Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa, ngài Câu Lợi Ða nghe lời nói này xong đều nghĩ rằng : “Ác ma này đến muốn hoại sự xuất gia của chúng ta”. Lúc ấy, ngài Ưu Ba Ðể Sa quay lại gọi đệ tử nói như vầy :
- Các ông, hôm nay phải nhớ sở hữu thế gian là lỗi hoạn, liền nói bài kệ rằng :
Chúng sinh bị già bức (ép)
Bị khổ chết buộc ràng
Phải đoạn hai thứ đó
Quyết định xuất gia liền!
Lúc bấy giờ, ngài Câu Lợi Ða liền dùng kệ tụng đáp ma vương rằng :
Biết trí Vô thượng thiện
Trì pháp, ba khổ tan
Ông nói tham chẳng đoạn
Trí ta chẳng động rung
Lòng kiên cố như vậy
Với người khác đã không
Chúng ta thoát vòng khổ
Chẳng lầm (hoặc), trí Chánh chân.
Chớ giả dáng sư tử
Mà rống tiếng dã can.
Lúc bấy giờ, thấy được chơn lý, chư thiên trụ ở trong hư không khen hai vị trượng phu rằng :
- Hay thay ! Hay thay ! Thưa các trượng phu ! Hai ngài là tối thượng thủ ở trong tất cả chúng sinh ! Ðạo thắng diệu này là tối đệ nhất đối với tất cả thế gian ! Ðạo này dứt tất cả khổ ! Ðạo này vào tất cả hành xử của Như Lai ! Ðạo này được sự xưng dương của tất cả các đức Phật ! Cái đó gọi là nương theo Phật xuất gia.
Khi đó, lòng ác ma phát sinh ưu khổ, liền biến mất.
Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa cùng ngài Câu Lợi Ða tự quan sát chúng của mình, rồi kêu gọi các đệ tử, nói lên lời như vầy :
- Các ông nên biết, chúng ta muốn qua bể khổ già chết nên nương theo đức Phật xuất gia ! Các ông, nếu chẳng ưa xuất gia theo Phật thì nên trụ ở đây !
Năm trăm người đệ tử đều nói lên rằng :
- Pháp giải thoát của chúng con đều theo thầy học tập. Hai thầy quyết định đại xứ xuất gia. Chỗ hai thầy sở y xuất gia, chúng con theo thầy, nên cũng nương theo chúng đó mà xuất gia học đạo.
Bấy giờ, Ưu Ba Ðể Sa và Câu Lợi Ða cùng năm trăm đồ chúng sắp đi đến chỗ đức Phật. Lúc đó, ác ma biết việc kia rồi thì ở bên ngoài thành Vương Xá hóa làm cái hầm lớn, sâu một trăm do tuần, khiến cho hai người đó chẳng được đi đến chỗ đức Phật Thế Tôn. Lúc đó đức Như Lai dùng sức thần thông khiến cho hai người kia chẳng thấy hầm lớn, cứ thẳng đường mà đi. Khi ấy, ác ma ở phía trước hai người lại hóa làm núi lớn cao vòi vọi, cao đến một ngàn do tuần, cao chắc hiểm trở, không có khe hở xuyên qua. Ở trong núi đó lại hóa làm một ngàn con sư tử, uy mãnh đáng sợ. Khi ấy đức Thế Tôn dùng sức thần thông gia hộ hai người đó chẳng thấy núi lớn và những con sư tử kia, lại không có tiếng rống uy mãnh đáng sợ nên họ cứ thẳng đường mà đi đến chỗ đức Thế Tôn. Và ở đó có vô lượng trăm ngàn chúng vây quanh, cúng dường chỗ đức Phật nói pháp.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng :
- Các ông thấy hai thiện trượng phu làm thượng thủ của chúng kia đang cùng các đồ chúng đi đến chỗ ta. Các ông có thấy không ?
Các Tỳ kheo đáp, đều nói rằng : “Con thấy”. Ðức Phật dạy :
- Thiện trượng phu này và các đồ chúng ở bên ta xuất gia. Một người là người trí tuệ đệ nhất ở trong tất cả Thanh văn đệ tử của ta. Một người là người thần thông đệ nhất ở trong chúng Thanh văn của ta.
Lúc đó, trong chúng có một vị Tỳ kheo dùng kệ khen rằng :
Hai vị sáng suốt gồm quyến thuộc
Người trên lợi ích Phật đã ghi
Ðủ trí thần thông không sở úy
Nên ta vưng đón hai trượng phu.
Lúc bấy giờ, vị Tỳ kheo kia nói bài kệ này xong, liền đứng dậy cùng với vô lượng chúng Tỳ kheo và chúng xuất gia, Ưu bà tắc.v.v... nghinh đón hai người đó, lời khéo léo hỏi thăm. Hai người đó đi đến chỗ đức Phật, đến rồi đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng, đứng trước đức Phật mà bạch rằng :
- Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con hôm nay cầu đức Phật xuất gia, thọ giới Tỳ kheo, tu hành phạm hạnh.
Ðức Phật dạy rằng :
- Này thiện nam tử ! Các ông hai người tên chữ là gì ?
Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :
- Ðể Sa là cha, Xá Lợi là mẹ, nay con theo mẹ nên tên là Xá Lợi Phất. Cha mẹ hôm nay đã cho phép con xuất gia.
Ngài Câu Lợi Ða nói rằng :
- Kiều Trân Như là cha, Mục Già La là mẹ, con nay theo mẹ tên là Mục Già La. Cha mẹ hôm nay đã cho phép con xuất gia.
Ðức Phật dạy rằng :
- Hai người các ông và các quyến thuộc có thể ở chỗ của ta xuất gia cụ túc, tu hành phạm hạnh.
Ðức Phật nói lời đó xong thì hai người này thành Cụ túc giới. Năm trăm đồ chúng chưa bao lâu cũng đồng với hai thầy được Cụ túc giới.
Lúc bấy giờ, ác ma liền tự hóa thân làm hình dáng Ma Ê Thủ La, đứng trước đức Phật nói kệ như vầy :
Trí lợi thế gian hay luận bàn
Phương tiện thắng trí đến bờ giác (bờ kia)
Bọn họ đều lễ ta dưới chân
Ta là đại đạo sư của họ.
Ðệ tử Cù Ðàm cùng bà con
Tất cả nên mau qui y ngã
Ta nay vì ông sẽ tuyên dương
Ðạo thiện diệu tịch diệt yên ổn.
Lúc ấy đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng :
Ðạo ngươi nói hướng về ác đạo
Chúng sinh làm thì khổ trầm luân.
Ðạo ta hay khiến động chẳng động
Biển khổ thế gian cạn khô khan
Tại sao ngạo mạn không xấu hổ
Lại còn khoe mình giọng dã can.
Việc ma của ông nay ta phá
Chẳng lại ở ta việc hay làm.
Lúc bấy giờ, hình tượng biến hóa Ma Ê Thủ La của ác ma liền biến mất, rồi lại hóa làm hình dáng Phạm Thiên Vương, trụ ở trước đức Phật, nói bài kệ như vầy :
Phiền não có mầm nghiệp
Trí tuệ đã trừ tan
Ở đây vì sao mạnh
Cần khổ lợi chúng sinh.
Ở đời không tự tại
Ðạo khí do không kham
Mâu Ni đã trừ bệnh
Nên mau vào Niết bàn !
Lúc ấy, đức Thế Tôn liền dùng kệ tụng đáp lại Ma Vương rằng :
Ta xem các chúng sinh
Hơn lượng cát sông Hằng
Dùng Ðại Từ Bi lực
Giáo hóa khiến giải thoát.
Thượng trung hạ chúng sinh
Khiến thế gian giải thoát.
Chúng sinh giải thoát xong
Nhiên hậu mới Niết bàn.
Vì sao dùng ác huệ (ban cho ác)
Thỉnh ta lời trá gian.
Lúc bấy giờ, lòng ác ma sinh ưu hối, ở trước đức Phật biến mất, trở về cung trời của mình, vào nhà ưu não, lặng thinh mà ngồi. Ðang lúc ấy, trong giây lát, các quyến thuộc của ma tìm đến hỏi lẫn nhau rằng : “Ðại vương của ta hôm nay vì nhân duyên gì mà vào trong nhà ưu não, không ai biết cả ”. Bấy giờ, năm trăm kỹ nữ của ma vương trang nghiêm đủ thứ, đều mang hoa mạn, bột thơm, hương xoa, tấu lên năm trăm âm thanh của kỹ nhạc trời, ca múa hý nhạc đệ nhất vi diệu, rất đáng yêu thích... Tất cả tập họp ở trước ma vương.
Lúc bấy giờ, Ma vương buồn khóc, nắm tay đè nén tiếng bi ai. Làm như vậy rồi, tạm thời lặng thinh, các kỹ nữ lại ca múa nữa, tạo ra trạng thái hân duyệt (vui vẻ) khiến cho ma hoan hỷ. Lúc ấy, Ma vương đưa tay kêu lớn lời như vầy : “Im lặng ! Im lặng !...” cho đến bảy lần, các kỹ nữ mới lặng thinh mà trụ. Bấy giờ, ma cung có một kỹ nữ tên là Ðiện Khả Ý Thanh đến chỗ Ma vương cúi mình chắp tay, nói kệ như vầy :
Ngài nay ở tự tại
Thấy tướng chết lo buồn
Vì là gánh gánh nặng
Ai có thắng lực oán
Mà lo chẳng vui mừng.
Lúc đó, Ma vương nói kệ đáp rằng :
Ta có oán lớn điều phục lòng
Thích Ca Tử giỏi học huyễn thuật
Ta không phương tiện để hoại tan
Như vậy chẳng lâu cõi Dục rỗng.
Kỹ nữ đó liền nói kệ rằng :
Phương tiện đại gia thật vô lượng
Sức siêng hoại đó ắt không còn
Ba cõi buộc ràng ai thể mở ?!
Ai làm cạn biển tham đắm chìm.
Lúc đó Ma vương nói kệ đáp lại rằng :
Ðàn na(bố thí) và khổ hạnh
Bi nguyện là tơ mành
Trì không cung vô tướng
Ðệ nhất trong khí binh.
Có thể đoạn sinh tử
Các “hữu” hết không còn
Lấy Không làm rừng chắn
Ðệ tử ở núi hang
Tinh cần thường tu định
Hết lỗi hoạn thế gian
Phương tiện thần thông lực
Từ bi, bạn giúp thêm
Ông Ưu Ba, Câu Lợi...
Mâu ni đều phục hàng.
Ở trong ba cõi đó
Phương tiện nhiếp khéo khôn
Cảnh giới ta dục rỗng
Tất cả đều không còn.
Lúc bấy giờ, năm trăm kỹ nữ ở bên Ma vương, nghe khen công đức sở hữu của đức Như Lai, liền được tam muội Bồ tát tên là Ly Nhất Thiết Tướng Ðiển Quang tam muội. Năm trăm kỹ nữ đó liền đem những đồ trang nghiêm ở trên trời, mưa xuống hương hoa trời và kỹ nhạc trời... từ xa hướng về đức Phật mà cúng dường đức Thế Tôn. Ở trên rừng trúc giống như trời mưa xuống. Nhờ được thần lực của đức Như Lai nên khiến cho các thiên nữ đó từ xa thấy đức Thế Tôn và các đồ chúng. Họ thấy rồi, vui mừng phát sinh niềm tin thanh tịnh ái kính số một.
Lúc bấy giờ, trong chúng, các vị Tỳ kheo.v.v... thấy vùng rừng trúc có tướng như vậy liền sinh nghi lạ, bạch đức Phật rằng :
- Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con từ xưa đến nay chưa từng thấy nghe ở vùng rừng trúc có điềm ứng mưa xuống hương hoa.v.v... như thế này. Phải chăng ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên.v.v... hiện tướng này vậy ? Hay vì nhân duyên gì mà nhìn thấy hiện tượng hy hữu ấy ?
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng :
- Chẳng phải hai người này hiện tướng thần thông. Ðây là năm trăm kỹ nữ của thiên ma, ở ma cung đó mưa xuống những hương hoa và đồ trang nghiêm, đem cúng dường ta, chẳng bao lâu họ sẽ đến đây, đều ở bên ta, được thọ ký A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề (Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác).
Năm trăm kỹ nữ của Ma vương kia từ xa nghe lời ký của đức Phật lại trở nên vui mừng phát sinh niềm tin thanh tịnh. Do niềm tin thanh tịnh nên họ liền được tam muội Bất Vong Bồ đề tâm. Bấy giờ, năm trăm kỹ nữ của Ma vương mặc áo một vai, gối phải quì xuống đất, ở trong ma cung, hướng về hướng có đức Phật, chắp tay cung kính nói kệ như vầy :
Tất cả thế gian mù không mắt
Chỉ Phật, một người gọi thấy trông
Làm cạn người trời dòng khát ái
Cùng tất cả Như Lai đưa sang
Chúng con làm sao mau thành Phật
Người trời cung kính bậc tuyên dương
Thân nữ đáng chán nên ưng bỏ
Mau gần Mâu Ni nghe pháp chân.
Như Lai tối thượng thần thông trí
Khai thị chúng con mà dẫn đường
Ðem báu Vô Thượng Giác chi đó
Nói diệu vô cấu như tịnh đăng (đèn thanh tịnh)
Thắng lực hàng ma không ai sánh
Giác ngộ chúng con, ký trao liền.
Bấy giờ, năm trăm kỹ nữ ma cung đứng dậy đi đến chỗ Ma vương, khác miệng đồng âm mà nói kệ rằng :
Như Lai thắng đức trọn chẳng động
Sao đối với Phật mà sinh sân
Thân này mọi khổ đã bức bách
Lại khởi kiêu mạn mà bôi mình.
Nên bỏ sân này, tin quyết định
Phật tát bùn kiêu mạn tử sinh
Thể tính chúng sinh Phật đã biết
Chỗ từ bi chúng con nên sang !
Bấy giờ, Ma vương nghĩ đến những người con gái đó, phát sinh ác ý tăng lên như vầy : “ Ta nay nên dùng năm thứ trói buộc để trói buộc năm trăm kỹ nữ này khiến cho chúng trụ ở đây chẳng sang bên đức Phật”. Năm trăm người con gái này nhờ được niệm lực của đức Như Lai gia hộ nên Ma vương đó đã chẳng thể cấm chế.
Lúc ấy, năm trăm người kỹ nữ ở cung ma đó muốn đến chỗ đức Phật. Khi họ sắp cất bước thì ma rất sân hận, liền tác khởi ý niệm này : “Ta nay tự dùng sức của cảnh giới cấm chế những người con gái này”. Ma liền khởi lên gió lớn Tỳ Lam chẳng phải lúc đầy khắp hư không, muốn khiến những người con gái mê muội, lạc mất phương hướng, quay trở lại trụ ở cung ta, chẳng thấy ông Cù Ðàm. Vì thần lực của đức Phật nên một ngọn gió nhỏ nhoi còn chẳng thể nổi lên, thậm chí chẳng thể lay động được một sợi lông huống gì là vô lượng.
Lúc bấy giờ, ma vương trở nên thêm ưu khổ, lòng sinh hối não, buồn khóc lớn tiếng, kêu gọi các con mình và quyến thuộc. Tất cả cung ma tiếng lớn tràn đầy mà nói kệ rằng :
Con yêu, quyến thuộc tập họp hết
Lòng ta nhiệt não như cây độc
Hoại lực ta, cảnh giới, thần thông
Lời ngon dua nịnh sư tử Thích.
Lúc ấy, con trai con gái sở hữu của Ma vương cùng các quyến thuộc nghe âm thanh này thảy đều chạy mau đến trụ ở trước Ma vương. Trong số quyến thuộc đó có một người con của ma tên là Thắng Trí, chắp tay đứng nói bài kệ như vầy :
Ðây chẳng kiếp cháy, chẳng tướng chết
Vì sao đủ thứ ưu não sinh ?
Ðây không đại lực hay thắng oán
Vì sao trí khác tợ ngu đần ?
Bấy giờ, Ma vương nói kệ đáp lại rằng :
Nay Thích Ca Tử này
Ngồi ở dưới rừng cây
Hiện tiền có đại oán
Tại sao ngươi nói không.
Kia dua nịnh thắng lực
Khiến lòng ta kinh mạng
Con ta cùng quân chúng
Như than vào lửa hừng.
Danh xưng trượng phu thắng
Sáng suốt nhiều tài năng
Hiện họp và chưa họp
Nay đều theo đó nương.
Ta oán vì giả trá
Sức siểm trí rất tranh
Danh cao hơn người trí
Ðều vì pháp dẫn đường
Nay các thị nữ ấy
Với ta không bi tâm
Thấy bỏ yêu thích cũ
Ði đến chỗ Sa môn.
Chỉ ta lấy làm chứng
Ngày nay về đó nương
Tất cả đất ba hữu
Các huyễn đều khiến không.
Kia tuy có đại lực
Ta phá thành tro tàn
Bọn ta tất cả chúng
Việc làm nên phải siêng.
Bấy giờ, tất cả các con của Ma vương cùng quyến thuộc sở hữu nội ngoại của hắn đều chắp tay mà nói lên rằng :
- Chúng con, tất cả đều nghiêm chỉnh xe cộ, dùng sức thần thông mà tự gia bị. Dùng cảnh giới này bày ra khiến cho chúng biết, làm thoái lui Thích tử kia, khiến cho nát như tro. Nếu sẽ thắng lợi thì chúng con tốt lành. Nếu chẳng thắng thì chúng con sẽ qui y vị Thích tử đó. Chúng con, thuở trước, với đại quân vây quanh, đi đến cây Bồ đề, đối mặt nhìn thấy Thích tử độc một mình, không bạn bè, mà do thần thông lực nên quân chúng của chúng con đều thoái lui hủy hoại. Huống gì hôm nay Phật lại có vô lượng đồ chúng đều đã thành tựu.
Ma đáp lại rằng :
- Bọn các con hãy sớm ra đi ! Nếu có thể giết chết ông Sa môn Cù Ðàm thì sẽ phải quay trở về. Nếu chẳng thể thì cũng phải trở về cung mà tự thủ hộ !
Lúc đó, Ma vương liền dùng mười hai vạn chúng tả hữu, lại hơn số này, thậm chí tám muôn bốn ngàn do tuần, binh chúng sở hữu đều đầy khắp. Ma lại dùng sức thần thông tấn tật hiện lên đại hắc phong thổi mây đen lớn, mưa xuống đuốc lửa lớn đều đầy khắp tất cả bốn châu. Ma lại dùng tay đánh vua núi Tu Di, tất cả bốn châu đều chấn động. Ma lại phát ra âm thanh rất ác đáng sợ làm cho vua núi Tu Di và vua các núi, đất đai, đá núi, tất cả đều kinh động. Do sự chấn kích này mà sông ngòi lớn nhỏ và nước trong biển cả đều dậy sóng, tất cả các rồng, rồng lớn, dạ xoa, dạ xoa lớn thấy việc ấy rồi đều vọt lên hư không. Những ma chúng này trụ ở đỉnh Tu Di, lại ném đá lớn với số lượng hàng do tuần, ở giữa nước Ma Già Ðà như một trận mưa dữ, chấn kích kinh động. Ma lại mưa xuống dao, chày, dùi đục, đá lớn, vòng nguyệt, cây chọc, giáo ngắn, chuôi sắt, răng cọp, gậy lớn và tên đại nguyệt... rơi xuống giống như mưa.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền vào tam muội Toái ma quân trường, làm cho binh trượng và đuốc lửa lớn có ở trong hư không biến thành mưa hoa, như là mưa hoa Ưu bát la, mưa hoa Bát đầu ma, mưa hoa Câu vật đầu, mưa hoa Phân đà lợi, mưa hoa Mạn đà la, mưa hoa Ðại mạn đà la... Mưa xuống giữa nước Ma Già Ðà. Tam muội ấy lại biến âm thanh kinh động đáng sợ thành đủ thứ âm thanh vi diệu, như là tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, tiếng Ba la mật, tiếng thần thông, tiếng A Tỳ bạt chí, tiếng thọ chức, tiếng bốn ma lui, tiếng đến Bồ đề đạo tràng... cho đến tiếng thủ câu (?), tiếng chẳng thủ câu (?). Tam muội ấy lại biến tất cả dược thảo, tàng lâm, núi đá, đất cát có trên đại địa của bốn châu này đều thành bảy báu. Lúc đó thế giới không có gió bụi, tất cả yên lặng.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiện thân tướng của mình qua tới Phạm thế tự tại mà chuyển. Từ thân ấy phân các tướng thành từng tướng một... cho đến tướng Vô kiến đảnh phát ra ánh sáng lớn soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới, khắp nơi đều sáng rỡ. Lúc đó trời, rồng, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la gia, Bệ lệ đa, Tỳ xá xà, Cưu bàn trà, người, chẳng phải người.v.v... địa ngục, súc sinh, thế giới Diêm La... như vậy tất cả trong ba ngàn thế giới đều thấy đức Thế Tôn và ánh sáng lớn. Lúc đó, trời, rồng, Dạ xoa... người, chẳng phải người.v.v... đều cùng ngần ấy trăm ngàn quyến thuộc, trên đất và hư không, đi đến chỗ đức Phật, tung hoa cúng dường. Ðến nơi rồi, họ nhiễu quanh bên phải, khen ngợi, lễ bái. Khi đó, địa ngục và các súc sinh, thế giới Diêm La, vô lượng trăm ngàn A súc tỳ câu chỉ na do tha.v.v... đều tự nghĩ nhớ lại căn lành gieo trồng đời trước, xưng lên Nam Mô Phật Ðà. Ðường ác hết rồi họ sinh lên cõi trời.
Lúc bấy giờ, các con hai vạn hai ngàn người của Ma vương cùng các quyến thuộc thấy tướng thần biến của đức Phật như vậy rồi đều ở chỗ đức Phật được niềm tin hy hữu. Chúng liền cùng với năm trăm kỹ nữ của Ma vương kia làm lễ dưới chân đức Thế Tôn, chắp tay cung kính, dùng kệ khen ngợi rằng :
Tịnh thân diệu sắc ánh biển trí
Cao viễn tột cùng danh vang lừng
Như Tu Di ánh sáng kim sắc
Chúng con không (chỗ) tựa theo ngài nương.
Chúng sinh lạc đường không thể thấy
Mặt trời trí Như Lai soi đường
Dưỡng hộ chúng sinh mãi chẳng thoái
Thân dẫn chúng con theo ngài nương.
Trí tạng tích tập giàu vô lượng
Tâm tính giải thoát như hư không
Từ bi thấm nhuần tuy có nói
Tất cả thành tựu theo ngài nương.
Ðồng trống sinh tử khó giúp vượt
Giải thoát Như Lai mở bày đường
Khéo nói nhân quả hay hiển rõ
Trụ đệ nhất Từ theo ngài nương.
Cảnh giới huyễn cháy như trăng nước
Vô trí che tối, các dục mang
Phật là y vương cứu cõi thế
Vậy nên chúng con theo ngài nương.
Cầu qua bốn dòng là pháp Phật
Giàu có thất tài (bảy thứ của cải) tư cấp luôn
Chánh đạo Thế Tôn bày cõi thế
Ðại bi con gần gũi cúng dường.
Chúng con ác ý hướng về Phật
Nay sám hối Ðệ Nhất Giác Vương
Các ác sở hữu đoạn dứt mãi
Nguyện Phật nhận con Tối thượng nương.
Chúng con đều bỏ ma bộ đảng
Cùng phát Vô thượng Bồ đề tâm
Mời khắp tất cả loài sinh chúng
Bồ đề đại nguyện đến không còn.
Phật hay hiển thị con thắng hạnh
Như Ba la mật con đã làm
Lời nói Như Lai không nói khác
Ðến Bồ đề, bao nhiêu pháp tròn ?
Hoa tung lên Phật thành lọng hoa
Thị hiện các cõi nhiều không lường,
Ðấng Lưỡng Túc Tôn, con nay lễ
Nguyện vui Niết bàn, lợi thế gian.
Lúc bấy giờ, tất cả các quyến thuộc của ma cùng kỹ nữ của ma đều mang hoa trời, từ xa tung lên trên đức Phật. Nhờ thần lực của đức Phật Thế Tôn gia hộ nên tất cả hoa biến thành lọng hoa che khắp mười phương vô lượng câu chỉ na do tha trăm ngàn hằng hà sa các cõi Phật. Lại hơn số này biến thành lọng hoa cái che khắp các đức Phật hiện tại của mười phương, ở trong hư không che trên đảnh Phật. Năm trăm kỹ nữ cùng các quyến thuộc của ma đó, tất cả đều thấy mười phương vô lượng A tăng kỳ các cõi Phật yên ổn nói pháp và thấy quyến thuộc của các đức Phật đó vây quanh, mọi người ngồi uy nghi hực hỡ vi diệu, và thấy lọng hoa trụ ở trên hư không che trên đảnh Phật. Các đức Phật ở những cõi đó đều đồng một màu, hình tướng thị hiện đều đồng đẳng. Chỉ đức Thế Tôn ngồi tại tòa Sư Tử với các quyến thuộc công đức trang nghiêm hiện lên chẳng đồng. Lại nghe âm thanh của chư Phật đầy khắp câu nghĩa nói pháp. Quyến thuộc của ma này nhờ sự gia hộ niệm của đức Phật Thế Tôn nên được thấy thần thông biến hóa như vậy. Ðã thấy những việc này rồi thì họ yêu thích số một, phát sinh niềm tin thanh tịnh, làm lễ dưới chân đức Phật rồi ở trước đức Phật nghe pháp.
Lúc bấy giờ, các con của Ma vương cùng các quyến thuộc mười hai tần bà la lui trở lại cung ma bạch với Ma vương rằng :
- Chúng tôi tạo tác rộng rãi việc ác như thế này mà thậm chí chẳng thể hủy hoại được một lỗ chân lông của ông Cù Ðàm...
Lúc ấy, lại có hai vạn những ma qui y đức Như Lai đang ở trước đức Phật nghe pháp.
Bấy giờ, Ma vương đã mất uy đức, lại nổi giận dữ nói lên rằng :
- Ta hôm nay không giác ý khác, cho đến chẳng thể tru diệt người con của dòng họ Thích, làm cho người đó bị diệt hoại thì làm sao mà trụ đây ?
Mà liền trở về cung ma, vào nhã ưu não, lặng thinh mà ngồi.
- Quyển thứ nhất- hết.
KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
Quyển thứ hai.
PHẨM THỨ HAI: BỐN SỰ
Kỳ nữ của ma và các con của Ma vương cùng quyến thuộc của chúng bạch đức Phật rằng:
- Hy hữu! Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay chí cầu tướng như vậy, tánh như vậy, thừa như vậy, trí tuệ biện tài như vậy, phương tiện đại bi thần thông như vậy! Hy hữu! Thưa đức Thế Tôn! Ðầy đủ pháp trí tuệ, phương tiện, thần thông.v.v.. như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Phải đầy đủ bao nhiêu pháp thì có thể khiến cho Ðại Bồ tát xa lìa bạn ác, mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác?
Ðức Phật dạy rằng:
- Này thiện nam tử! Nếu Ðại Bồ tát có thể đủ bốn pháp thì xa lìa bạn ác, sẽ mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những gì là bốn? Một là chẳng thủ. Hai là chẳng nói. Ba là chẳng thấy. Bốn là trống rỗng không phân biệt.
- Này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng thủ? Ðó là chẳng thủ lấy tất cả pháp. Không một pháp có thể được, chẳng nhận, chẳng bỏ, chẳng thể, chẳng phải chẳng thể, chẳng kiến lập, chẳng niệm trước (chấp trước), chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt. Cái gọi là hành Ðàn Ba la mật (bố thí) là chẳng thủ lấy kết quả Ðàn Ba la mật, chẳng nhận, chẳng bỏ, chẳng thể, chẳng phải chẳng thể, chẳng kiến lập, chẳng niệm trước, chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt... cho đến hành Bát nhã Ba la mật (Trí tuệ) cũng lại như vậy... chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt.
Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng nói? Ðó là chẳng nói chúng sinh có thể được, chẳng nói mạng, chẳng nói thọ (sống lâu) , chẳng nói người. Chẳng nói chúng sinh giới có thể được, chẳng nói có ý, có sở thủ... cho đến chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt.
Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng thấy? Ðó là chẳng thấy sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chẳng thủ lấy sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp... cho đến chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt.
Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là trống rỗng không phân biệt? Ðó là quả báo nhân duyên của ấm, giới, nhập.v.v... trong ba cõi cả ba đời mà pháp sở duyên không khởi, không nương, không có sinh tướng, chẳng lấy, chẳng bỏ... cho đến chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt. Vì sao vậy? Vì lìa bỏ tất cả hành, tất cả trì, tất cả thân và phân biệt, chẳng phân biệt vậy. Trí Nhất thiết trí tương ứng chẳng thể được nên phải hành như vậy. Sở dĩ vì sao? Này thiện nam tử! Vì tất cả pháp và tất cả trí... cho đến không thanh (tiếng), không tướng, không tự (chữ), không nguyện, không sinh, không diệt, không thể (hình), không trước (chấp trước), không duyên, không ngã (ta), chẳng thể thấy tịch tịnh, lìa tướng, lìa niệm, lìa diệt, không tối, không sáng, không xứ sở, không cảnh giới, không căn bản, không bạn giúp, chẳng thể nghĩ, chẳng thể lường, không tham, không xan (keo kiệt), không hành, không nói, không sâu, không cạn, không thọ (nhận), không nương, không thức (biết), không thủ (lấy), không hình ảnh, không một niệm khoảnh, không phân tề, không sở hữu, rốt ráo không sở hữu. Vì sao vậy? Vì Nhất thiết trí bình đẳng giống như hư không, tương ứng chẳng thể được, chẳng lập tương ứng, chẳng thủ lấy tương ứng, chẳng hành tương ứng, hoặc tương ứng hoặc chẳng tương ứng, chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt... phải hành như vậy.
Này thiện nam tử! Ðó gọi là đầy đủ bốn pháp có thể khiến cho Ðại Bồ tát xa lìa bạn ác sẽ mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Tất cả cảnh giới trong ngoài sở hữu, nếu dùng trí Nhất thiết trí quan sát, tìm cầu, y trì (nương giữ) kiến lập, chấp trước hai tướng này dùng ý phân biệt, khởi lên hai sự chấp trước thì người đó liền xa lìa Nhất thiết trí vậy. Sao gọi là hai tướng? Nếu quan sát vào bình đẳng mà thủ lấy, kiến lập hai tướng thì đó gọi là xa lìa Nhất thiết trí vậy. Nếu thủ lấy kiến lập hành động kết quả thì đó là phân biệt hai. Ðối với các chúng sinh có tướng thủ lấy, kiến lập thì đó là phân biệt hai. Khai thị tạo ra đạo ngôn ngữ, kiến lập pháp tổng trì âm thanh, dùng trí quan sát đây là thường, đây là đoạn thì đó là phân biệt hai. Chúng sinh, thọ mạng, dưỡng dục người, trượng phu, tạo sự sai khiến, tạo tư tưởng, kiến lập y trì (nương giữ) thì đó là phân biệt hai. Sở hữu đây đó, kiến lập trù lượng, chẳng kiến lập trù lượng (liệu tính đo lường) thì đó là phân biệt hai. Nếu dùng trí Nhất thiết trí quan sát ba đời mà tìm việc làm của ta, tập họp nghiệp đã làm, thủ lấy, kiến lập đó đây thì đó là phân biệt hai. Nếu người đem phân biệt có hai tướng thì chẳng thể được Nhất thiết trí vậy. Này thiện nam tử! Như lạnh thì tìm lửa mà ngược lại thì lấy đất, như khát cầu uống mà ngược lại thủ lấy lửa, như đói cầu ăn mà ngược lại thủ lấy đá, như trang sức cầu hoa mà ngược lại chọn lấy áo, như xông tẩm cầu hương thơm mà ngược lại chọn lấy thây chết, như hành cầu áo mà ngược lại chọn lấy bẩn, như xoa cầu hương mà ngược lại chọn lấy rỗng không... Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Nếu hành chấp trước quan sát thì đó là thân chọn lấy kiến lập hai tướng. Người cầu Nhất thiết trí là kẻ ném bỏ tinh tấn, không đạo, không quả.
Lúc bấy giờ, trong chúng có một vị Bồ tát tên là Trì Trí, đứng dậy, ở trước đức Thế Tôn, cúi mình, chắp tay nói lên rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Nếu pháp chẳng nói thì đó chẳng thể được Bồ đề!
Ðức Phật dạy rằng:
- Nay ông phải biết rằng, không được Bồ đề, cũng không Bồ đề có thể nói! Này thiện nam tử! Hãy lắng nghe cho kỹ! Ông hỏi như vậy là đúng như sự ưa thích của ông. Theo ý ông nói thì hoặc vật sở hữu, hoặc Nhất thiết trí có tỉnh, có tướng, có danh tự sao?
Bồ tát Trì Trí bạch đức Phật rằng:
- Chẳng phải vậy, thưa đức Thế Tôn! Nếu có lời nói thì liền rơi vào thường kiến. Nếu không lời nói thì liền rơi vào đoạn kiến. Thậm chí trung đạo cũng chẳng thể được, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng thủ lấy, chẳng chấp trước, chẳng sinh, chẳng hoại, quá Atăngkỳ chẳng thể lường, chẳng thể tính, không tối, không sáng... Nếu quan sát được như vậy thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Ðiển Tuệ bạch rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Không lai, không khứ, giỏi biết như vậy, giỏi vào như vậy thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Tỳ Lư Giá Na bạch rằng:
- Ðúng vậy! Thưa đức Thế Tôn! Pháp là tướng chẳng đến, là tướng chẳng phải chẳng đến, chẳng phải được thời, chẳng phải chẳng được thời, chẳng phải làm chứng, chẳng phải chẳng làm chứng, chẳng phải diệt, chẳng phải bất diệt, chẳng phải ba đời, chẳng phải chẳng ba đời, chẳng phải ba thừa, chẳng phải chẳng ba thừa, cũng chẳng phải hành nguyện tập hợp xưng lường có thể được... Người biết như vậy thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Ðịa Tuệ bạch rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp chẳng phải ba cõi, chẳng phải ba kết, chẳng phải ba minh, chẳng phải ba thừa, chẳng phải ấm, giới, nhập, chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt, chẳng phải giảm, chẳng phải tăng, không có tập hợp... Biết như vậy rồi mới được Bồ đề.
Bồ tát Kim Cương Tuệ bạch rằng:
- Pháp phàm phu, pháp thánh nhân, pháp học, pháp vô học, pháp Thanh văn, pháp Bích Chi Phật chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt, cũng chẳng phải việc có thể biết của sự tập hợp xưng lường... Biết như vậy thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Kiên Tuệ nói rằng:
- Như Như tịch tịnh, Như Như quán sát chẳng xả, chẳng trụ thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Bảo Thủ (tay) nói rằng:
- Nếu tất cả pháp chẳng sinh, chẳng đến, chẳng lúc, không tướng phân biệt thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Bất Tư Nghị Tuệ nói rằng:
- Nếu đem tâm quan sát ba cõi cho vào tại tâm thì đó gọi là nhị tâm. Hai tâm như vậy quan sát chẳng thể được. Do không sở đắc nên mới được Bồ đề.
Bồ tát Thoái Oán nói rằng:
- Nếu tất cả pháp không trước (chấp) không tham, không xả, không ngại, không nguyện, không si, không nắm, không buông thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Liên Hoa Tạng nói rằng:
- Nếu tội tính phước bình đẳng vào pháp như vậy, thâm nhẫn, chẳng chấp trước ngã và sở tác của ngã, chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt. Người quan sát như vậy mới được Bồ đề.
Bồ tát Nguyệt Quang nói rằng:
- Nếu quan sát tất cả pháp tụ tan tùy duyên không có tự tính giống như trăng đáy nước. Hiểu như vậy rồi mới được Bồ đề.
Bồ tát Hư Không Tuệ nói rằng:
- Nếu tất cả các pháp có tối, có sáng, có sinh, có diệt, có tăng, có giảm chẳng ở các pháp số của tâm mà khởi lên phân biệt. Người biết như vậy mới được Bồ đề.
Bồ tát Vô Tận Tuệ nói rằng:
- Nếu tu tập ba luân thanh tịnh Ba la mật (?) tương ứng chẳng thể được, chẳng nhiễm, chẳng phải chẳng nhiễm thì người tu như vậy mới được Bồ đề.
Bồ tát Di Lặc nói rằng:
- Nếu chẳng duyên, chẳng thọ y chỉ ba cõi, y chỉ phạm trụ thì mới được Bồ đề.
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nói rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Nếu hiểu sâu một pháp môn thì đối với tất cả páp chẳng nhiễm, chẳng phải chẳng nhiễm. Một pháp đó là vô ngã. Rõ một pháp đó chẳng giác, chẳng quán, không có tương lai, cũng không quá khứ, cũng không có thể tụ, có thể tan, có thể sáng, có thể tối, có thể sinh, có thể diệt, có thể tăng, có thể giảm, có thể giải thoát thì chẳng nên nhiễm bẩn, không phân biệt. Dùng một pháp môn, trí Nhất thiết trí mới được Bồ đề.
Bồ tát Hoại Ái Lạc nói rằng:
- Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Như vậy một pháp môn trí Nhất thiết trí đều vào chỗ trống rỗng của pháp thậm thâm thì vì sao ý có sở tác và phương tiện tu hành?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:
- Lìa bỏ ác kiến, tu hành chánh kiến, chẳng dối đặt để, bỏ lòng dua nịnh quanh co, tu hạnh chất trực, chẳng dối đặt để. Lìa bỏ mười ác, kính trọng Tam Bảo, chẳng dối đặt để. Khéo nói, chẳng dối đặt để. Chánh mạng, chẳng dối đặt để. Bỏ tất cả kết, chẳng dối đặt để. Ðại bi bình đẳng, chẳng bỏ tất cả chúng sinh, chẳng dối đặt để. Ba hộ chẳng dối đặt để. Không lừa gạt pháp, chẳng dối đặt để. Chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng dối đặt để. Hộ trì chánh pháp chẳng dối đặt để. Bỏ tất cả sở hữu, chẳng dối đặt để. Chúng sinh thiếu lực thường làm kiến trợ, chẳng dối đặt để. Người sợ sệt được nương về, chẳng dối đặt để. Người chẳng phải đạo thì chỉ vẽ chánh đạo, chẳng dối đặt để. Nhẫn nhục nhu hòa, chẳng dối đặt để. Chẳng chắp trước tất cả tướng, chẳng dối đặt để. Lìa bỏ tất cả trần cấu, ấm tối, chẳng dối đặt để. Lìa bỏ tất cả quả báo hồi hướng, chẳng dối đặt để. Thưa thiện nam tử! Hai mươi thứ phương tiện này có thể được trí Nhất thiết trí. Văn tự, âm thanh, ngôn ngữ, cú nghĩa sở hữu sai khác, tất cả đều tên như vậy nhập vào phương tiện của trí Nhất thiết trí. Tất cả lời nói của đức Như Lai và lời nói của các ngoại đạo khác, tất cả lấy, bỏ, sinh, diệt cho đến có thể biết tất cả ba giải thoát, y chỉ pháp nhân duyên nghiệp hành đều vào với Như. Ngài phải biết, đó đều là phương tiện giác trí của Nhất thiết trí vậy!
Hoại Ái Lạc Bồ tát nói rằng:
- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu hiểu được pháp môn thậm thâm thì không một pháp có thể thấy, cũng không pháp sở thuyết và cả người nói pháp... cho đến văn tự cú nghĩa đều nên bỏ hết. Hoặc tu hành, hoặc nhận biết không có tương ứng, tất cả nhập (vào) như vậy gọi là trí giác trí.
Ðức Phật dạy rằng:
- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông có thể giỏi nói một pháp môn này, do trí Nhất thiết trí mới được pháp đó. Sao gọi là tất cả pháp chẳng dối đặt để? Ðó là cõi chẳng sinh, chẳng hoại, chẳng dối đặt để. Cõi sinh tử, Niết bàn chẳng dối đặt để. Cõi hư không Niết bàn chẳng dối đặt để. Cõi không sinh, không nói... cho đến tất cả các pháp cũng lại như vậy. Chỉ vẽ tất cả chúng sinh, tất cả pháp không thật tế. Chỉ vẽ tất cả vật chấp trước, tất cả ấm, giới, nhập.v.v... của ba cõi cả ba đời không thật tế sở hữu. Vào ba hạnh không tế. Vào pháp ấm, báo ấm, tụ tán ấm không thật tế. Vào không, vào chân tế. Ðầy đủ tất cả không nói pháp nghĩa. Ðó gọi là Ðại Bồ tát vào trí Nhất thiết trí. Bồ tát lại do trí Nhất thiết trí mà được thọ ký.
Khi nói pháp đó, các kỹ nữ của Ma và con của ma vương cùng quyến thuộc gồm hai vạn, nghe lời nói của đức Phật đều cùng lúc được pháp nhẫn Vô sinh, đều bỏ nghiệp thô ác sở hữu của thân ý, được tự tính sanh thân. Lại có hai vạn tám ngàn chúng sinh được pháp nhẫn Vô sinh. Chín mươi hai vạn trời, người được đủ thứ Tam ma đề, Ðà la ni, Vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát.
Lúc bấy giờ, các Ðại Bồ tát được pháp nhẫn Vô sinh.v.v... mưa xuống mọi thứ hoa trời, tung lên trên đức Phật, dập dìu mà rơi giống như trời mưa xuống. Các vị Bồ tát ấy đầu mặt sát đất, đảnh lễ dưới chân đức Phật, nói lên như vầy:
- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con nếu gặp bạn ác chẳng lành, cùng với ác hòa hợp, tự tại làm ác thì đối với tất cả chúng sinh, tất cả sự gom tụ thiện căn công đức nhất định chẳng thể khởi một ý niệm thiện căn.
Ðức Phật dạy rằng:
- Này thiện nam tử! Ông ở vô lượng ức kiếp trong quá khứ đã gần gũi cúng dường vô số các đức Phật. Do nghiệp duyên này nên hôm nay ông sinh tâm yêu thích, trở lại được gặp Phật. Ta nay vì đoạn dứt sự nghi hoặc của chúng sinh nên sẽ vì ông nói về nhân duyên đời trước. Này thiện nam tử! Trở về quá khứ, vô lượng vô số Atăngkỳ kiếp, có kiếp tên là Cụ Túc Ðại Thế (lực), cõi Diêm phù đề này có vị vua Chuyển Luân tên là Ưu Bát La Hoa, được lực tự tại, thống lĩnh bốn thiên hạ. Vua và thần dân đều sống lâu sáu muôn tám ngàn tuổi. Ðời có đức Phật hiệu là Nguyệt Quang Minh Hương Thắng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Chúng sinh nước đó tuy ở đời ngũ trược nhưng do tu thiện nên chẳng nhiễm pháp dục. Bấy giờ, đức Phật đó thường vì tứ chúng tuyên nói pháp tương ứng với ba thừa. Vua Ưu Bát La nghiêm chỉnh bốn binh chủng, cùng phu nhân của mình và quyến thuộc ở hậu cung đi đến chỗ đức Phật Nguyệt Quang Minh đó. Ðến rồi, họ đảnh lễ dưới chân đức Phật, tung lên đủ loại hoa, đốt lên đủ thứ hương thơm, tấu lên mọi thứ kỹ nhạc... cúng dường đức Phật xong, nhiễu quanh đức Phật ba vòng. Ðồng thời họ lại đảnh lễ dưới chân Tỳ kheo tăng, dùng hai bài kệ này khen hỏi đức Phật đó rằng:
Trời rồng ngưỡng vọng công đức lớn
Lỗi hoạn đoạn mãi, Vô Thượng Tôn
Dùng bảy của pháp lợi cõi thế
Nguyện nói những gì diệu tuệ thành?
Làm đèn Ðại từ diệt thế ám (tối tăm)
Hàng phục nỗi lo chết, già, sinh
Che chở người trời ba đường ác
Nói pháp gì đương ma thoát nhanh?
Này thiện nam tử! - Ðức Phật Thích Ca nói - Bấy giờ, đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng bảo vua Ưu Bát La rằng: “Này đại vương! Ðầy đủ ba pháp có thể được trí tuệ vi diệu của Bồ tát. Những gì là ba? - Một là Ðại bi như mẹ có thể làm chỗ y chỉ cực cùng cho tất cả chúng sinh. Hai là tinh cần chẳng dứt có thể diệt trừ khổ não của tất cả chúng sinh. Ba là bình đẳng quan sát tất cả các pháp không mạng, không nuôi dưỡng, không người, không đủ thứ tướng. Này đại vương! Ðó gọi là đầy đủ ba pháp có thể được trí tuệ vi diệu của Bồ tát.
Này đại vương! Lại có đầy đủ ba pháp có thể khiến cho chẳng bị ma quyến rủ. Những gì là ba? Một là đối với tất cả chúng sinh được sự chẳng nổi sân, chẳng tìm lỗi lầm. Hai là bình đẳng quan sát tất cả chúng sinh, tạo tác tư tưởng phước điền. Ba là có thể được tất cả pháp, tác khởi quán một pháp. Ðó là hư không bình đẳng tất cả pháp, không tác, không đủ thứ, không sinh, không khởi, không diệt, tất cả rỗng không như thật tướng, lìa pháp quán chẳng thể tương ưng. Này đại vương! Ðó gọi là ba pháp khiến cho thiện nam tử chẳng bị ma quyến rủ, mãi thoát đươc đường ma”. Ðệ nhất phu nhân của vua Ưu Bát La tên là Thiên Tôn Ðà Lợi cùng cung nhân thể nữ của bà gồm tám muôn bốn ngàn người vây quanh trước sau kéo đến chỗ đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó. Ðến rồi, họ đem đủ loại hoa tung lên trên đức Phật đó, đảnh lễ dưới chân đức Phật, dùng kệ khen rằng:
Phiền não ngăn che đã hết mãi
Công đức không sánh Giải Thoát Tôn
Làm sao dạy con chuyển thân nữ?
Khiến con đầy đủ tướng nam nhân.
Mau chóng xa lìa các đường ác
Với pháp tự tại điều nhu lòng
Thầy trời người, Thiện Thệ tối thượng
Hay ban lợi đệ nhất thế gian
Như nhờ Thế Tôn bỏ thân nữ
Sẽ được tịch diệt lạc vui mừng
Trượng phu này, làm sao mau nói?
Tự điều, điều lợi ích tha nhân.
Con được ra khỏi hầm ân ái
Tối đệ nhất vô đẳng thế gian
Niệm trì rộng đại công đức tụ
Hay mau điều phục các quần sinh.
Nay con ở đây ắt thủ chuyển (chọn lấy chuyển đổi)
Nguyện mở đường cam lộ cho nhanh!
Lúc bấy giờ, đức Như Lai Thích Ca nói lời như vầy:
- Này thiện nam tử! Ðức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó bảo đệ nhất phu nhân của vua Ưu Bát La, Tôn Ðà Lợi rằng: “Phu nhân có trí phương tiện phải nương theo tu tập để mau chuyển thân nữ đời trước cho đến Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, rốt ráo Niết bàn, lại chẳng thọ thân nữ một lần nữa, trừ khi tự phát nguyện. Này phu nhân! Nương vào phương tiện nào để sự gieo trồng nghiệp nữ của vô lượng đời trước mau diệt hết không còn? Này phu nhân! Có Bảo Tinh Ðà la ni kiến lập việc lớn, đủ công đức lớn có thể ủng hộ lớn, giỏi diệt thân nữ, ba nghiệp, ác hạnh, tất cả khổ báo... khiến cho chúng không có còn. Nếu có nữ nhân nghe Bảo Tinh Ðà la ni này mà chí tâm tụng niệm thì khi hết hình dáng nữ này, đời sau sẽ được làm đấng trượng phu đoan chánh, tất cả thân phận đều đủ đầy, đủ hạnh chất trực, có biện tài lớn, nghiệp thiện của thân, miệng, ý hòa thuận nhau, có thể khiến cho tất cả oán hiềm (hiềm khích) đều lui tan (thoái tán). Nếu có đủ thứ nghiệp ác của thân miệng mà hiện tại, tương lai ứng thọ khổ báo nhưng nhờ sức uy thần nghe Bảo Tinh Ðà la ni nên ác nghiệp đã làm, ngay hiện thế bị tiêu diệt không còn sót lại. Ngay cả người làm tội ngũ nghịch, bài báng hủy hoại chánh pháp, hủy báng thánh nhân nhờ sức uy đức nghe Kinh đó nên đến lúc thân ấy tận liền xả mạng, những tội như vậy cũng đều diệt theo, rốt ráo không còn. Nếu có nữ nhân mà thân miệng đã tạo nghiệp ác, quả báo lường bằng núi Tu Di, đời sau nhất định chịu mọi nỗi khổ nhiều không lường. Ðủ thứ khổ báo, đủ thứ nghiệp chướng, những hạt giống dư báo như vậy, nhờ sức nghe Kinh mà tận diệt không còn. Sở dĩ vì sao? Vì do tất cả các đức Phật A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà nói Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này mà nếu ai thọ trì đọc tụng, hiền tiền tán thán xưng dương thì khổ báo sở hữu của các chúng sinh đó nhờ lực của Kinh đều diệt hết, thiện căn sở tác của họ theo thời gian mà tăng trưởng. Nếu các cõi trong mười phương, các đức Phật A-la-ha-tam-miệu-tam Phật đà hiện tại vì chúng sinh ở từng địa phương, nói Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này mà chúng sinh nghe hoan hỷ yêu thích thì tội chướng của họ không gì chẳng tiêu diệt, thiện căn sở tác của họ đều khiến cho tăng trưởng. Nếu các cõi trong mười phương vào đời đương lai, nơi tất cả các đức Phật nói Kinh đó, có người thậm chí chỉ trong một niệm sinh lòng hoan hỷ, thì các chúng sinh đó đều được hết khổ và tăng trưởng thiện căn. Ta hôm nay cũng nói Kinh này, nếu có người nghe đều sẽ tùy hỷ. Chỗ các đức Phật Thế Tôn hiện tại trong mười phương nói Kinh đó cũng sẽ xưng dường, sẽ cùng hoan hỷ. Này phu nhân! Nếu có vua Sát lợi thọ dấu ấn màu đen (mặc ấn) đến đất nước khác mà được Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này, chép ra, trì giữ, yêu thích thì nhờ lực của Kinh nên vua Sát Lợi đó uy đức cao xa, có danh xưng lớn đầy khắp mười phương vô lượng đất nước, thậm chí tất cả chư thiên của Dục giới và Sắc giới cũng nghe tiếng đức của vua ấy. Tất cả trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà.v.v... vô lượng câu chỉ nadotha trăm ngàn vạn ức những vua dòng Sát lợi... thường theo vua ấy cùng ủng hộ. Tất cả cuộc chiến tranh, đói kém, oán địch, phương khác, gió, mưa, lạnh nóng, dịch bệnh, lỗi hoạn... sở hữu của đất nước vị vua đó đều được trừ diệt. Tất cả ác quỉ, dạ xoa, la sát, sư tử, voi, chó sói... đều phát sinh từ tâm, tuy ở tại nước ấy chẳng bị tổn hại. Ðất nước của vua ấy cũng không có tất cả sự thô nhám, vị đắng, ác xúc, đau đớn... không thứ gì chẳng bị tiêu diệt. Tất cả của cải báu vật, ngũ cốc, quả trái, dược thảo, hoa lá... thèm nhiều vị ngon đều được tăng trưởng. Nếu vua Sát lợi thọ ấn muốn cùng vua Sát lợi khác của địch quốc chiến đấu thì nên treo Kinh này đặt trên đầu tràng. Nhờ lực của Kinh nên binh chủng sở hữu của vua oán địch kia tự nhiên lui tan. Nếu hai vua Sát lợi thọ ấn trời, khi giao chiến đều treo Kinh đó đặt trên hai đầu tràng (phan) thì nhờ uy lực của Kinh mà hai vị vua đó liền kính yêu nhau, cùng chung hòa hảo với nhau. Như vậy thành tựu vô lượng công đức, lợi ích an lạc tất cả vua người chính là chỗ có Kinh Bảo Tinh Ðà la ni. Hoặc thành ấp, tụ lạc hoặc người chẳng phải người, loài bốn chân, loài nhiều chân, các loài trùng ác độc... không có thể khiến cho chúng nghe Kinh đó thì tật bệnh, chết yểu và não loạn. Nếu ở chỗ sở tại của Kinh điển đó thì nên phải hết lòng thiết lễ đại cúng dường, nên dùng đồ cúng dường phụng nghinh Kinh này, cũng đem quyển Kinh đặt trên tòa sư tử. Người đọc Kinh đó và người nghe Kinh nên phải chí tâm, tắm rửa thanh tịnh, dầu thơm xoa thân, mặc áo mới sạch, thọ trì phạm hạnh, tung hoa đủ sắc, đốt mọi thứ hương thơm danh tiếng, đủ thứ vị ngon, cung kính, vây quanh, cúng dường Kinh đó. Người đó nếu có tất cả tai ách bệnh khổ, chết yểu và những tướng ác kinh sợ thì do lực của Kinh nên đều tiêu diệt biến mất. Nếu có nữ nhân vì cầu con trai con gái đều nên tắm gội, mặc áo mới sạch, tu tập phạm hạnh, đốt hương, tung hoa, cung kính cúng dường Kinh điển vi diệu đó thì liền sinh được con trai con gái phước đức trí tuệ. Như vậy nữ nhân tuy chẳng vì mình mà nhờ uy của Kinh lập lại lực huân tu nên sau khi xả thân cho đến được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác và được Niết bàn, rốt cùng chẳng thọ thân nữ nữa, ngoại trừ tự phát nguyện để thành thục chúng sinh. Này phu nhân! Theo nghe một bài kệ, một câu, một tiếng Kinh của Kinh này... thậm chí chim bay, thú chạy nghe Kinh này cũng lại như vậy, đều được bỏ thân súc sinh kia, cũng khiến cho tất cả mau được chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Này thiện nam tử! Khi đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đời quá khứ kia nói Kinh đó, ngài liền dùng ngón chân cái của bàn chân phải chạm vào đất thế giới này sáu thứ chấn động.
Ðức Như Lai Thích Ca Mâu Ni, hôm nay nói Kinh này cũng lại như vậy. Do thần lực của Phật mà sơn hà đại địa của cõi Phật này, sáu thứ chấn động. Mười phương, atăngkỳ vô lượng trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Bệ lệ đa, Tỳ xá già, Cưu bàn trà, người, chẳng phải người... đều sinh nghi hoặc, quái lạ, tất cả cõi Phật ánh sáng lớn cùng khắp, đất bằng như bàn tay, núi Tu Di, núi Luân vi, núi Ðại Luân Vi, rừng cây, tường vách đều biến mất. Ðang khi chấn động, các trời, rồng, dạ xoa... đó trước đều nghi hoặc, quái lạ, sau nhờ sự gia bị của thần lực Như Lai nên các trời, rồng.v.v... bốn phương trông về xem, cách một đường tên, liền thấy đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni, mỗi mỗi đều kinh ngạc vui mừng, phát sinh lòng hy hữu, nhất thời chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni nói lên như vầy:
- Này thiện nam tử! Khi đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đời quá khứ nói Kinh đó, lấy chân chạm đất, sáu thứ chấn động mà cõi Phật này bằng phẳng như mặt nước, tất cả trời, người đều sinh lòng nghi hoặc, quái lạ, từ bốn phương trông về xem, cách một đường tên, liền thấy đức Như Lai Phật Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó. Thấy rồi, họ chắp tay sanh lòng hy hữu. Này thiện nam tử! Ðức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó liền ở trong đại chúng trời, rồng, vì chúng sinh nói bài chú Bảo Tinh Ðà la ni này rằng:
Ðát điệt tha (1) Xà lô kế (2) Xà lô ca mộ kế (3) Xà lê xà la xà lê nhỉ (4) Xà La Bà La Ðế (5) Xa tứ lợi (6) Ba la bố lâu sa la xoa na ta ma lũ tứ gia (7) A ma mê (8) A ma mê (9) Bà ma mê (10) Bà ma mê (11) Na bà mê (12) Ma ha mê (13) Xà ha mê (14) Xà ha mê (15) Khư bà la mê (16) Bà la tỳ (17) Bà bà tỳ (18) Bà ha tỳ (19) Bàng già tỳ (20) Bà xa tỳ (21) (Nguyên bản thiếu ba câu) A la xà hử ly (25) Thiền đô mộc khê (26) Ba ha la (27) Ba ha la (28) Tất đà bối la đế (29) Ðàn địa la (30) Ðàn địa la (31) Ðàn địa đà la (32) Tô lợi gia tỳ ha khư (33) Chiên bạt la tỳ ha khư(34) Chiết sô thù đế ta (35) Tỳ ha khư (36) Tát bà a xoa gia (37) Tất đế lị đỏa tô là tỳ ha khư (38) Xà khư già (39) Xa khư già (40) Tô la khư già (41) Tỳ ha ma (42) A ba lơi khư (43) A một lị khư (44) A một lị khư (45) A một lị khư (46) A một lị khư (47) A một lị khư (48) A một lị khư (49) A một lị khư (50) A một lị khư (51) Một lị khư (52) Một lị khư (53) Một lị khư (54) Tỳ bà hề đà yết ma (55) Ðộ nê độ nê (56) Ô ba đà tỳ gia hề đà (57) Nhược na ngật lị đa (58) A nộp ba đà khư già lệ nao ca (59) Ương quật lệ (60) Bàng quật lệ (61) Tỳ bạc câu lệ (62) Câu la ha (63) Nhơn đà la bát lị bà ha (64) Tỳ bà hề đà yết bà (65) Giá bà la đế (66) Giá bà la đế (67) A mộ ha đạt lị xá nô (68) Bát lị bạt đa bà sa đốt ma (69) Ngật lị ma thù đế (70) Khư già lị xà hử (71) Xà ha (72) Thù đế (73) Nhỉ sắt ca (74) Tỳ la ta (75) Tỳ la ta (76) Tỳ la ta (77) Tỳ la ta (78) Tỳ la xà ma để lị la ma bà bà (79) Ngật lị ba (80) Ma ha ngật lị ba (81) Hử lệ (82) Hử hử lệ (83) A lũ nả bà la đế (84) Tam ma gia nhỉ sắt kế (85) Ðà ma đà na (86) Hí địa dạ na (87) A ba la một lị thế (88) Pha la quân trà la bạc khê (89) Nhĩ hạt lị đa nhất tất đế lị bà bà (90) Yết ma xoa gia bát la đột bà bà (91) Bố lũ sa đỏa a tam ma tam ma (92) Tam ma gia tỳ địa xà nhã (93) Ðá tha già đa (94) Ta ba ha (95).
Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai nói Bảo Tinh Ðà la ni này rồi thì vào lúc không gián đoạn mà đại địa này lại chấn động nữa. Năm trăm kỹ nữ của ma vương kia do nghe Bảo Tinh Ðà la ni nên liền chuyển hình dáng nữ thành đủ tướng trượng phu và vô lượng Atăngkỳ thiên nữ, long nữ, dạ xoa nữ, Càn thát bà nữ, a tu la nữ, Ca lâu la nữ, Khẩn na la nữ, Ma hầu la già nữ cho đến tất cả các con gái bệ lệ đa, tỳ xá già, cưu bàn trà.v.v... nghe Bảo Tinh Ðà la ni này cũng được chuyển hình dáng nữ thành đầy đủ tướng trượng phu, cũng khiến cho tất cả những thiện nam tử mau được chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thậm chí tất cả các nữ nhân vào đời đương lai sẽ thọ thân nữ, nhờ lực Kinh nên nghiệp đương lai liền diệt. Lúc ấy, tất cả nữ nhân đều cùng chắp tay, đầu mặt lễ dưới chân đức Thích Ca Như Lai, đồng thời lớn tiếng nói lên như vầy:
- Nam mô nam ma hy hữu có thể tạo lợi ích vô thượng! Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà! Nguyện xin đấng đại Bi rộng vì chúng con nói bổn sự này! Chúng con hôm nay vì sao hình tướng nữ nhân đều đã diệt hết, thân phận trượng phu thành tựu đủ đầy? Do sự chuyển biến hy hữu này mà thân sinh mừng vui. Con nay đã phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác! Nguyện xin đức Thế Tôn nói lên bổn sự này, khiến cho vô lượng trời người đều được đạo quả!
Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai một lần nữa bảo Hiền Thủ thiện nam tử rằng:
- Khi đức Nguyệt Quang Minh Hương Thắng Như Lai đời quá khứ vì phu nhân của vua Ưu Bát La là Thiên Tôn Ðà Lợi tuyên nói Bảo Tinh Ðà la ni thì Tôn Ðà Lợi cùng quyến thuộc thể nữ hậu cung của mình gồm tám muôn bốn ngàn người, tướng nữ nhân diệt đi và tướng trượng phu hiện lên. Vô lượng vô số Atăngkỳ các thiên nữ của trời, cho đến tất cả các nữ của... người và chẳng phải người.v.v... đều chuyển hình tướng nữ thành đầy đủ tướng nam tử và cả nghiệp thân nữ ứng thọ trong dời vị lai cũng diệt không còn.
Lúc bấy giờ, vua Ưu Bát La xả bỏ ngôi vị vua Chuyển Luân tự tại của mình, đem bốn thiên hạ ủy thác cho thái tử, rồi cùng với phu nhân Thiên Tôn Ðà Lợi trượng phu với một ngàn người con của mình cùng chung với tám muôn bốn ngàn trượng phu hậu cung của Thiên Tôn Ðà Lợi (Thiên ái) và chín vạn hai ngàn những thứ dân khác ở chỗ đức Phật Nguyệt Quang Minh Hương Thắng, tin nhà mình chẳng phải là nhà nên bỏ nhà xuất gia, cạo bỏ râu tóc mà mặc pháp phục. Ðã xuất gia rồi, họ dũng mãnh tinh tấn đọc tụng, thọ trì, ý ưa tịch tịnh. Lúc ấy, Vô lượng câu chỉ na do tha trăm ngàn chúng sinh đều phát sinh ý này: “Vì sao Chuyển Luân Thánh xuất gia vào đạo?”. Như kẻ chấp trước tà kiến thì đều chung nói với nhau lời như vầy: “Hương Thắng Như Lai này ân cần ưa ma nghiệp, biện giải huyễn hoặc dua nịnh, khi thành tựu chuyển nữ nhân căn thành trượng phu tướng, khi thì cạo bỏ râu tóc theo mặc nhiễm y (áo nhuộm thầy tu mặc), hoặc vì người sinh lên trời nên nói việc sinh lên trời, hoặc vì người sinh trong loài người nên nói việc trong loài người, hoặc vì loài sinh trong súc sinh nên nói việc súc sinh, hoặc vì loài sinh trong ngạ quỉ mà nói việc ngạ quỉ, hoặc vì loài sinh trong địa ngục mà nói việc địa ngục, hoặc nói pháp chẳng sinh chẳng diệt, hoặc huyễn hóa tạo tác thân nữ nhân... ân cần ưa ma nghiệp đủ việc như trên. Ông Nguyệt Quang Minh đó tạo tác hình dạng Sa môn, ta nay quyết định lìa khỏi chỗ ở này, chẳng chịu nhìn thấy hình tướng Sa môn đó, cũng chẳng muốn nghe lời nói ông ấy nói ra”. Trong chúng đó có người bề tôi tên là Cưu Ma La, lòng sinh nghi hoặc điên đảo, hướng về người của nước đó nói lên rằng: “Thê thiếp, thị nữ sở hữu của chúng ta đều bị sự huyễn hóa của ông Sa môn thay đổi hình tướng nữ tạo thành tố chất trượng phu, biến hóa tất cả cạo tóc, nhuộm áo. Chỉ còn một mình thân ta ôm lòng lo lắng mà được thoát. Nay ta phải vào núi sâu, hang hiểm, chỗ không người như người tiên (tiên nhân) đi tránh yêu thuật huyễn hóa. Các ông, tất cả cùng chung với ta hòa hợp nên theo nhau mà đi, cẩn thận chớ vào sự trói buộc ma của ông Sa môn đó. Ông Sa môn huyễn hoặc hèn hạ, ta nay chẳng muốn nghe âm thanh của ông ấy, huống gì là mắt nhìn thấy!” Trong số thần dân đó, kẻ chưa đắc tâm nghe lời nói ấy, tất cả đều vui mừng. Người bề tôi Cưu Ma La khi nói lời nói đó thì vô lượng câu chỉ trăm ngàn chúng sinh đều rơi vào lưới tà kiến. Ông ấy lại vì chúng sinh tuyên nói tà pháp: “Không có sinh tử cũng không có giải thoát. Làm thiện, làm ác đời sau cũng không có các nghiệp quả báo. Ông Sa môn lừa dối này ân cần làm nghiệp ma. Nếu đến diện kiến ông ấy hoặc lễ bái ông ấy, hoặc nghe pháp ông ấy thì lòng người rối loạn mê hoặc chỉ muốn cạo tóc bỏ nhà, ra bãi tha ma tu hành, ngày chỉ ăn một bữa, đi xin tự nuôi thân, ưa chỗ tịch tịnh, vào phòng ít nói, thường chán năm dục, kỹ nhạc, ca múa, lìa bỏ vòng hoa cài tóc, hương xoa, hương tán và đồ dùng nghiêm sức thân, cũng chẳng ưa đủ thứ hoa trang sức và việc say rượu, hôn nhân dâm dục thỏa tình. Ông Sa môn đó ân cần ưa tuyên nói hành đạo trói buộc của ma tức là oán gia của tất cả chúng sinh. Ta vốn chẳng thấy, chẳng nghe việc làm của ông Sa môn khiến cho vô lượng câu chỉ trăm ngàn chúng sinh thấy tướng như vậy. Từ thuở xa xưa đến nay ta cũng chưa từng thấy ác kiến này”. Này thiện nam tử! Lại vào thời gian sau, đại Sa môn Ưu Bát La nghe nhân dân của nước mình chạy trốn vào hang núi, hoặc lại tự đi theo đường ác, lại dạy người khác khiến cho họ chấp trước ác kiến, hủy hoại Tam Bảo, bài báng chánh, làm theo tà. Nghe những việc đó rồi, ngài liền tự suy nghĩ: Nếu chúng sinh đó đều rơi vào ác kiến, chẳng được giải thoát, chẳng trụ chánh kiến thì chẳng có người đem lại lợi ích, chẳng ai an lập cho. Ta làm Sa môn, phải làm sao khiến cho những chúng sinh mù tối đó vào đời vị lai lìa khỏi đường ác, khử trừ bốn sự trói buộc của ma, người chưa giải thoát có thể khiến cho họ giải thoát... cho đến rốt ráo khiến cho họ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Bấy giờ, Ðại Sa môn Ưu Bát La nghĩ thế rồi, liền bạch với đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng rằng: “Hôm nay con vì chúng sinh nên phát đại dũng mãnh, hành Ðại Từ Bi!” Ngài Ưu Bát La liền cùng với vô lượng trăm ngàn chúng sinh vây quanh trước sau đi đến vùng biên địa đó. Nơi thành ấp, tụ lạc trống không, chỗ núi non hiểm trở, ngài Ưu Bát La vì các chúng sinh tuyên nói chánh pháp: “Nếu chúng sinh đó rơi vào ác kiến thì nay ta sẽ ngăn lại khiến cho họ vào chánh kiến... cho đến dạy bảo những kẻ ấy an trụ ở Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Có người, hoặc nguyện cầu Bích Chi Phật thừa, hoặc cầu Thanh văn thừa... thì ta hoặc an lập họ ở Thánh quả, hoặc khiến xuất gia, hoặc khuyên thọ thì Ưu bà tắc giới, hoặc bát trai giới, hoặc hành tam qui, hoặc vì an lập tất cả nữ nhân đủ hình tướng trượng phu, đoạn dứt nghiệp nữ căn mà nói chú Bảo Tinh Ðà la ni này. Cho đến vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh ở bên đức Như Lai từng phát sinh nghi hoặc, điên đảo, tất cả chấp trước ác kiến như vậy, ta sẽ ngăn lại, đoạn dứt, khiến cho phát lộ ra. Tạo tác sự dạy bảo đó rồi, ta đều khiến cho họ an lập ở Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đều ở chỗ đức Phật Nguyệt Quang Minh Hương Thắng cùng chung xuất gia, tịnh tu phạm hạnh”. Này thiện nam tử! Người bề tôi Cưu Ma La trước phát nguyện này: “Vì Ðại Sa môn đó có thể nói pháp huyễn hoặc phá đồ chúng của ta, dụ dỗ quyến thuộc của ta, ông vào đời vị lai khi sẽ được làm Phật thì ta trở lại tạo tác đủ thứ ma sự đối với ông. Như là khi bắt đầu ở trong thai, khi làm đồng tử, khi tuổi tráng thạnh vui chơi và xuất gia, khi ở dưới gốc cây ngồi đạo tràng... ta sẽ tạo đủ thứ phiền não rối loạn, đủ thứ phá hoại khiến cho ông thoái mất tâm Bồ đề”. Này thiện nam tử! Vị Ðại Sa môn cần khổ thêm bội phần, dũng mãnh tinh tấn du hành khắp bản quốc của mình, vào núi hiểm trở kia, bằng lời nói từ bi, lời nói êm ái, bằng mọi thứ thí dụ khai thông sự hiểu biết cho dân của mình. Những chúng sinh đó đều thấy đức vua cũ, nghe lời nói pháp của vua đều phát sinh vui mừng. Họ liền hồi tà tâm, đoạn ác kiến xưa, ở chỗ vị Sa môn cầu ai sám hối, đồng phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Người bề tôi Cưu Ma La và đồ chúng của hắn điều phục tà tâm, đều mang chánh tín, liền phát nguyện rằng: “Nếu Ðại Sa môn đủ đại bi thì đời tương lai, khi được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, nguyện xin ngài rũ lòng vì con trao cho ký Bồ đề”. Này thiện nam tử! Các ông muốn biết, vua Chuyển Luân Thánh Ưu Bát La thuở xưa là ai khác ư? Chính là thân ta hôm nay đó! Phu nhân Thiên Tôn Ðà Lợi của vua ấy thì nay là Bồ tát Di Lặc đó! Người bề tôi bài báng chánh pháp mang ác kiến Cưu Ma La thì hôm nay là ma vương đó! Vô lượng nadotha trăm ngàn chúng sinh nghe ta nói pháp cùng xả bỏ ác kiến, trụ ở đạo Tam thừa, đều được xuất gia và vô lượng nữ nhân nhờ lực của Kinh nên thành trượng phu lúc bấy giờ thành tựu hôm nay chính là các ông, bốn bộ đệ tử trong đại chúng đó vậy. Này thiện nam tử! Các ông hôm nay phải tín thọ lời nói của ta! Khi nghe bản sự của vua Ưu Bát La đời quá khứ chớ phát sinh nghi hoặc. Sở dĩ vì sao? Vì nhớ lại, kẻ bề tôi Cưu Ma La thuở xưa thấy quyến thuộc của hắn và vô lượng trăm ngàn chúng sinh kia đồng bỏ ma nghiệp, ở trong pháp của Phật xuất gia làm đạo, liền khởi nên ác niệm: “Nguyện đời đương lai ta cùng với binh chúng ma phá quyến thuộc của ông” trở lại đúng như ngày hôm nay. Này thiện nam tử! Các ông đã từng ở chỗ đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng phát sinh niềm tin bất tịnh, nói lời nói bất thiện, do quả báo ác kiến mê hãm (hãm hại) chúng sinh, nhân duyên gặp Phật mà được giải thoát. Do lực của một ý niệm tốt xuất gia nên từ đó đến nay được gần gũi vô lượng trăm ngàn các đức Phật cúng dường, cung cấp mà chẳng sinh lòng khó nhọc (cù lao), ở chỗ các đức Phật phát đại thệ nguyện lòng ưa nghe pháp... cho đến thường hành sáu Ba la mật. Các ông từ xưa đến nay do việc làm nghiệp ác của thân miệng ý nên trải qua vô lượng kiếp thường ở ba đường, gia thêm các khổ não, nghiệp chướng đã dẫn dắt sinh vào trong ma đạo, nhân ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, nói Bảo Tinh Ðà la ni này mà năm trăm kỹ nữ trong ma chúng đó liền chuyển thân nữ, đồng thời đều được Vô sinh pháp nhẫn. Vô lượng vô số nadotha trăm ngàn chúng sinh, tất cả đại chúng trời người của thế gian đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại có vô lượng vô số nadotha trăm ngàn chúng sinh đều dược Bất thoái Thanh văn Bích Chi Phật thừa.
KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
BÀI CHÚ NÀY CHÉP THÊM ÐỂ ÐỐI CHIẾU HIỆU ÐÍNH VỚI BÀI CHÚ DỊCH Ở TRÊN: (Bài chú này trong bản Kinh Bảo Tinh Ðà la ni của Minh Tạng)
Ða địa dã tha xà lô kế (1) Xà lô ca mộc kế (2) Xà lê xà la (3) Xà lê nhỉ (4) Xa la bà la đế (5) Xà hử lợi (6) Bà la bố lâu sa la xoa na bà ma lũ hử tà (7) A ma mê a ma mê (8) Bà ma mê bà ma mê (9) Na bà mê (10) Na ha mê (11) Xà ha mê (12) Xà ha mê khư bà la mê (13) Bà la mê (14) Bà la mê (15) Bà la mê (16) Bà bà tỳ (17) Bà ha tỳ (18) Bàng già tỳ (19) Bà xà tỳ (20) Bà la đa bà lợi si (21) Xà ha mê khư (22) Bà la tỳ (23) A la xà hử li (24) Thiền đổ li (25) Tổ đổ mẫu khê (26) Bà ha la (27) Bà ha la (28) Mê đà bột la đế (29) Ðàn địa la (30) Ðàn địa đà la (31) Tô lợi gia tỳ ha khư (32) Chiên đạt la tỳ ha khư (33) Chước sô thù để sa tỳ ha khư (34) Tát bà xoa gia (35) Tất để lý đỏa tô la (36) Tỳ ha khư (37) Xà khư già (38) Xà khư già (39) Tô khư già (40) Tỳ ha ma (41) A một lý khư (42) A một lý khư (43) A một lý khư (44) A một lý khư (45) A một lý khư (46) A một lý khư (47) A một lý khư (48) A một lý khư (49) A một lý khư (50) Một lý khư một lý khư một lý khư (51) Tỳ bà xỉ đà yết ma (52) Ðộ nê độ nê (53) Uất ba đà tỳ gia xỉ đà (54) Nhã na ngật lý sỉ (55) A nột sĩ ba đà (56) Khư già li nữu ca (57) Ương cữu lệ (58) Bằng cù lệ (59) Tỳ bạc câu lệ (60) Câu la ha (61) Nhơn đà la bát lý bà ha (62) Tỳ dã bà xỉ đà yết bà (63) Già bà la để (64) Già bà la để (65) Già bà la để a mộ ha đạt lý xá nô (66) Bát lý bạt đa hà sa dã khư ma (67) Ngật lý ma thù để (68) Khư già lý xà hử (69) Xa ha thù để (70) Nhỉ sắt ca tỳ la ta (71) Tỳ la ta (72) Tỳ la ta tỳ la ta (73) Tỳ la xà (74) Ma để lý già la ma bà bà (75) Ngật lý bạt dã ma ha ngật lý bạt (76) Hử lệ hử hử lệ (77) A lũ nả bà la đế (78) Tam ma tà nhỉ sắt kế (79) Ðà ma đà na (80) Ðịa dạ na (81) A ba la một lý (82) Pha la quân trà la bạt khê (83) Nhỉ bạt đa tất để lý bà bà (84) Yết ma xoa gia bát la đột bà bà phủ lũ sa sỉ phạm (85) A tam ma tam ma (86) Tam ma gia tỳ địa xà nhã (87) Sỉ tha già đa (88) Ta bà ha (89).
- Quyển thứ hai - hết.
KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
Quyển thứ ba.
PHẨM THỨ BA: MA VƯƠNG QUI PHỤC
Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai khi nói Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này, phóng ra ánh sáng lớn soi khắp hàng trăm câu chỉ xứ bốn thiên hạ của thế giới Ta Bà này, hết thảy đều rất sáng. Ngay tức thời, hàng trăm câu chỉ xứ của cõi này, các ma cõi Dục, do lực của đức Phật nên đều khởi dậy kinh động, đều nhìn thấy nhân duyên của sự hiện ánh sáng này. Họ đều tác khởi ý niệm rằng: “Nhất định đây là việc làm của ác ma kia. Ðối với bốn thiên hạ ông ấy có uy đức lớn, ông ấy đối với chúng ta có sức đại tự tại nên hiện ra ánh sáng này”. Khi khởi lên ý niệm đó, chúng quan sát thấy ác ma ngồi trong nhà ưu não sinh ra lo hận cùng cực. Bấy giờ, hàng câu chỉ ma của cõi này đều bỏ cung ma kéo đến chỗ vua ác ma của bốn thiên hạ này, nói lên lời như vầy: “Ngài là chủ cõi Dục có lực đại tự tại, phóng ra ánh sáng này soi khắp tất cả mà lại vì nhân duyên gì ngồi trong nhà ưu não?” Ma vương liền đáp cho khắp các ma sở hữu của hàng trăm câu chỉ xứ rằng: “Các người nên biết rằng, đây chính là Sa môn xuất thân ở dòng họ Thích, một người dua nịnh huyễn hoặc số một, đã phóng ra ánh sáng này, soi đến thế giới, tất cả đều kinh động. Người minh tuệ có trong thế gian, các Phạm Thiên vương và các Long vương, Dạ xoa vương, A tu la vương, Ma hầu la già vương, Ca lâu la vương, Khẩn na la vương... cho đến những người, chẳng phải người còn lại ấy. Những bậc thông minh sáng suốt có trong số ấy, tất cả đều qui hướng cúng dường ông Thích Tử đó. Cho đến ông ấy trong sáu năm ngồi một mình không hai, thành tựu được lực huyễn lớn không tướng. Ta dùng sức mình thị hiện thần thông, nghiêm chỉnh xa giá, quân chúng ba mươi sáu câu chỉ người vây quanh giáp vòng, tất cả sức ma sử dụng cần lao lớn. Nhưng rốt cùng chẳng thể khiến cho thủ đà kia kinh sợ một sợi lông, huống gì lại có thể tạo ra chướng ngại khác, lay động pháp tòa của vị đó. Hôm nay Thủ đà này thành tựu pháp huyễn vô tướng như vậy, việc làm của ông ấy thị hiện lay động đại địa này đồng thời làm thoái lui quân của ta. Như cắt rễ cây đại thọ thì cành đều ngã, tất cả ma giới đều tối om còn ở chỗ ngồi ông ấy thành tựu ánh sáng lớn. Từ chỗ ngồi đứng dậy rồi, ông ấy vì các chúng sinh khai thị diễn nói. Những chúng sinh thông minh trí tuệ có trong bốn thiên hạ này cũng đều bị sự dẫn dắt của cái móc huyễn hóa đó. Ta cũng chẳng biết lòng của những người đó ở đâu? Về đâu? Khi nào chết? Sinh ở đâu? Nay sáu đường này đã qui y ông ấy. Ta còn chẳng có thể kinh động được một sợi lông, huống là lại có thể khiến cho động được tín tâm của họ. Năm trăm kỹ nữ vi diệu này của ta và hai vạn người con trai cùng các quyến thuộc đều qui y ông Sa môn Cù Ðàm đang ngồi ở trước đó. Ta, ngày hôm nay chẳng thể ngăn chặn chế ngự. Các ngươi, hôm nay, có sức, có phước, có trí tự tại phải giúp ta chặt đứt mạng sống của tên thủ đà la Thích tử đó. Như có chúng sinh qui y người đó thì đều khiến cho phá tan. Bè đảng đen tối của ông Sa môn dua nịnh huyễn hoặc đều khiến cho hàng phục phe đảng bạch tịnh ma chúng của chúng ta đều khiến cho minh hiển, từ đây về sau sẽ thọ lạc xúc.
Lúc bấy giờ, có ma tên là Quang Minh quan sát cõi Diêm phù này, thấy thân đức Như Lai ở trên pháp tọa, lại nghe Phạm âm mỹ diệu nói pháp. Thấy nghe như thế này rồi kinh sợ dựng tóc gáy, ma ấy hướng về Ma vương kia nói kệ như vầy:
Ở trong tất cả cõi
Sắc này thắng lạ thường
Công đức và trí tuệ
Lâu rồi thân sạch trong.
Giải thoát các phiền não
Lâu dài giỏi tương ưng
Giải thoát khỏi các hữu
Hết sạch mọi lo toan.
Ngài nay chớ sân giận
Tự tại đã chẳng dung
Chỗ này qui y tốt
Ba cõi số một nương.
Nếu ngài ở chỗ ấy
Dấy lên sát na sân
Do sự ngu si đó
Tự đắc vui hoại tan.
Lúc đó, trong chúng, lại có một ma tên là San Nhĩ Nhĩ Ca hướng về Ma vương kia nói kệ như vầy:
Lúc đại thần thông đó
Tướng công đức trên cùng
Tất cả không chỗ nương
Y ấy hướng giải thoát
Khổ hết không có còn
Hay nói đường khổ tận
Trăm ngàn ma không lường
Ðã chẳng thể não loạn.
Lúc đó Ma vương dùng kệ báo rằng:
Ta nay sở hữu người tự tại
Ðại tự tại đó đều qui tùng
Như vậy chẳng lâu cõi ta rỗng
Ta không thú xứ, được cũng không.
(Thú xứ: chỗ hướng về)
Lúc ấy, trong chúng lại có một ma tên là Tân Trần hướng về Ma vương đó nói kệ như vầy:
Thế lực số một ngài có trước
Sở tác ngài tự tại dũng cường
Ngài nay mất sức lại không thể
Nhất thiết trí không được sánh chung.
Bấy giờ, trong chúng lại có một ma tên là Ðao Nguyệt hướng về Ma vương nói kệ như vầy:
Từ bi chúng sinh không ý ác
Tự tại thanh tịnh không chỗ nương
Ba cõi giải thoát chỗ đi dạo
Không thể hại, không thú, không hành
(thú: nơi hướng đến)
Khi đó, Ma vương nói kệ báo rằng:
Chúng sinh sở hữu của cõi Dục
Ðắm các dục, say tình đảo điên
Với việc ta làm thường theo chuyển
Chẳng hại kia (Phật) sao ông đồng tình?
Bấy giờ, trong chúng, lại có một ma tên là Ðịa Thủy hướng về Ma vương kia nói kệ như vầy:
Các hữu như lửa huyễn chẳng bền
Hay biết các hữu đoạn các ái
Chẳng trước (chấp) các hữu như hư không
Sao với vị đó (Phật) hay bức (ép) não.
Lúc ấy, Ma vương nói kệ báo rằng:
Kia (Phật) tuy tự tại ở ba cõi
Ăn uống, áo mặc luôn tư dùng
Kia (Phật) đối ba thọ đã ưa trụ
Mà sao thần chết chẳng hại tan?
Bấy giờ, trong chúng lại có một ma tên là Xả Ái hướng về vua ma kia nói kệ như vầy:
Thần thông cảnh giới có sở hữu
Ác ma, dạ xoa và trời rồng...
Ðủ thứ não hại không chạm Phật
Cái chết làm sao hại Thế Tôn?
Khi ấy, Ma vương nói kệ báo rằng:
Chúng ta ngày xưa đoạn Phật thực
Mưa đá lớn ở trong hư không
Mạ lị không lường trăm thứ tiếng
Với kia ta muốn động chỗ nương.
Bấy giờ, trong chúng lại có một ma tên là Tri Nhãn hướng về Ma vương nói kệ như vầy:
Khi ngài đối Phật tạo não loạn
Vả có thấy chút sân giận chăng?
Thư thái nhìn ngài chẳng xịu mặt
Lời êm dỗ dành không ác thanh.
Lúc đó, Ma vương nói kệ báo rằng:
(Phật) Kia có trí tuệ hay thường nhẫn
Hay đoạn ái si các lỗi lầm
Từ tâm với tất cả sinh chúng
Tụ tập hạnh, không gì chẳng gom.
Bấy giờ, trong chúng có một ma tên là Nan Hàng Phục hướng về vua ma đó nói kệ như vầy:
Ba kết nếu người hay trói buộc
Chúng con nên não loạn đó liền
Chướng si buộc này Phật mới diệt
Cái chết làm sao não Thế Tôn.
Lúc đó Ma vương nói kệ báo rằng:
Các ông trợ ngã lực (giúp sức ta)
(bộ dạng) Trang thúc chớ buông lung
Ta biến đất làm nước
Nối bốn núi làm vòng (vòng hoa cài tóc: man)
Hư không mưa đá lớn
Gom cát sắt rải tung
Nguyệt tiễn cong, đao thép
Ném cho thân đó (Phật) tan (nát)
Phương tiện siêng như vậy
Tạo não loạn cực cùng
Các ông mà giúp đỡ
Thích tử thành tro tàn.
Lúc bấy giờ, các ma, mỗi mỗi đều nói kệ... cho đến hàng trăm câu chỉ các ma hiện có đã nói kệ hỏi đáp đều cũng như vậy.
Lúc ấy, tất cả các ma của chúng đó cùng lúc lên tiếng nói như vầy:
Như vậy, mỗi mỗi nên đi về cung của mình trang nghiêm giáp trụ (áo mũ đánh giặc), cùng các binh chúng đều trang bị giáp. Nếu sử dụng sức thần thông của chúng ta, tất cả cảnh giới bày ra khiến cho họ biết thì ông Sa môn Cù Ðàm tuy lại dõng mãnh nhưng há đương đầu được với mũi nhọn của quân chúng bọn ta.
Khi nói lời như vậy, trong khoảnh khắc một sát na, các ma sẳn có ở trăm câu chỉ xứ đều từ cung của mình giáp trụ trang nghiêm. Mỗi một quân ma gồm hàng ngàn câu chỉ chúng, mặc đủ thứ giáp, cầm đủ thứ binh khí, đều nghiêm chỉnh xa giá. Rồi nửa đêm, bọn họ xuống cõi Diêm phù đề, đến giữa nước Ma Già Ðà, đều trụ ở hư không lân cận với đức Phật. Cho đến trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Bệ lệ đa, Tỳ xá già, Cưu bàn trà... của bốn châu đều ở bên đức Phật sinh lòng bất tín, không ý cung kính, ở Pháp, Tăng cũng chẳng lòng tin. Tất cả ma đó đều sai khiến quân chúng với đủ thứ binh khí, mặc giáp trang nghiêm tập họp lớn ở chỗ đó muốn hại đức Như Lai. Có một vị tiên nhân tên là Quang Vị với đủ mười tám minh xứ và cảnh giới thần thông học nhiều không lường, mà thường vưng thờ Ma Ê Thủ La, cùng với năm trăm đồ chúng trụ ở bên núi Tuyết. Lúc bấy giờ, Ma vương liền tự biến thân thân làm hình dáng Ma Ê Thủ La, trụ ở trước tiên nhân nói kệ như vầy:
Họ Cù Ðàm sinh được
Bậc Ðại tiên nương thông
Trụ Ma Gia (nước), thông tuệ
Ở Vương Xá (thành) đi xin.
Lòng ông phải kiên cố
Ðến với đủ luận bàn
Ông năm thông cùng cực
Quyết định tự tại liền.
Bấy giờ, Ma vương nói kệ này xong liền biến mất, trở về cung ma, từ chỗ quyến thuộc, nói kệ như vầy:
Các ông nay bên ta nghe rõ
Ta nghĩ được “biết không ai hơn”
Thích tử đã nhiếp, đã chung ngữ (lời nói)
Gia hộ kia đầy đủ thần thông.
Huyễn kia thị hiện cảnh giới ấy
Tim sức ma ta lớn vô cùng
Như mẹ hướng con lời êm dịu
Ðều khiến đệ tử sinh vui mừng
Hằng ngày buổi sớm vào thành ấp
Từ từ bước, uy nghi giữ gìn
Sở hạnh đệ tử đã đoạn dục
Ta bắt giữ từng đứa tự đương (đương đầu)
Hiện trước họ ca múa mỹ diệu
Khiến họ thấy nghe hoặc trước sinh
Ðệ tử thấy nghe đã hoặc trước
Nên não ý Thích Ca đại tiên.
Bấy giờ, trong chúng có một ma nói kệ rằng:
Con nay hóa hiện việc đáng sợ
Sư tử, trâu nước, cọp, voi điên...
Nhanh chóng đuổi chạy vào thành ấp
Hiện uy tiếng sấm động kinh hoàng.
Thần thông hóa hiện việc vô lượng
Binh khí bức họ lại hiện lên
Việc bỏ các dục của bọn họ
Hoặc khi mê loạn khiến mất quên.
Lúc đó trong chúng lại có một ma nói kệ như vầy:
Ta nay ở ngã tư đường đó
Hóa lầu quan sát ở trước tiên
Ðủ thứ hình lạ, mặt xấu xí
Ðủ thứ binh khí bức động thêm
Trong không tiếng lớn, mưa dao kiếm
Kinh động đáng sợ tiếng sấm vang
Ở cảnh giới đó chẳng tự tại
Mau khiến tiêu diệt chẳng hiện tiền.
Lúc bấy giờ, Ma vương dùng sức thần thông, tất cả nghiêm chỉnh xa giá, tạo tác rộng rãi tất cả cảnh giới như trên. Sức uy đức đại từ của Như Lai cũng như ma thị hiện đủ thứ rộng rãi. Tức thời biến thế giới của Phật ở ba ngàn đại thiên thế giới, khiến cho tính chất đất giống như kim cương, tất cả ma lực chẳng thể chuyển đổi, cũng lại chẳng thể tạo ra ác thanh và cả núi lửa bốn phương cháy mạnh. Cũng chẳng thể tạo tác mây đen phi thời và hơi gió ác. Nhờ lực đức Phật hộ trì cho nên thậm chí không có một con rồng có thể vận động thân mình làm rơi xuống một giọt mưa.
Bấy giờ, lúc đầu ngày, bốn đại Thanh văn mặc áo, mang bát vào đại thành Vương Xá khất thực. Tôn giả Xá Lợi Phất, ở cửa Nam của thành gặp năm mươi đồng tử ma với tướng đại nhân đệ nhất đoan chánh diệu sắc trang nghiêm, đồng ở tại ngã tư đường vừa ca múa vừa đi. Từ xa thấy tôn giả Xá Lợi Phất đến, chúng liền chung nhau nắm lấy hai tay tôn giả trước và nói với tôn giả rằng:
- Này Sa môn! Ngài Ca! Này Sa môn! Ông múa!
Xá Lợi Phất nói với đồng tử rằng:
- Các ngươi hãy lắng nghe! Ðiều chưa nghe trước sẽ khiến cho các ngươi nghe!
Ngài liền vì các đồng tử nói kệ như vầy:
Các nhập, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay đã chán hoạn
Bờ cõi nhập tận cùng
Các ấm, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay đã chán hoạn
Bờ cõi ấm tận cùng.
Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất vì các đồng tử ma nói kệ này rồi, liền nói chú rằng:
Ða điệt dã tha (1) Bà ha la (2) Bà ha la (3) Bà la (4) Ba la (5) Mạt lợi chi ba ha (6) Tát già bà ha (7) A ma bà ha (8) Tát bà ha (9).
Lúc ấy, ngài Xá Lợi Phất ở trong tiếng ca nói kệ và Ðà la ni như vậy thì đồng tử của Ma vương, gồm năm trăm người.v.v... nghe pháp âm đó đều được cái chưa từng có, hết sức vui mừng, tín tâm thanh tịnh, hướng về ngài Xá Lợi Phất nói kệ như vầy:
Chính đạo, chúng con nay sám hối
Thân thiện nói lên vì thế gian
Nói ấm đáng sợ dạy lìa bỏ
Khiến con ở đây chứng kiến luôn.
Ðồng tử ma nói kệ đó xong, rập đầu xuống đất làm lễ dưới chân tôn giả, liền ở giữa đường, ngồi chung nghe pháp. Lúc bấy giờ, tôn giả Ðại Mục Kiền Liên sắp vào đại thành Vương Xá khất thực, ở cửa hướng Ðông thành, thấy năm mươi đồng tử... cho đến ở trong ca âm, nói kệ như vầy:
Các giới, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay đã chán hoạn
Bờ cõi giới tận cùng.
Các thọ hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay đã chán hoạn
Bờ cõi thọ tận cùng.
Tư duy, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Tư duy ta đã chán
Cõi tư duy tận cùng
Các tưởng, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay đã chán hoạn
Bờ cõi tưởng tận cùng.
Ngài Ðại Mục Kiền Liên, ở trong tiếng ca, nói kệ đó rồi, lại nói chú rằng:
Ða điệt dã tha (1) A ma bà (2) A ma ba (3) A ma bà (4) A ma bà (5) A la xà (6) La nả xà ha (7) Xa miệu tha (8) Xa miệu tha (9) Xa miệu tha (10) Tha già na bà ma (11) Ta bà ha (12).
Lúc bấy giờ, trưởng lão đại Mục Kiền Liên vì đồng tử ma nói kệ và Ðà la ni như vậy thì năm mươi đồng tử vui mừng số một, sinh lòng tịnh tín, nói kệ như vầy:
Ðầy đủ mật thần thông
Con Mâu Ni Thánh Chủ
Qua hoạn đường tử sinh
Ðèn pháp chiếu bày khắp
Các lỗi ác đoạn tan
Nên con sinh tín lạc
Nay qui y Thế Tôn (Phật)
Cũng qui y tăng, pháp.
Khi ấy, năm mươi đồng tử ma, ở giữa hư không, liền làm lễ sát chân ngài Ðại Mục Liên rồi ngồi ở trước ngài chánh nghi dung mà nghe pháp.
Lúc bấy giờ, trưỡng lão Phú Lâu Na Di Ðà Ni Tử, từ ở cửa Bắc vào thành khất thực... cho đến giữa ngã tư đường, theo tiếng xướng ca của các đồng tử kia mà ở trong tiếng ca nói kệ như vầy:
Các xúc, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay chán xúc đó
Nên cõi xúc tận cùng
Các căn chủ tăng thượng
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay chán tăng thượng
Biên tăng thượng tận cùng.
Hoặc nghiệp thường lưu chuyển
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay chán hoặc nghiệp
Biên hoặc nghiệp tận cùng.
Các hữu, hoạn đáng chán
Chỗ chết dối ta luôn
Ta nay chán các hữu
Bờ cõi hữu tận cùng.
Lúc bấy giờ, ngài Phú Lâu Na ở trong tiếng ca vì đồng tử ma nói kệ này rồi, bảo các đồng tử rằng:
- Mạng người nhẹ, nhanh khó có thể bảo trụ giống như nước trên núi tuông xuống chảy nhanh. Mạng người rất nhanh hơn việc đó. Kẻ phàm phu ngu si đều chẳng hay biết. Lại nữa, này các đồng tử! Tất cả phàm phu bị say rượu sắc không hay biết, bị say rượu thanh không hay biết, bị say rượu hương không hay biết, bị say rượu vị không hay biết, bị say rượu xúc không hay biết. Lại nữa, này các đồng tử! Mạng người rất nhẹ, nhanh như nước trên núi chảy xuống kia. Kẻ phàm phu ngu si đều chẳng thấy biết, bị say rượu pháp không hay biết, bị say rượu ấm không hay biết, bị say rượu giới không hay biết, bị say đồ ăn nhiều không hay biết, bị say rượu lạc (vui) không hay biết, bị say rượu sanh không hay biết, bị say rượu dục không hay biết. Lại nữa, này đồng tử! Mạng người nhẹ, nhanh giống như nước trên núi tuông xuống chảy nhanh. Mạng người rất nhanh so với nước đó, kẻ phàm phu ngu si đều chẳng thấy biết... cho đến tất cả rượu tình thức, thủ trước làm cho mê say mà đều chẳng hay biết.
Ngài Phú Lâu Na liền vì các đồng tử nói chú rằng:
Ða điệt dã tha (1) Yết già bà (2) Yết già bà (3) Yết già bà (4) Môn trí ni (5) A phạt đa (6) Tỳ phạt đa (7) Khư phạt đa (8) Bạt la ma a la ha (9) Thù để phạt đa (10) Ta bà ha (11).
Bấy giờ, khi trưởng lão Phú Lâu Na ở trong tiếng ca, vì đồng tử ma nói kệ và câu Ðà la ni này thì năm mươi đồng tử đó hoan hỷ số một, sinh lòng tịnh tín, nói kệ như vầy:
Ngài nay dạy con đạo tịch diệt
Các cõi như huyễn kia cháy bừng
Thế gian chỉ sinh từ phân biệt
Nên thân con theo Tam Bảo nương.
Lúc ấy năm mươi đồng tử ma ở giữa ngã tư đường, liền làm lễ sát chân ngài Phú Lâu Na và ngồi ở trước ngài, chính nghi dung nghe pháp.
Lúc bấy giờ, trưởng lão Tu Bồ Ðề ở cửa Tây thành vào thành Vương Xá theo thứ lớp khất thực. Ở giữa ngã tư đường gặp gỡ năm mươi đồng tử của Ma vương, tuổi hoa đẹp đẽ, nhan sắc đoan chánh, dáng dừng trường nhã, tướng đại nhân tử, cùng nhau đùa giỡn ở ngã tư đường vừa ca múa vừa đi. Chúng thấy ngài Tu Bồ Ðề liền rảo bước đi đến đều cùng bắt lấy hai tay của tôn giả đó, nói lên như vầy:
- Nào Sa môn! Ông ca! Nào Sa môn! Ông múa!
Ngài Tu Bồ Ðề nói rằng:
- Này đồng tử! Hãy lắng nghe! Tiếng ca trước các ngươi đã chưa nghe thì ta sẽ làm cho các ngươi nghe! Các ngươi hãy lặng yên mà nghe tiếng ca của ta.
Ngài Tu Bồ Ðề liền vì các đồng tử nói bài kệ như vầy:
Tất cả hữu vi pháp
Tính động đều vô thường
Như huyễn, bọt, lửa đó
Tuy thấy, được thì không.
Pháp sinh diệt mau chóng
Chỉ người trí mới thông (biết)
Xúc thọ là khổ não
Người ngu đắm say cùng
Khổ hữu vi bức bách
Tất cả đều ngã không (vô ngã)
Lại không một hiểu biết
Khiến khổ giải thoát xong.
Như tin Bồ tát đạo
Tu nhất tướng thân gần
Gọi lìa các pháp tưởng
Vô ngã, chẳng sạch trong.
Tất cả hành tương ứng
Thật không, tánh tướng không
Các pháp không nuôi mạng
Người không, tạo tác không.
Người bỏ ý ma siểm (dua nịnh)
Phát giác tịnh tín sinh
Các thức nương gốc khởi
Như chớp nương hư không.
Xúc, thọ, tư không ngã
Quan sát không thật chân
Ngu si phàm phu tu
Ấm này lưu chuyển luôn
Tịnh tâm sinh phân biệt
Tác giả chẳng thể được
Chân tế tịch diệt không(trống rỗng)
Tất cả biên (bờ) lìa khỏi.
Pháp này không vô minh
Nên nói Bồ đề hạnh
Như bậc thầy lái thuyền
Chở đến Bồ đề đạo.
Bấy giờ, trưởng lão Tu Bồ Ðề vì đồng tử ma nói bài kệ này rồi liền đọc chú rằng:
Ða điệt dã tha (1) Tô văn đệ (2) Tỳ văn đệ (3) Văn đà (4) Xà ê (5) Tứ ly (6) Tứ ly (7) Tứ ly (8) A bà tứ ly (9) A bà ha tứ ly (10) Ða tha đa bà tứ ly (11) Bộ đa câu chỉ tứ ly (12) Ta bà ha (13).
Bấy giờ, khi trưởng lão Tu Bồ Ðề vì các đồng tử này, ở trong tiếng ca, nói lời bài kệ và câu Ðà la ni này thì năm mươi đồng tử đó vui mừng số một, sinh tâm tịnh tín, nói bài kệ như vầy:
Con nương ác tri thức
Pháp này nghe chưa từng
Vì ngu si vô trí
Ác nghiệp này tạo nên.
Con nay phát lồ hối
Nguyện ngài chứng tri con!
Ngài sinh từ Thắng pháp
Con phát đại nguyện rằng:
Nguyện con được làm Phật
Ích lợi khắp thế gian.
Năm mươi đồng tử, ở giữa ngã tư đường, liền làm lễ sát dưới chân ngài Tu Bồ Ðề, rồi ở trước mặt ngài, ngồi chính nghi dung mà nghe pháp.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng sức thần thông vì họ mà thị hiện khiến cho ngã tư đường này rộng rãi hàng trăm do tuần. Ngài Xá Lợi Phất ngồi ở mặt Bắc, ngài Ðại Mục Kiền Liên ngồi ở mặt Tây, ngài Phú Lâu Na ngồi ở mặt Nam, ngài Tu Bồ Ðề ngồi ở mặt Ðông. Chỗ ngồi của bốn người cộng lại là nửa do tuần. Ngay tức thời trong đất ở chỗ ngồi của bốn vị Ðại Thanh văn hiện ra hoa sen lớn, ngang dọc bằng nhau độ năm mươi khuỷu tay. Cành hoa là vàng Diêm phù đàn, lá hoa là lưu ly xanh, tua hoa là thắng tạng bảo, nhị hoa là chân châu, mùi hoa thơm phức hơn cả hương của trời. Như vậy hoa sen này phát xuất từ căn lành của thế gian mọc ra. Từ hoa sen này phát ra ánh sáng lớn soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Ở đường ngã tư đó, hoa ấy vọt lên cao chừng ba thân người để mà thị hiện. Cho đến trời Tứ thiên vương hoa này hiện ra, vì trời đó cao chừng năm do tuần mà vì thị hiện. Cho đến trời Ba mươi ba, hoa này hiện ra, do trời đó cao chừng một trăm do tuần mà vì thị hiện. Cho đến trời A Ca Ni Sấc, hoa này hiện ra, do trời đó cao chừng nửa do tuần mà vì thị hiện. Ở trong lá hoa sen tuyên bày đủ thứ câu nghĩa mỹ diệu. Chúng sinh đất này và chư thiên kia đều nghe trong hoa bài kệ tụng như thế này:
Sinh cõi này, chỉ Phật thanh tịnh
Làm lui quân chúng cùng Ma vương
Phật dũng mãnh chuyển bánh xe pháp
Nhân đây cõi thế không nghi nan
Những người thông tuệ giải nghĩa luận
Biết pháp, cầu pháp, cầu thoát liền
Tất cả thế gian người thông suốt
Ưu Ba Câu Lợi là trên cùng.
Ðây là đạo sư đã điều phục
Pháp đại diệu này nói giỏi giang
Tất cả thế gian dâng lên cúng
Cúng dường Mâu Ni giỏi tuyên dương.
Ðủ trí ba đời hay khéo nói
Sở học ba học mở bày thông
Người trời thế gian hay cứu độ
Khiến hiểu biết nghĩa pháp không lường.
Dạy làm thiện thế gian lợi ích
Ðèn trí phương tiện soi thế gian
Khéo nói diệu pháp đoạn ba cấu
Trí tuệ lợi ích, mệt mỏi không.
Cực khổ thế gian khiến giải thoát
Vô minh che tối cac chúng sinh
Hay cùng mắt pháp chẳng điên đảo
Tất cả đại chúng khắp hội xong.
Phật này chẳng lâu rống sư tử
Ðệ nhất nghĩa, Như Lai bày lên
Lực diệu sắc đủ nói đắp đổi
Thấy đời chìm biển khổ mênh mông.
Ðến ở thế gian, đánh trống pháp
Trong sáu căn hộ trụ hộ trên
Sáu tùy hành (?) này, sáu “thông” biết
Phật nói lục độ là thượng pháp.
Quyết định nói sáu chủng tử ấy
Ở thôn xóm, hay giết sáu căn
Ðã nghĩ đến sáu việc vô thượng.
Phật điều ngự chủ khiến kia nghĩ.
Ở trong hoa sen nói kệ đó rồi. Cho đến đối với chư thiên lục dục đó, tại trong hoa sen, lại vì chư thiên nói kệ như vầy:
Các ngươi sống hòa hợp
Các dục ưa trước tham
Mê say lòng phóng dật
Lọng ái đã che trùm
Ngu si ưa chấp trước
Rượu các dục say mèm
Do sự phóng dật đó
Thiện Thệ chẳng cúng dường
Các dục không thường, hoại
Như đáy nước vầng trăng
Tử sinh trói bền chắc
Chúng sinh thoát không xong.
Các ngươi không chỗ nương
Phóng dật trước các dục
Do ưa thích các dục
Mãi chẳng được Niết bàn.
Thường ở đất phóng dật
Cùng diệt chẳng tương ưng
Chẳng thấy việc làm trước
Sạch trong, chẳng sạch trong.
Vì nghiệp chịu già chết
Bố úy hằng vây quanh
Các ngươi vì buông lung
Nên hành đất ba ác.
Nhờ hành điều buộc lòng
Hằng tu chẳng phóng dật
Trước đã làm nghiệp lành
Nên phải siêng gìn giữ.
Bỏ dục chẳng sạch trong
Biên bờ sau khó được
Thiện Thệ ngươi về nương
Nghe kia nói đại nghĩa.
Các ngươi tu trí tuệ
Giải thoát tịch diệt nhân
Cùng diệu pháp tương ưng
Nghe đại nghĩa như vậy.
Như vậy, trong hoa sen nói kệ đó xong. Cho đến mười sáu trời cõi Sắc, ở trong hoa sen lại vì chư thiên nói kệ như thế này:
Phân biệt thiện pháp siêng tu tập
Lìa rối loạn một lòng ưa thiền
Tịch tịnh chẳng loạn cầu giải thoát
Tuệ đã ứng làm dứt giận sân.
Sở hữu ngã tướng mười ba thứ
Phân biệt vì nói tu nhẫn hơn
Do đây rốt cùng mau giải thoát
Ðược đến chỗ giải thoát tử sinh.
Ham thích sắc tụ nên phân biệt
Tính “Ngã” kiên cố thấy sáng bừng
Pháp sở sinh bọn đó chẳng giảm
Ðất đường ác do thấy chuyển vần.
Quan sát ba cõi thường vô ngã
Không tác, không rỗng, không thật chân
Tu nhẫn phân biệt tùy thuận đó
Ðược hết chỉ thú giải thoát liền.
Người đó chẳng già, chẳng bệnh chết
Lìa đường ác, oán ghét chẳng chung
Ngang bằng hư không tất cả pháp
Chẳng tu hai điều tu tương ưng.
Ðạo tịnh rốt ráo tối vô thượng
Ý không chấp trước tịnh các căn
Giống như Thích tử hàng ma chúng
Một pháp tính vô tướng tu hành.
Mọi tướng sở hữu đều lìa khỏi
Hai thứ đoạn (?) oai nghi thuận tùng
Ðạo này vì họ nói Tối thượng
Phân biệt tu tất cả pháp không.
Nếu hay phân biệt tu không ấy
Không chủ, không tác, thọ cũng không
Giải Bồ đề như tự tính rỗng
Tối Vô thượng xa lìa cầu mong.
Lúc bấy giờ, đức Như Lai ở trong đài hoa sen diệu sắc đó, khi phát ra tiếng lớn câu pháp nghĩa này thì trong thế giới này tất cả người, chẳng phải người.v.v.. sẵn đó đều đến giữa ngã tư đường đi quanh tòa hoa sen... cho đến vô lượng vô số trời A ca nị sấc đều xuống thiên cung, đi quanh tòa hoa sen, chiêm ngưỡng, thính pháp. Lúc đó, Ma vương nghe bài kệ này rồi, quan sát giáp vòng khắp đại thành Vương Xá, thấy hoa sen giữa đường ngã tư phát ra âm thanh pháp này và thấy vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ na do tha người vây quanh hoa sen, ngồi chung nghe pháp. Ma vương lại thấy chư thiên cõi Lục Dục nhiều vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ na do tha.v.v... Tất cả chư thiên đều bỏ cung điện, theo ngồi vây quanh hoa sen mà nghe pháp. Nghe thấy thế rồi, Ma vương lại chuyển biến hơn trước, lòng thêm lo khổ lớn, hối não thêm trói buộc, run rẩy dựng tóc gáy, toàn thân toát mồ hôi, chạy trong hư không, dùng âm thanh lớn kêu gọi ma chúng còn lại mà nói kệ như vầy:
Các ông hãy nghe!
Khéo nhiếp ngoại ý
Ở cảnh giới ta
Không lực tự tại
Ðây mới Thích Ca
Lực tối thượng thắng
Hành công đức rộng
Lưu bố thế gian
Khiến chúng sinh đó
Sở tác vững bền
Ở đài hoa sen
Phát ra tiếng pháp
Người, trời các con
Ðến hết không còn
Quyết định người tốt
Ðều khát, ngưỡng mong
Chuyên ý thiện thệ
Theo tịch diệt đạo
Công đức trên cùng
Ðệ nhất vô thượng.
Việc làm Sa môn
Ba cõi này huyễn
Tất cả mê lầm
Khiến không ý khác.
Ðại chúng thiên nhân
Vây quanh hoa sen
Mau buông mưa đá
Tạo tiếng khủng bố
Dùng chúng ma hung (dữ)
Ðến hoại diệt đó.
Lúc bấy giờ, những ma còn lại đối trước Ma vương kia, nói kệ rằng:
Ngài nghe lời chúng tôi
Lời này đem lợi ích!
Ngài biết những pháp gì?
Mà chẳng dừng ý ác!
Lực Như Lai thắng trì
Quân ma tiêu diệt hết
Thấy Thiện Thệ, chúng tôi
Lòng đều mê muội lớn.
Phật là Ðại Thuyền Sư
Quang nhan thắng viên mãn
Theo Phật khéo về nương
Lại không chỗ qui (về) thắng.
Lúc bấy giờ, lại có ma khác đối trước Ma vương kia cử động thân thể, mặt mày bí xị, buồn khóc, giận quá nói kệ như vầy:
Ngài mất thiện đạo, trụ ác đạo
Nên chẳng tự biết năng lực mình
Sánh đạo sư, ông không hổ thẹn
Ma lực bị Phật lực diệt tan
Chỗ hoa sen thế gian hòa hợp
Nghe pháp vui vẻ thân tâm tịnh
Chúng tôi thân bẩn mất tinh tấn
Chẳng đi, trong sát na tiêu tan.
Hôm nay tất cả đều về nương
Qui ý Nhân Ðà La Tịch Mặc (Mâu Ni).
Lúc ấy, lại có các ma đều chắp tay hướng về Ma vương mà nói kệ như vầy:
Ngài bỏ pháp hạnh, ưa làm ác
Phật làm chỗ dựa lợi thế gian
Ở trong các chúng, Phật chúng thắng
Phật nay đến đây ở tại thành
Chúng tôi phải dùng mắt thanh tịnh
Mau đến đó đem lòng vui mừng
Qui y đấng Chí Tôn ba cõi
Lương dược diệu của mọi chúng sinh.
Khi đó trong hư không lại có một ma tên là Trí Thanh, hướng về Ma vương kia, liền cao giọng nói kệ như vầy:
Chúng tôi hòa hợp nhờ tín lạc
Nghe lời tôi tất cả tương ưng
Phát y, ngôn, hành đoạn ác kiến
Cúi mình chắp tay bỏ giận sân.
Do lòng tỉnh ngộ sẽ tịnh tín
Nói tối thượng tùy hỉ Thế Tôn (Như Lai)
Ðối Phật qui ý, qui khó được
Tôi sẽ, hôm nay, tin cúng dường.
Lúc bấy giờ, các ma nhiều vô lượng vô biên, trong khoảnh khắc sát na, đều từ hư không hạ xuống, đến cửa thất bảo của đại thành Vương Xá. Chúng đều cầm đồ cúng dường trang nghiêm đi đến chỗ đức Phật, vì muốn cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có ma biến làm hình dáng vua Chuyển Luân. Hoặc có ma biến làm hình dáng vua Phạm Thiên. Hoặc có ma biến làm hình dáng Ma Ê Thủ La. Hoặc có ma biến làm hình dáng trời Tự Tại. Hoặc có ma biến làm hình dáng Na la diên. Hoặc có ma biến làm hình dáng trời Ðâu Suất Ðà. Hoặc có ma biến làm hình dáng trời Diệm Ma. Hoặc có ma biến làm Thích Ðề Hoàn Nhân. Hoặc có ma biến làm trời Ba Mươi Ba. Hoặc có ma biến làm hình dáng đồng tử. Hoặc có ma biến làm hình dáng Tỳ Sa môn. Hoặc có ma biến làm Tỳ lâu lặc xoa. Hoặc có ma biến làm Tỳ lâu bác xoa. Hoặc có ma biến làm Ðề Ðâu Lại Tra. Hoặc có ma biến làm hình dáng thần tá trời của Tứ Thiên Vương. Hoặc có ma biến làm hình dáng Thiên Tử Nhật. Hoặc có ma biến làm hình dáng thiên tử Nguyệt. Hoặc có ma biến làm hình dáng lớn nhỏ của thiên tử tinh tú. Hoặc có ma biến làm hình dáng A tu la. Hoặc có ma biến làm hình dáng Già lâu na. Hoặc có ma biến làm hình dáng Khẩn na la. Hoặc có ma biến làm hình dáng Ma hầu la già. Hoặc có ma biến làm hình dáng núi báu. Hoặc có ma biến làm hình dáng vàng tụ. Hoặc có ma biến làm hình dáng đủ thứ báu. Hoặc có ma biến làm hình cây báu. Hoặc có ma biến làm hình dáng Sát đế lợi. Hoặc có ma biến làm hình dáng ngoại đạo khác. Hoặc có ma biến làm hình Luân bảo. Hoặc có ma biến làm hình báu Ma ni. Hoặc có ma biến làm hình voi báu Y la bà trà. Hoặc có ma biến làm hình ngựa báu Bà La ha. Hoặc có ma biến làm hình dáng người con gái báu. Hoặc có ma biến làm Thần bảo chủ tàng. Hoặc có ma biến làm thần bảo chủ binh... Ðủ thứ hình dáng như vậy ma đều tự biến hóa, vì cúng dường nên trụ ở trước đức Phật. Hoặc có ma hiện ra màu xanh thân xanh, dùng đồ màu trắng trang nghiêm thân mình. Chúng đều cầm bảo cái tràng phan đỏ và chuỗi ngọc chơn châu, trụ ở trong hư không cao chừng một cây Ða la. Hoặc có ma hiện ra sắc trắng thân trắng, dùng đồ màu đỏ trang nghiêm thân mình. Chúng đều cầm bảo cái, tràng phan, chuỗi ngọc màu vàng trụ ở trong hư không. Hoặc có ma hiện ra sắc đỏ thân đỏ, dùng áo kim sắc trang nghiêm thân mình. Chúng đều cầm tràng phan bảo cái màu xanh đứng la liệt thành hàng lối. Hoặc có ma hiện lên màu hồng thân hồng, mưa xuống chân châu trắng. Hoặc có ma hiện ra màu trắng thân trắng, mưa xuống chân châu hồng. Hoặc có ma hiện làm sắc thiên tiên, trụ trong hư không, mưa xuống mưa hoa. Hoặc có ma biến làm hình tượng Thanh văn, vì cúng dường đức Phật nên ở trong hư không mưa xuống đủ thứ hương trời. Hoặc có ma hóa làm sắc Kiền thát bà, tấu lên kỹ nhạc trời. Hoặc có ma biến làm sắc thiên nữ, dùng đủ thứ bảo khí tưới nước thơm xuống đất. Hoặc có ma biến làm sắc vàng sạch đen đốt đủ thứ hương thơm. Hoặc có ma biến làm hình dạng các thiên tử ca xướng mừng múa. Hoặc có ma biến làm hình sắc đủ thứ chắp tay chiêm ngưỡng khen ngợi đức Như Lai. Hoặc có ma chúng tùy theo phương diện của đức Phật mà nhất tâm chiêm ngưỡng, đều mang đủ thứ báu ma ni, cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có ma ở đường ngã tư, trên cửa sổ lớn nhỏ của nhà điện, lầu các, trên đài cửa khuyết, bên bốn thềm đường, trên tường cao, tường thấp, ô cửa, trên cây, trên bao lơn trùng các... đều tùy theo chỗ đứng mà chắp tay chiêm ngưỡng, cúng dường đức Như Lai.
- Quyển thứ ba - hết.
|
KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
Quyển thứ tư.
PHẨM THỨ BA (Tiếp theo): MA VƯƠNG QUI PHỤC
Lúc bấy giờ, Ma vương thấy tất cả ma chúng sở hữu kia đều cùng quyến thuộc qui y đức Như Lai. Lúc đó Ma vương càng thêm sân giận hơn trước, kinh sợ mê loạn, cất tiếng buồn khóc, nói kệ như vầy:
Ta mất thẳng uy đức
Không có ai đỡ đần.
Sa môn thần thông thắng
Ðoạt cõi ma ta liền.
Nên lại tìm phương tiện
Sau này nghĩ việc làm
Căn hoa sen chặt đứt
Khiến chúng tan các phương
Căn hoa sen đã đoạn
Khiến đại chúng mê loàn
Nếu chúng đã mê loạn
Sau này ta thỏa nguyền.
Bấy giờ,, khi Ma vương nói kệ đó xong thì như điều suy nghĩ, giống như gió bão, từ trên không mà hạ xuống, đến con đường có hiện hoa sen kia, liền tiến tới trước, muốn nhổ bật hoa sen lên. Do lực của đức Phật nên hắn còn chẳng thể chạm đến hoa huống gì là nhổ bật được. Ðã chẳng thể nhổ bật ma lại muốn tóm lấy cánh hoa sen và gây tổn hại đài hoa, nhưng lại chẳng thể tổn hại được. Ma liền muốn cất tay từ xa tát (đánh) vào hoa đó. Lúc đó, Ma vương thấy hoa sen đó như chớp, như bóng (hình), tuy đối trước mắt mà căn hoa sen chẳng thể chạm đến làm tổn hại. Bấy giờ, Ma vương bằng hết thần lực của mình cũng như việc làm của mình mà đối với hoa sen kia rốt cuộc chẳng thể tổn hại được. Ma lại muốn kinh động tất cả đại chúng nên liền phát ra tiếng to lớn đáng sợ nhưng tiếng cũng chẳng phát ra được. Ma lại hiện uy mãnh, dùng lực thế lớn, liền đưa hai tay vỗ xuống đại địa khiến cho đất chấn động. Khi đó đại địa giống như hư không, thậm chí chẳng thể dùng tay sờ chạm huống là có thể khiến cho lay động. Khi đó Ma vương thấy đại địa này chẳng thể chạm được, lại sinh ý niệm này: “Chúng sinh có trong đại hội này hôm nay, ta sẽ đánh họ, khiến cho lòng họ rối loạn”. Khi khởi lên ý niệm đó thì thậm chí ma chẳng thấy có một chúng sinh để có thể được có thể chạm, huống gì là có thể gia hại, bức bách. Nhờ lực của đức Phật nên có tướng như vậy. Lúc đó, Ma vương càng trở nên ưu não, toàn thân lắc lư lay động như cây gặp gió lớn, phát ra tiếng gào khóc bi hận, rơi nước mắt, quan sát khắp bốn phương nói kệ như vầy:
Sa môn dùng huyễn lực
Nhiếp lấy các thế gian
Ta nay lòng say tối
Trong giây lát mê loàn.
Cảnh giới, lực công đức
Mà ta đã có được
Kia dùng huyễn lực nên
Tất cả xâm đọat hết.
Ta nay bị bỏ mặc
Phải mau trở về cung
Nếu chẳng đi, thậm chí
Thọ mạng ta kịp nữa.
Lúc bấy giờ, Ma vương liền muốn trở về cung. Tuy sinh ý niệm đó nhưng lại chẳng thể đi, Ma vương càng thêm kinh sợ khóc lóc mà khởi ý niệm này: “Ta nay đối với thần thông này đã hết vì sức tự tại của ông Cù Ðàm vậy. Không lẽ lại ở trước kẻ oán gia đó khiến cho ta tận mạng?” Ma lại khởi ý niệm này: “Ta nay có thể lén ra ngoài cõi Phật Ta Bà này. Ta thà chết ngoài đó chứ không cho, ở cõi Phật này, có một chúng sinh thấy ta chết”. Khi khởi lên ý niệm đó thì thậm chí chẳng thể rời khỏi phương hướng này, huống là có thể lén đi, ma tức thời tự thấy bị năm trói buộc, lại trở nên kinh sợ, sân giận, cất cao tiếng buồn khóc. Ma vương lại nói lên lời này:
- Hỡi các con yêu và các thân thuộc! Ta lại chẳng thể thấy rồi!
Bấy giờ, có ma tên là Trí Thanh, liền tự biến thân làm hình dáng vua Chuyển Luân, hướng về Ma vương nói kệ như vầy:
Ý ông sao lo lắng
Sinh bi não gào than
Bậc thế gian tối thượng
Như Lai là trên cùng.
Phật là vô sở úy
Phải mau cầu về nương (qui y)
Cứu hộ các cõi thế
Như đèn soi các đường.
Kẻ qui y nhờ cậy
Thoát ba khổ rốt cùng
Như Lai, nếu thân cận
Sẽ được vui Niết bàn (Tịch diệt).
Lúc bấy giờ, Ma vương khởi lên ý niệm như vầy: “Nếu ta theo lời nói của Trí Thanh đó, đối với Sa môn Cù Ðàm nên phải qui y thì sự ràng buộc của ta sẽ được giải thoát”. Lúc đó, Ma vương hướng về đức Phật, cúi thân, chắp tay nói lên như vầy:
- Nam mô đấng trượng phu Vô thượng trong loài người! Ðức Phật có thể giải thoát già bệnh chết! Con nay xin qui y!
Khi đó, Ma vương dùng kệ tụng rằng:
Trói này rất hiểm đáng sợ lắm
Con cầu Thiện Thệ mau về nương
Về nương Như Lai được giải thoát
“Chúng đệ nhất” nay mới về nương.
Con do si mù giận Chánh Giác
Ðã tạo tội lỗi đến cực cùng
Nay y lời ngài con sám hối
Tôn ngài hiện tiền làm chứng minh.
Lúc bấy giờ, Ma vương theo lời của Thiện trượng phu Trí Thanh liền ở trước đức Phật qui y đức Thế Tôn. Ngay tức thời Ma vương tự thấy thân mình được cởi trói. Ðã được giải thoát, Ma vương lại tự nghĩ: “Muốn trở về chỗ ma, trụ ở cung” liền tự thấy thân lại bị năm trói buộc, phải ở lại trong chúng này không thể đi về chỗ của mình. Ma vương tức thời lại qui y đức Như Lai. Khi phát sinh ý niệm này, Ma vương liền ở bên đức Phật, lại được giải thoát. Ma vương tác khởi ý niệm muốn đi thì liền thấy bị trói buộc. Ma vương phát sinh ý niệm trụ lại thì liền thấy giải thoát. Cứ như vậy, như vậy cho đến bảy lần trói buộc, giải thoát. Ma vương tự biết không thể làm gì được, liền ở bên đức Phật, mặc nhiên an tọa.
|
PHẨM THỨ TƯ: ÐẠI TẬP
Bốn vị đại Thanh văn kia vào đại thành Vương Xá khất thực, gặp các đồng tử ma nắm tay các Thanh văn chạy trong đường lớn. Chúng mời bốn vị Sa môn ca múa phi pháp. Các vị đại Thanh văn nhân trong tiếng ca vì chúng nói câu đạo tương ứng với Niết bàn. Bấy giờ, ở trong khoảnh khắc một sát na, đại địa chấn động. Như vậy vô lượng trăm ngàn trời, rồng, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già... trước ở trong Phật giáo được niềm tin thanh tịnh, diện mục rơi lệ mà nói kệ như vầy:
Ðạo sư tối thượng hiện tại thế
Ở trong Thánh, ác quái khởi lên
Nhục Thanh văn kia khiến đời thấy
Làm sao chúng sinh có niềm tin?
Bấy giờ, vô lượng trăm ngàn câu chỉ nadotha trời, rồng, dạ xoa, la sát... diện mục rơi lệ kéo nhau đến chỗ đức Phật. Ðến rồi, ở trước đức Phật, họ nói kệ như vầy:
Thánh giáo hiện tại đây
Phải khéo quán hôm nay
Kẻ trí chớ buông bỏ
Vì hộ chánh pháp này.
Bấy giờ, đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:
Ta nay tự đến chỗ ma đó
Khiến chúng ma quân đều phục hàng
Phải làm đạo sư mọi cõi thế
Dạy họ hướng về thành Niết bàn.
Khi ấy, tất cả đại chúng, khác miệng đồng âm, nói lên như vầy:
- Kính thưa đức Thế Tôn! Chớ đi đến! Chớ đi đến! Ðức Thế Tôn trước đã nói, chư Phật chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới chư Phật chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới ma chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới rồng chẳng thể nghĩ bàn, nghiệp và cảnh giới nghiệp chẳng thể nghĩ bàn. Như vậy trong tất cả các cảnh giới chỉ có cảnh giới của Phật là tối thắng không gì có thể bì kịp! Nguyện xin đức Thế Tôn chớ đứng lên khỏi chỗ ngồi này mà khiến cho vô lượng câu chỉ nadotha các chúng ma quân tự nhiên hàng phục, lại còn có thể khai thị vô lượng trăm ngàn nadotha các pháp ấm, giới..., làm khô kiệt biển phiền não, hoại tan các lưới kiến, có thể khiến cho vô lượng nadotha chúng sinh vào biển trí tuệ. Thưa đức Thế Tôn! Ngày hôm nay chẳng phải là lúc ra đi!
Ðức Phật dạy rằng:
- Chúng sinh của cõi chúng sinh đã có mà tất cả chúng sinh đó đều biến làm ma hết... cho đến cả đại địa đều thành vi trần hết. Rồi mỗi một vi trần lại biến làm ma. Lực của tất cả ma đó muốn đến hại ta thì thậm chí chẳng có thể động đến một sợi lông của ta, huống là có thể làm tổn hại một phần thân thể này của ta. Ta ngồi ở tòa này có thể thắng vô lượng câu chỉ nadotha ma, lại có thể điều phục chúng, chỉ đặt quyến thuộc của ma này khó có thể điều phục. Tuy nhiên, ta nay sẽ đi đến! Sở dĩ vì sao? Vì ma này dùng sức thần thông, ở thành Vương Xá, đã biến làm đủ thứ đồ nghiêm sức cúng dường ta. Thương xót chúng nên ta nay sẽ thọ lấy, khiến cho lòng ma đó có thể phát khởi sự vui mừng đệ nhất hiếm có và sinh ra niềm tin thanh tịnh, sẽ gieo hạt giống căn lành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bấy giờ, khi đức Thế Tôn nói lời đó xong, ngài muốn đứng dậy thì vị trời hộ trì rừng trúc tên là Ðoan Chánh, đi đến chỗ đức Phật, rơi lệ chan hòa mà nói kệ rằng:
Hôm nay, thưa đức Phật!
Chẳng phải lúc vào thành.
Thành này rất rộng lớn
Ma chúng đều đầy tràn.
Mỗi một ma như vậy
Mang ác nặng trong lòng
Ðều cùng ức ngàn chúng
Muốn vây quanh Thế Tôn
Lửa sân đều rực cháy
Ý độc chuyển loạn cuồng
Giành cầm binh khí nhọn
Tranh não hại Thế Tôn.
Nguyện xin Thích Sư Tử
Cẩn thận chớ nên sang (đi đến)
Hoặc sẽ bị mất mạng
Chúng con mất chỗ nương!
Ðức Thế Tôn nghe xong, mặc nhiên chẳng đáp, liền đứng lên khỏi pháp tòa. Có vị trời hộ Già Lam tên là Trì Tuệ, đảnh lễ dưới chân đức Phật mà nói kệ rằng:
Có năm trăm ác ma đại tướng
Ðều giành cầm binh khí tinh ròng
Thuần mang ác tâm đứng chờ Phật
Thưa đấng Mâu Ni, nay chớ sang!
Ðức Thế Tôn nghe rồi, lặng lẽ chẳng đáp, sắp ra khỏi Già Lam thì có vị trời coi về thuốc tên là Thành Tuệ, đầu mặt lễ dưới chân Phật mà nói kệ rằng:
Ô hay! Mất Chánh giác!
Sẽ phá hoại pháp môn
Thuyền pháp chốc lát đắm
Ðèn tuệ chợt tối đen (chẳng soi)
Thế gian pháp vị giảm
Giặc phiền não đầy tràn.
Ở trong các cõi hữu
Tự tại con không thiếu
Pháp tối thượng hoại tan
Sao có thể gìn giữ
Quân ma kia rất đông
Trụ ở trong pháp ác
Dao gậy bén chúng cầm
Lòng độc tranh hại Phật
Thiện Thệ nghe lời con
Vì lợi cho cõi thế
Nguyện xin Thập Lực Tiên
Chớ bước vào thành đó!
Ðức Thế Tôn nghe rồi, mặc nhiên chẳng đáp, sắp rời khỏi Già Lam thì bên trong cửa lớn có một vị Thọ thiên (trời cây) tên là Trì Thế liền ở trước đức Phật cả buồn khóc lóc, đem thân gieo xuống đất, hướng về đức Phật làm lễ mà nói kệ rằng:
Mắt nương cậy ba hữu sẽ mất
Sở dục đầy ý sắp hoại tan
Trong không dao, tên như rắn độc
Dò tìm hại Phật, nguyện chớ sang (đi sang).
Ðức Thế Tôn nghe rồi mặc nhiên chẳng đáp. Bấy giờ, trời giữ cửa lớn tên là Thủy Quang cất tiếng gào khóc, đầu mặt sát đất, đảnh lễ dưới chân đức Phật mà nói kệ rằng:
Trong thành lừng danh Ðại Phạm Chí
Cầm Nguyệt đao chờ đức Thế Tôn
Cùng hai vạn kẻ mang độc hại
Ở tại thành này, xin chớ sang!
Ðức Thế Tôn nghe rồi, lặng thinh chẳng đáp lại. Khi Phật sắp vào cửa thành Vương Xá thì trời giữ cửa của thành đó tên là Ða Ma La Thọ Diệp Kiên Cố, ở trong hư không, cất tiếng gào khóc, chạy nhay đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật mà nói kệ rằng:
Ðường này sư tử, voi vây kín
Khởi dũng tâm tranh hại Thế Tôn
Và não Tỳ kheo tạo chướng ngại
Xin chớ đi! Thương xót trời rồng.
Nhân Ðà La, bốn đường trong chúng
Thấy Phật giáo diệt ưu khổ sinh
Cùng nhau vân tập chung một chỗ
Sợ sệt run rẩy nói nhau rằng:
Như Lai đã đẩy lùi ma đó
Ma nay biến mặt ác cực cùng
Sợ Ðại pháp diệt, nạn đời khởi
Nhật, nguyệt mất độ (lạc quỉ đạo), sao bị ngăn (che)
Ðều lắc đầu nhìn tướng ác hiện
Lạ thay! Thiện Thệ có thoái tướng!
Ðuốc pháp diệt, mắt mặt trời tan
Dày xéo Chánh Giác, cạn nước pháp
Ðến lúc hoại diệu pháp thế gian
Chúng ma ác đẳng dần xí thạnh.
Ðức Thế Tôn nghe rồi, lặng thinh chẳng đáp. Vị trời cửa thành đó can gián, đức Phật chẳng quay về nên buồn khóc rơi lệ, lại nói kệ rằng:
Khắp xem thế gian Mâu Ni Tôn
Người nói tối thượng đi sẽ chết
Chớ gần thành con mà chết oan
Con bị ba cõi luôn hủy báng!
Nguyện nghe con nói đấng vững bền (kiên cố)
Hôm nay chớ vào trong thành diệt
Ðợi chỗ này thương xót chúng sinh
Giải thoát chúng sinh sinh khổ sợ
Như Lai phải nhớ vốn thề nguyền:
Ðược Ðại Bồ đề độ sinh chúng
Vô lượng chúng sinh khổ đốt tan
Thầy thuốc vô thượng an sinh chúng
Vô lượng kiếp trụ ở thế gian
Vì những phàm phu đắm trước dục
Nói pháp khiến họ được Niết bàn (Tịch diệt)
Là nghĩa không tướng vào tự tánh.
Bấy giờ, đức Thế Tôn lặng thinh chẳng đáp, sắp vào cửa lớn thì vị địa thiên cùng trời Ðại tư vị cùng với một vạn trời đồng loại, xỏa tóc che mặt, cùng đến chỗ đức Phật, đứng chắp tay mà nói kệ rằng:
Phật nhớ xưa bố thí
Cho máu, bốn bể hơn
Ðầu xương như núi Thiết(núi Thiết vi)
Mắt... như cát sông Hằng
Và đủ thứ diệu bảo
Voi ngựa cùng vợ con
Y, thực, phòng, ngọa cụ
Tùy bệnh cho thuốc thang
Cúng dường đấng Tối thượng
Hộ giới chẳng buông lung
Tập quen nghe nhiều nhẫn
Hiếu dưỡng mẹ cha luôn
Tu hạnh khó, hạnh khổ
Giải thoát khổ chúng sinh.
Ngài xưa đã phát nguyện
Thành Phật nói đạo trên (đạo Vô thượng)
Cứu biển khổ cõi thế
Nói pháp vì chúng sinh
Khiến cạn kiệt biển khổ
Cho vào Vô úy thành
Ðặt ở Bồ đề đạo.
Ðầy khắp cõi chúng sinh
Người làm ác mất đạo
Sám hối hủy giới (cấm) Văn (đa văn)
Sở nguyện xưa tùy thuận
Nói pháp kiếp không lường ( Câu chỉ kiếp)
Tắm bằng nước tám giới (cấm)
Khiến qua sông não phiền
Chúng sinh trong ba cõi
Lại không như Thế Tôn
Mình đã được giải thoát
Lại giải thoát thế gian
Vận chuyển độ sinh chúng
Ở biển “Hữu” mênh mông
Chỉ Phật được như vậy
Ðệ Nhất Giác thế gian
Chỉ Phật thân cõi thế
Pháp cam lộ nguyên ban!
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã vào thành, trong khoảnh khắc sát na, có vô lượng ức nadotha trời, rồng, dạ xoa... tám bộ quỉ thần, ở trong hư không, mỗi mỗi đều rơi lệ mà nói kệ rằng:
Con thấy xưa Thiện Thệ
Khi điều chúng bình an
Nói pháp làm lợi ích
Không như vậy não loàn (loạn)
Ðại sư ra đời ác
Ðại giác tự nhiên thành
Nói pháp phiền não chướng
Ðể thành thục thế gian
Thường làm sư tử hống
Ác ma nhiều không lường
Muốn diệt pháp như vậy
Phật nay chớ vào thành!
Có vị trời khác lại nói kệ rằng:
Chư Phật chuyển pháp luân
Trụ một phương lợi ích
Nay Phật chỗ chỗ sang (đi đến)
Không khiến được gặp ác?
Bấy giờ lại có vị trời khác, đồng nói kệ rằng:
Vì thương làm thầy dẫn (đường)
Thương làm lợi chúng sinh
Chỉ một mình vào thành
Như con thấy có tổn (hại).
Lúc đó, lại có vô lượng trăm ngàn câu chỉ nadotha trời, rồng, dạ xoa, la sát, A tu la, Ma hầu la già.v.v.. diện mục mưa xuống nước mắt, từ trong hư không tạo tác hành động mà hạ xuống trụ ở trước đức Phật với vô lượng thứ hình dạng khác lạ. Hoặc có loài mặc tóc, hoặc mang chuỗi ngọc có một không hai, hoặc có bảo cái tràng phan đều nghiêng ngã, hoặc lại toàn thần gieo xuống đất, hoặc nắm lấy chân đức Phật, hoặc gào lớn bi ai, hoặc đưa hai tay đấm ngực áo não, hoặc ở dưới chân đức Phật lăn lộn buồn khóc uyển chuyển dưới đất, hoặc ở trước đức Phật chắp tay khen ngợi, lễ bái, hoặc tung lên đủ thứ hoa đẹp tạp sắc, bột thơm, hương xoa, vòng hoa cài tóc, lụa là sô ma năm màu... đồ nghiêm sức, hoặc tung lên dệt thành y phục báu, chân châu... đồ nghiêm sức hoặc tung lên dệt thành y phục báu, chân châu, chuỗi ngọc, đủ thứ vật lạ... Thiên chúng đó cúng dường đức Phật xong, đồng thời cất tiếng mà nói kệ rằng:
Ðức Phật hành hạnh khổ
Vì lợi ích thế gian
Khi sinh đời mạt thế
Vì chúng chớ đi sang.
Làm chưa nhiều Phật sự
Ðược chứng ít nhân thiên
Ở lâu khai thị pháp
Ðộ ba cõi thế gian
Có hành hạnh thanh tịnh
Ðồ đựng cam lồ thành
Dạy con từ bi khởi
Cứu khổ bức thế gian
Trong sáu đường khoáng dã
Sinh tử mất đạo chân (chính)
Vì họ bày đường thiện
Giải thoát, pháp thánh nhân
Bi này tối hy hữu
Nguyện Ðại Giác trụ bền (lâu)
Chuyển pháp luân Vô thượng
Chớ khiến đời không nương (cậy).
Các vị trời khác lại nói kệ rằng:
Ðạo sư nếu diệt hết
Thế gian đều tối tăm
Tám thánh (đạo) ba giải thoát
Ở đây thẩy đều không
Chúng con đã gieo thiện
Ba nghiệp chẳng buông lung
Tất cả lạc đầy đủ
Trụ lâu công đức tàng.
Lúc bấy giờ, lại có chúng của trời Tịnh Cư cùng với quyến thuộc của họ nhiều vô lượng vô biên hàng ức nadotha tập họp ở một chỗ. Họ đều chung gọi nhau mà nói kệ rằng:
Các ông chớ sợ, Phật không bại!
Ứng với Ðại giác phải rõ ràng
Ta nhớ thuở xưa thân cận Phật
Cõi dục có câu chỉ ma quân
Ðầy khắp ba mươi sáu do tuần
Búa bén, kiếm sắc cùng dao kích
Thổi mạnh nhanh chóng như mây tuông
Ma chúng hùng mạnh tiếng đáng sợ
Ðến cây Bồ đề đều chạy tan
Ở trong giây lát đều kinh sợ
Huống nay quả tròn, danh vang lừng
Bọn chúng làm sao tạo chướng ngại.
Có các trời khác cùng nhau buồn khóc mà nói kệ rằng:
Xưa một quân ma không lực lớn
Nay ma thế lớn ức trăm ngàn
Ðến hại Như Lai định không nghi
Phật nếu diệt mất tối thế gian.
Bấy giờ, Phạm vương, Ðế thích, các trời hộ thế gian đảnh lễ dưới chân đức Phật mà nói kệ rằng:
Do con tiểu trí khuyên Phật trụ
Theo lời chúng con mà xót thương
Vô lượng chư thiên do lửa đốt
Nay vì bọn họ mưa pháp tuông.
Lúc ấy, đức Thế Tôn dùng mắt đại bi quan sát khắp tất cả thiên chúng đồng đến, phát ra tiếng diệu phạm, rũ lòng an ủi khắp mà nói kệ rằng:
Các ông chớ sợ nay vô úy
Tất cả ma chúng nhất thời sang (đến)
Bọn chúng chẳng thể động hại Phật
Chỉ một sợi lông huống là thân.
Ta nay an ủi tất cả chúng
Thường nói diệu pháp ở thế gian
Ta đối như vầy, người mất đạo
Sẽ rộng phân biệt bày đạo chơn (chánh).
Xưa ta đã làm việc làm khó
Rộng thí chúng sinh đồ uống, ăn
Phòng, nhà, thuốc thang chẳng thiếu thốn
Ta nay ai có thể não loạn?
Ta bỏ xe cộ cùng voi ngựa
Cũng như vậy, đồ báu trang nghiêm
Nô tỳ, thành quách và tụ lạc
Ai hay cùng ta gây não loàn?
Thê thiếp, trai gái cùng quyến thuộc
Ái trọng tự tại ngôi vị vương
Ta cho chúng sinh nhiều lợi ích
Sao nay thân ta phải hoại tan?
Ðầu, mắt và tai, mũi
Tay, chân, da, máu, thân
Ðem mạng cho sinh chúng
Ta, ai hay não loàn?
Vô lượng câu chỉ Phật
Tự tay ta cúng dường,
Thường ưa đa văn, giới (cấm)
Ta, ai hay hoại tan?
Làm vô lượng việc khó
Rất hay nhiếp phục lòng
Cắt khắp thân chẳng giận
Ta nay, ai não loàn?
Phiền não đã lui, thành Chánh giác
Với chúng sinh từ tâm ngang bằng (bình đẳng)
Mãi không ganh ghét và uế nộ (giận)
Không có người như ta hiện tiền.
Ta nay sức phá ma đã có
Hay đẩy lui ma nhiều không lường,
Quyết định cùng ông làm giải thoát
Vì sao sợ sệt chẳng vào thành?
Ðất này và mười phương sở hữu
Những đất nước Phật trụ ở trong
Ta thỉnh tất cả những vị đó
Và chúng Bồ tát đại thần thông.
Nguyện khiến thế gian đều đầy khắp
Và dùng phước trí xông thế gian
Trụ cùng họ như pháp thức (phép) Phật
Cũng trì thuận khả (thuận cho) của Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, vô lượng trăm ngàn vạn ức nadotha Atăngkỳ trời, rồng, Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải người.v.v... cùng với đại chúng tụ đến nhất thời đồng thanh xướng lên rằng:
- Hay thay!
Họ lại nói lên rằng:
- Nam mô! Hy hữu chưa từng có vô số tinh tấn cụ túc như đức Thế Tôn hôm nay! Nam mô! Nam mô! Ðại hy hữu, chưa từng có vô số tinh tấn cụ túc như đức Thế Tôn hôm nay! An ủi tất cả trời, người và các loài chúng sinh đều nhờ được độ thoát, đánh lùi các ma chúng, diệt tan cấu bẩn phiền não của chúng sinh, phá tan núi ngã mạn, chặt đứt cây thọ sinh, đập nát mặt trời sinh tử, trừ diệt bóng tối vô minh, khởi sinh niềm tin cho ngoại đạo, làm cạn nước bốn dòng chảy, thắp lên đuốc chánh pháp, bày ra đường Bồ đề, trao cho chúng sinh nhẫn nhục nhu hòa, du hí tam muội, sống với niềm vui thiền định, khắp khiến cho giác ngộ tứ Thánh đế đạo, đạo sư đại bi rộng độ chúng sinh, ở trong biển sinh tử, dẫn những trời, người vào thành vô úy!
Những trời, người, A tu la.v.v... đều dùng đủ thứ hương hoa vi diệu của trời, hương xoa, bột thơm, tạp bảo, vòng hoa cài tóc... đồ trang nghiêm tung lên trên đức Phật. Vì cúng dường đức Phật nên họ quét dọn, trang hoàng đường lớn, hẽm nhỏ, dùng áo báu trời, diệu hoa trời, the lụa trời che khắp trên đường. Họ lại mưa xuống hoa mạn đà la, hoa ba lô sa, hoa Ca lô già, hoa đại lô già, hoa Ưu bát la, hoa Câu vật đà, hoa Phân đà lợi.v.v... đủ thứ hoa sen theo bước đi của đức Phật mà bày ở dưới chân. Hai bên con đường ấy hóa ra cây trời với cành lá hoa trái đều dùng thất bảo mà trang nghiêm. Trên cây thất bảo lại hiện ra đủ thứ áo trời báu diệu, mũ trời, vòng ngọc đeo tai, vòng báu đeo tay... đồ trang sức nghiêm trang. Vùng những cây đó có ao hoa trời, giáp vòng bốn bờ ao ấy toàn là bảy báu, trong ao nước trong mát ngon lành, đầy đủ tám đức. Mọi thứ hoa sen báu và những loài chim kêu tiếng vi diệu, đủ màu... xen lẫn tràn đầy trong ao ấy.
Những thiên chúng đó cúng dường đức Phật nên ở trong hư không đều cầm tràng phan bảy báu và hoa cái, trang hoàng bằng đủ thứ dây vàng, lụa bóng, chân châu, chuỗi ngọc. Họ lại mưa xuống mạt (vụn) vàng, mạt bạc, mạt tỳ lưu ly và tung lên tất cả hương bột trầm thủy, hương bột đa già la, hương bột hắc chiên đàn, hương lá đa ma la. Họ lại mưa xuống hương thơm ngưu đầu ưu la già chiên đàn.v.v... đủ thứ hương bọt khắp ở trên đường. Họ lại mưa xuống dây vang đan nối với chuỗi ngọc chân châu, chuỗi ngọc ma ni, chuỗi ngọc như ý... phơi bày rực rỡ ở trong hư không, theo gió xoay vần. Trên những con đường, trong ngoài thành ấy, đều dùng đủ thứ đồ trang nghiêm của trời mà trang sức. Cho đến trong thành ma và quyến thuộc cũng dùng đồ trang nghiêm diệu bảo của trời mà nghiêm sức các con đường. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thương xót tất cả chúng sinh nên liền vào tam muội Thủ Lăng Nghiêm, tâm ngài chánh thọ. Vì đã vào định nên đức Phật bước đi từ từ ở trên đường, hiện ra nơi sắc thân đủ thứ vi diệu, tướng tốt uy nghi quanh minh hiếm có. Ở giữa đường bên trong thành ấy, ngài đứng ngay thẳng khiến cho tất cả chúng sinh trên đường đó đều thấy thân Phật. Nếu có người thờ Phạm thiên, ứng dùng thân Phạm mà được giải thoát thì đức Thế Tôn liền hiện thân Phạm mà hóa độ họ. Nếu có người thờ Ðế thích, ứng dùng thân Ðế thích mà được giải thoát thì đức Thế Tôn liền hiện thân Ðế thích mà hóa độ họ. Nếu có người thờ Na la diên, ứng dụng thân Na la diên mà được giải thoát thì đức Phật liền hiện thân Na la diên mà hóa độ họ. Nếu có người thờ Mê ê thủ la, ứng dùng thân Ma ê thủ la mà được giải thoát thì đức Phật liền hiện thân Ma ê thủ la mà hóa độ họ. Nếu có người thờ trời Tứ thiên vương, ứng dùng thân trời Tứ thiên vương mà được giải thoát thì đức Phật liền hiện thân trời Tứ thiên vương mà hóa độ họ. Nếu có người thờ Chuyển Luân Thánh Vương, ứng dùng thân Chuyển Luân Vương mà được giải thoát thì đức Phật liền hiện thân Chuyển Luân Vương mà hóa độ họ. Nếu có người thờ các tiểu vương, ứng dùng thân các tiểu vương mà được giải thoát thì đức Phật liền hiện thân các tiểu vương mà hóa độ họ. Nếu có người thờ bậc đại thần thông, có người thờ Sa môn, có người thờ đồng nam, đồng nữ, phụ nữ... thì đức Phật đều hiện những thân đó mà hóa độ họ. Thậm chí có người thờ sư tử, thờ rồng, thờ voi, thờ thỏ, thờ A tu la... đủ loại thân. Những chúng sinh đó ứng dùng uy nghi sắc tướng của những thân đó mà được giải thoát thì đức Như Lai đều hiện những hình tướng đó mà hóa độ họ. Khi đức Thế Tôn thị hiện đủ thứ như vậy thì tất cả chúng sinh đi trên đường đó thấy việc đó rồi đều chắp tay, đầu mặt sát đất, lễ bái, khen ngợi, vây quanh đức Như Lai, được điều chưa từng có. Nếu có người thờ voi, thờ rồng, thờ A tu la... cho đến nếu có người thờ thần thỏ thì những chúng sinh đó liền thấy đức Như Lai đồng hình tướng với thỏ đang uy nghi ở trên đường mà đi. Nếu có chúng sinh thờ Phật thì những chúng sinh đó liền thấy đức Như Lai đúng như uy nghi của đức Phật đang ở trên đường mà đi. Những chúng sinh đó đều chắp tay khen ngợi, lễ bái, cùng nhau nương theo đi sau đức Phật.
Lúc bấy giờ, tiên nhân Quang Vị ở núi Tuyết cùng năm trăm đồ chúng của ông bị sự điều khiển của ma, đi đến thành Vương Xá, đến chỗ đức Phật. Khi đó Quang Vị ở bên trong cửa thành, đứng đợi đức Như Lai, thấy thân Phật giống như người tiên, uy nghi hình tướng hiển phát trang nghiêm và thấy vô lượng trăm ngàn câu chỉ chư thiên vây quanh cúng dường. Thấy việc đó rồi, ông lại khởi ý niệm này: “Như người này quả là đại tiên nhân, có sự gia hộ lớn, đáng thọ sự cúng dường tối thượng của người trời và hiện ra tất cả thân phận trang nghiêm giống như bậc thánh trí. Hai người chúng ta, ai là tôn thắng? Trí tuệ ai hơn? Ta hôm nay làm sao rõ biết? Ông lại khởi ý niệm này: “Ta nên đến gần mà hỏi, do loài nào sinh ra? Do dòng họ nào? Thọ trì những gì? Do chí nguyện gì? Do những hạnh nào?” Tiên nhân Quang Vị tự quan sát đồ chúng, nói kệ như vầy:
Nay thấy đa văn phước đức lớn
Người trì đại hạnh ứng cúng dường
Tối Mâu Ni hay trì thiện đạo
Trí đại nhẫn nghĩa pháp đầy đủ
Các ông, tất cả lòng ân cần
Dùng đại phương tiện cúng dường luôn
Ta phải đến người công đức ấy
Nghe ngài giảng nói qua bờ kia.
Bấy giờ, tất cả đồ chúng ma na bà của Quang Vị đều cùng đồng thanh nói lời như vầy:
- Ðúng vậy! Thưa đại sư! Ngài nên làm như vậy!
Tiên nhân Quang Vị cùng các quyến thuộc kéo đến chỗ đức Thế Tôn. Ðến trước đức Phật rồi, họ chắp tay đứng mà nói như vầy:
- Nay ngài là ai?
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
- Ta là Bà la môn!
Tiên nhân lại nói:
- Họ ngài là gì?
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
- Họ ta là Cù Ðàm.
Tiên nhân lại nói:
- Chí ngài ưa gì?
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
- Ba cửa giải thoát!
Tiên nhân lại nói:
- Ngài làm những hạnh nào?
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
- Ta hành Chân-như tế!
Tiên nhân lại nói:
- Ngài xuất gia bao lâu rồi!
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
- Lâu như sự khởi lên của vô minh kia! Ta nay xuất gia cũng lại như vậy!
Tiên nhân lại nói:
- Như vậy đại tiên là tinh tú ứng hiện như điều minh ký (ghi sáng) đều tụng vậy chăng?
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
- Như đó bình đẳng, ta chẳng quên vị trí. Ðó sở hữu gì? Có gì kiên cố? Như tướng này thì trí thế gian biết.
Tiên nhân lại nói:
- Vì muốn khiến cho những người trí tuệ, lòng sinh hoan hỷ nên nói lời nói này.
Ðức Thế Tôn hỏi rằng:
- Sao gọi tên là câu tinh tú?
Tiên nhân đáp rằng:
- Hai mươi tám vì sao, mặt trời, mặt trăng đã nương theo chuyển động mà đi và đều y theo tám chỉ (ngón tay) tay ngang của người đó lấy làm phép đo lường. Mười hai lần tám chỉ đó dùng làm đo lường thân. Dùng một lần tám chỉ để đo lường đảnh. Dùng một lần tám chỉ để đo lường bàn chân. Như vậy là mười bốn lần tám chỉ. Ngài nên biết rằng, đó là câu phép đo lường tinh tú. Nếu giải như thế này lại không phép khác thì đều tùy theo người ấy có chỗ ghi núm vào để làm định pháp. Nếu chẳng vậy thì xin Ðại Mâu Ni lắng nghe! Tôi nay sẽ nói về câu tinh tú. Người sinh nhằm sao Mão thì ở bên mặt phải xuống chừng bốn chỉ có núm đỏ, đen, trên núm có lông. Người ấy trí tuệ vang lừng, kết tụ tài lộc, thế lực tương ứng xí thạnh. Người sinh nhằm sao Mão có tướng như vậy. Người sinh nhằm sao Tất thì trên thân có vết chừng độ bốn chỉ. Người ấy sáng suốt trinh thật, lòng thường giữ pháp, trí tuệ, tàm quí (xấu hổ), kết tụ tài lộc đầy đủ. Ở mọi lúc, lòng thường dũng kiện, có thể đánh thắng oán địch. Người sinh nhằm sao Sâm thì dưới cổ trước, trong bốn chỉ có vết đen. Tính người ấy dũng kiên, kết tụ tài lộc đầy đủ. Người sinh nhằm sao Chủy, thì từ đỉnh trở xuống độ một gang rưởi tay bên trái có núm. Người ấy tính nhiều sân si mà có kết tụ tài lộc. Người sinh nhằm sao Phú-na Bà-Tô thì ở dưới hông trái có vết đen. Người ấy của cải, lúa gạo đầy đủ và ít trí tuệ. Người sinh nhằm sao Phú Sa (Sao Quỉ) thì có tướng tối thượng, tướng luân trong tay giống như vừng mặt trời, thượng diệu đoan chánh, tướng tóc xoắn về bên phải, tất cả nương trụ thân trên viên mãn, có thể phá phiền não, làm đại đạo sư. Người sinh nhằm sao A Thất Lệ Sa (sao Liễu) thì ngực có vết đen, ưa đấu tranh, phạm giới, khó cùng ở chung, tính nhiều dâm dục (bảy sao trên là sao ở phương Ðông). Người sinh nhằm sao Mạc Già (sao Tinh) thì hoặc ngực, hoặc lưng mà có bứu nhỏ. Người ấy là thiện trượng phu có thể theo đúng pháp hạnh mà nhiều của cải. Người sinh nhằm sao Sơ Phá Cầu (sao Trương) thì bên phải hoặc bên trái rốn ắt phải có vết. Người ấy nhiều keo kiệt, chết yểu (đoản mạng). Người sinh nhằm sao Ðệ Nhị Phá Cầu (sao Dực) dưới rốn bốn chỉ nếu thấy có núm thì kết tụ tài lộc, trì giới đều mất hoại. Người sinh nhằm sao A Tát Ða (sao Chẩn) thì hông dưới cửa rốn phải có núm đỏ. Người ấy tính ưa làm giặc, dua nịnh, ít trí thông minh, phước mỏng. Người sinh nhằm sao Chất Ða La (sao Giốc) thì trên âm căn trai hay gái sẽ có cái núm. Người ấy, tính thuần trực mà nhiều ái dục lại ưa ca múa. Người sinh nhằm sao Tát Bà Ðể (sao Cang) thì hoặc là đầu nam căn hoặc ở dưới căn có núm vàng sinh. Người ấy, thọ tính nhiều tham, sân, làm não đại chúng mà không trí tuệ. Người sinh nhằm sao Tô Xá Khư (sao Ðê) thì từ háng trở xuống độ tám chỉ, bên trong tùy chỗ mà có núm đỏ sinh. Người ấy quyến thuộc đầy đủ, có nhiều đồng bộc (tôi tớ), ở địa vị khánh tướng, thông minh, tàm quí, dũng kiện, mưu lược, quả quyết, có thể thoái lui được oán địch, thường thọ an vui, mạng chung sinh lên trời (bảy sao trên thuộc phương Nam). Người sinh nhằm sao A Nô La Ðà (sao Phòng) thì từ đầu gối trở lên tám chỉ, bên trong nếu có bướu nhỏ thì người đó trì giới có pháp, kết tụ tài lộc đầy đủ. Người sinh nhằm sao Thệ Sắt Tra (sao Tâm) thì bên trong bắp vế có núm. Người ấy chết yểu, ngèo cùng, phạm giới, ít lòng từ, bị người ganh ghét. Người sinh nhằm sao Mộ La (sao Vĩ) thì trên vế phải có vết nhỏ. Người này có phước đức mà chóng diệt môn (cửa). Người sinh nhằm sao Sơ A sa trà (sao Ky) thì đầu gối có núm. Người này tính ưa xả thí, có thể biết đạo pháp, mạng chung sinh lên trời. Người sinh nhằm sao đệ nhị A sa trà (sao Ðẩu) thì ở trên cẳng chân phải có núm xanh. Người này tính ưa đấu tranh với người, chẳng nương cậy mà chẳng tín thọ. Người sinh nhằm sao Thất la bà (sao Ngưu) thì ở trên cẳng chân phải nhất định phải có hai núm. Người này thường giàu có, kết tụ tài lộc, thọ thân không bệnh, được sự yêu thích của mọi người, mạng chung sinh lên trời. Người sinh nhằm sao Ðà Nhĩ Sắt Tra (sao Nữ) thì trên cẳng chân có núm. Người này nhiều sân, ít tham, tuy có trí tuệ mà không kết tụ tài lộc (bảy sao trên thuộc phương Tây). Người sinh nhằm sao Xá Ða Tỳ Sa (sao Nguy) thì từ gối trở xuống mười sáu chỉ, bên trong có núm đen. Người này, tính ngu si, bị chết chìm. Người sinh nhằm sao Ðệ nhất Bạt Ðà La Bạt Ðà (sao Thất) thì từ chỗ gối cong trở xuống tám chỉ, trên xương đùi bên trong phải có vết. Người này làm cho người sân não, ngu si, bần cùng, ưa làm đạo tặc (trộm cướp). Người sinh nhằm sao Ðệ Nhị Bạt Ðà La (sao Tích) thì ở bên trong hổ khẩu phải có núm con. Người này ưa bố thí, trì giới, sức nghĩ nhớ lâu, có trí tuệ, có từ bi, tính không sở úy. Người sinh nhằm sao Lệ Bà Ðể (sao Khuê) thì người đó hạ tiện, tự nuôi sống. Người sanh nhằm sao A Thấp Tỳ Ni thì vùng ngón chân cái có núm xanh, thân không bệnh não mà thường có sức mạnh lớn. Người sinh nhằm sao Bà La Ni (sao Vị) thì ở dưới bàn chân có núm con. Người này thọ tính không bi, ưa làm tay đồ tể, phá giới, hành động ác, chết vào địa ngục (đây là nhóm sao phương Bắc). Như trên đã nói, đây tức gọi là câu tinh tú. Nhờ đây mà được biết tính hạnh của con người, giàu nghèo, tốt xấu. Nếu biết điều này thì có thể khiến cho chúng sinh đến với bờ kia.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tiên nhân rằng:- Ðây là sự thấy của kẻ phàm phu ngu si, nương lòng theo chấp trước, trụ ở hạnh phân biệt. Sự thấy hư vọng của phàm phu nóng nẩy bệnh hoạn như loài chó, rắn, cá, rùa kia. Nếu trong số đủ loại chúng sinh còn lại kia mà sinh nhằm sao Phú Sa này họ chẳng phải lạc phận (bằng lòng với thân phận). Như thần thông của ông được định giải thoát, ta lại có thể vì tất cả chỉ vẽ điều ấy. Ông nay vì sao chẳng hỏi ta?
Tiên nhân Quang Vị phát sinh đại hoan hỷ liền dùng kệ mà khen ngợi, thỉnh rằng:
Tiên nhân hình tướng người
Con thấy tướng tối thượng
Chẳng biết dòng họ ngài
Là trời, là người vậy?
AÂm thanh phép nói ngài
Giống như trời ÐạiPham
Sắc tướng, trì hạnh trì
Tương tợ tiên xa lắm.
Xưa đã chẳng thấy nghe
Tướng Mâu Ni đầy đủ
Thấy ngài đã nói gì?
Và nói tính ngài vậy.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền dùng kệ đáp Tiên nhân rằng:
Chẳng biết bờ đây đó
Nên có tưởng lập nên
Bị buộc tất cả khổ
Pháp khí chẳng phải ông
(Ông chẳng phải là đồ chứa pháp giải thoát)
Tánh ta là lục độ
Lục thông (của) Bà la môn
Nói sáu hòa kính đó
Phân biệt tu sáu căn
Ba pháp, ba giải thoát
Biết vô ngã ngang bằng (bình đẳng)
Khi tâm Bồ đề phát
Lúc đó ta xuất gia
Tướng ta chẳng thể được
Với vô tướng khéo tu
Không người, không thọ mạng
Biết vô ngã cũng rỗng
Ba thọ, ba pháp hành
Phân biệt tu rỗng không
Ta qua bờ trí đó.
Ðây nói không ai bằng (vô đẳng)
Không sở trước như không
Tâm Bồ đề tạo tác
Kia đầy đủ nhẫn lực
Sẽ được trí như trên.
Chẳng chấp trước các pháp
Người được báo (quả) cũng không
Giải thuận Như như vậy
Bồ đề (được) chẳng khó khăn.
Chẳng đứng ở các pháp
Và đây, đó chẳng nương
Phân biệt tu chân tế
Ðây sẽ được Thế Tôn (Như Lai)
Không tướng, không tướng tưởng
Có sở đắc xa luôn
Các pháp phi hòa hợp
Ðây sẽ được Thế Tôn (Như Lai)
Ông bỏ những tướng ấy
Hoặc lòng mình bỏ luôn
Ông giác bằng hư không
Như vậy sẽ được Phật.
Bấy giờ, khi đức Thế Tôn nói bài kệ này thì trong lúc không gián đoạn, tiên nhân Quang Vị cùng các quyến thuộc liền thấy hình tướng uy nghi của đức Thế Tôn trở lại như đức Phật trụ, lại được sự nghĩ nhớ. Họ tự nghĩ ra thuở xa xưa nhờ gieo trồng thiện căn mà được hiện tiền. Tiên nhân Quang Vị liền được Bồ tát tam muội tên là Bảo Tinh. Sự sở đắc tam muội đối với Bồ tát tam muội, tất cả quan sát thấy như ở tại cao tràng, quan sát thấy tất cả tam muội, sở đắc tất cả cảnh giới tự tại không có sự ràng buộc, lệ thuộc, chẳng nương theo sự thấy của người khác, không người có thể hủy hoại, không người có thể đoạt lấy. Tiên nhân Quang Vị liền ở trước đức Phật chắp tay mà đứng, hai tay dâng hoa, dùng kệ khen rằng:
Vô biên khen nói thật
Thế gian khéo cậy nương
Như Lai mắt tuệ sáng
Soi tất cả chúng sinh.
Vượt lên trên sinh chúng
Tinh tấn từ bi luôn
Cúi lạy đấng kiên cố
Ðạo sư, trước (chấp) tận cùng.
Ánh sáng màu vàng tía
Chạm chúng sinh thanh lương (mát mẻ)
Giác tất cả sinh chúng
Là nhờ Bồ đề công (đức).
Phật chuyển bánh xe pháp
Hay phá núi não phiền
Làm xong việc tối hậu
Trí Bồ đề mau thành.
Thầy thuốc trong sinh chúng
Tướng chân thật trang nghiêm
Nói ta sẽ đắc Phật
Ðạo sư trong chúng sinh.
Cắt hoại những lưới ái
Ðộ mình, độ chúng sinh
Từ lâu được Phật ký (Phật thọ ký)
Sẽ làm “Thương Trung Nhân”
Chúng sinh khổ trôi nổi
Biển Hữu khiến đưa sang
Chỗ Niết bàn yên ổn
Ðạo Vô Lậu đặt lên.
Sở hữu mười phương Phật
(Công) Ðức như biển mênh mông
Ðó vì con làm chứng
Hồi hướng Bồ đề tâm
Tất cả các sinh chúng
Ác não, khổ cực cùng
Ba đời và phước đức
Do thân, miệng, ý con
Và tất cả sinh chúng
Khổ diệt, Phật lạc thành
Chúng sinh khắp đầy đủ
Ðược thường trụ Niết bàn.
Bịnh chúng sinh tịch diệt
Nước phiền não khô khan
Các căn được trí tuệ
Tự tính thường vững bền.
Chúng sinh đến xứ chết
(sát xứ: chỗ làm cho chết)
Và chịu khổ buộc ràng
Ðức sáng của con sẽ
Khắp khiến giải thoát liền.
Mỗi một chúng sinh giới(cõi chúng sinh)
Ðược công đức vô cùng (như biển)
Ðược phước trí vô lượng
Tất cả vui đầy tràn (đầy đủ)
Bỏ những ác kiến đó
Chánh kiến mau thân gần
Nghĩ nhớ chỗ sinh trước
Chúng sinh được pháp hành.
Tất cả được thuyền pháp
Biển hữu, bờ kia sang
Ðã qua đến bờ đó
Ðược mọi pháp Thế Tôn.
Trụ lâu vô lượng kiếp
Mưa pháp vũ khắp cùng
Nước thanh tịnh mây pháp
Rửa sạch các chúng sinh
Nếu mọi việc làm ác
Của thân, miệng, ý con
Con phát lồ tất cả
Xin đức Phật chứng minh.
Con sinh lòng kính trọng
Nghiệp ác lại không làm
Chẳng thể nghĩ bàn Phật
Thường được thấy hiện tiền
Nếu có một phước đức
Hồi hướng Bồ đề liền.
Con nhân các sinh chúng
Nhẫn chịu mọi khổ nàn
Con khuyên các sinh chúng
Bồ đề thượng đạo hành (tu hành)
Các cõi, kiếp thanh tịnh
Và biển trí chúng sinh
Con được cõi thanh tịnh
Theo đó Bồ đề thành (chứng)
Ðược đồ chúng thanh tịnh
Trụ Ðịa, nhẫn sạch trong
Quyết định năm thần đạo (ngũ thần đạo)
Con được sư tử khen
Hiện bày trí vô trước
Ðạo sư thọ ký con!
Nếu khi định đắc Phật
Mọi pháp điều ngự xong
Hoa con tung lên cúng
Thành hoa cái trong không.
Những chúng trời, người, rồng...
Tất cả đến làm chứng
Con đảnh lễ Thế Tôn
Khiến đất đai chấn động.
Lúc bấy giờ, hoa của Tiên nhân Quang Vị tung lên đều trụ ở không trung, gần trên đảnh đức Phật, hợp làm một lọng hoa. Tiên nhân Quang Vị thấy việc này rồi thì vừa ý bội phần, không hy vọng gì khác nữa. Ông phát sinh ái lạc đệ nhất, hoan hỷ vô cùng, liền cúi đầu, hai gối quì xuống đất, làm lễ dưới chân đức Thế Tôn. Khi đại tiên Quang Vị lễ dưới chân đức Phật thì ngay tức thời, không gián đoạn, tất cả ba ngàn đại thiên thế giới sáu thứ chấn động và sở hữu vô lượng Atăngkỳ chúng sinh, trăm ngàn câu chỉ nadotha.v.v... của những thế giới đó đều đến tập hội, đều bi hỷ phát sinh cả kinh, kêu lên lạ chưa từng có.
Lúc đó, đức Như Lai tùy theo sự ưng thấy của các chúng sinh đó mà thị hiện đủ thứ thân. Kẻ ưng dùng hình voi mà giáo hóa thì liền thấy đức Như Lai như hình voi đó mà sinh lòng yêu thích. Họ lại thấy hoa của vị đại tiên nhân đã tung lên, trụ trên hư không biến thành lọng hoa và đất đai chấn động. Ðã thấy điều này rồi thì họ bội phần phát sinh lòng hy hữu, đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân đức Phật. Có chúng sinh ưng dùng thân Phật mà giáo hóa thì họ thấy đức Như Lai như thân tướng của Phật mà phát sinh lòng hy hữu. Lúc đó, đức Thế Tôn liền ra khỏi định, ngài từ tam muội Thủ Lăng Nghiêm an tường mà khởi lên. Vô lượng chúng sinh đã được giáo hóa đều thấy đức Thế Tôn thì không hy vọng gì khác nữa, đều rất vui sướng phát sinh lòng yêu thích, đều như sở đắc. Họ mang vòng hoa cài tóc (hoa man), y phục, hương bột, hương xoa, các đồ trang nghiêm... tung lên cúng dường.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền vì tiên nhân Quang Vị nói kệ thọ ký rằng:
Mau dậy nghe thọ ký
Ðạo sư nay vì nói
Ðại tiên được Bồ đề
Ðất động, hoa một lọng
Trong hư không trụ lại
Gia hộ không ai bằng
Ông được Lưỡng Túc Tôn
Lợi thế gian tự tại
Phật có phước vô biên
Biên lượng ngang hư không
Kiên cố trong ba cõi
Ðèn pháp soi thế gian.
Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Vị liền ở trước đức Phật cung kính mà bạch rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Con được cõi Phật giống tướng cõi nào? Con ở cõi đó chuyển bánh xe đại pháp?
Lúc đó, đức Thế Tôn bảo ngài Quang Vị rằng:
- Ðời vị lai, qua vô lượng atăngkỳ kiếp, ở địa phận phương Bắc có thế giới tên là Khai Phu Hương, có đầy đủ các tướng trang nghiêm như thế giới An Lạc ở phương Tây. Này thiện trượng phu! Ông sẽ ở cõi Phật đó được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiệu là Vô Cấu Hương Quang Thắng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Ðức Phật đó thọ mạng chừng mười trung kiếp, chỉ gồm có các Ðại Bồ tát, không có Thanh văn Bích Chi Phật thừa, thuần nói về Ðại thừa thanh tịnh vô thượng.
Ðại chúng nghe đức Thế Tôn thọ ký cho tiên nhân Quang Vị xong thì đều đem đồ cúng dường mang theo cúng dường cho tiên nhân. Năm trăm ma na bà.v.v... và chín mươi hai nadotha trăm ngàn câu chỉ chúng sinh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác và được tam ma đề Bồ tát Chẳng Quên Tâm Bồ đề.
- Quyển thứ tư - hết.
KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
Quyển thứ năm.
PHẨM THỨ NĂM: TƯỚNG
Lúc bấy giờ, hàng trăm ức những ma của ba ngàn đại thiên thế giới phát sinh ý niệm như vầy: “Nay đức Phật Thế Tôn vào cửa thành Vương Xá, chúng ta nên dùng sự trang nghiêm tối thượng để nghiêm sức bên trong cửa thành này và địa phương đó như sự trang nghiêm của trời, rồng, dạ xoa... ở bên ngoài thành đó”.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng trí tha tâm, biết được ý niệm trong lòng của trăm ức ma. Ngài muốn dùng sức thần thông sắc tướng tối thượng để trang nghiêm chỗ đức Phật. Lúc đó, đức Thế Tôn dùng sức thần thông, ở bên trong mười hai hai cửa của thành Vương Xá, trong mỗi một cửa đều có đức Như Lai và các đại chúng, cùng đi vào cửa thành. Trăm ức ma dùng thần thông đem Atăngkỳ những đồ trang nghiêm tối thắng trong đủ thứ thắng trang nghiêm để mà nghiêm sức cửa thành và địa phương. Tường thành, những cây cối, trên đất, trong hư không các ma cũng dùng đồ trang nghiêm thắng diệu mà trang nghiêm. Có hàng trăm ức ma cùng các quyến thuộc, hoặc có ma, hóa làm hình thể Phạm thiên... cho đến hóa làm hình dáng Ðại tiên, trụ ở trong cửa sổ, cửa của trùng các, công sự chống địch, rừng cây, đất trong các chỗ và trong hư không... Họ dùng đủ thứ hoa, hương bột, hương đốt, hạt vàng, hạt bạc... dùng Ma ni chơn châu và đủ thứ y phục trang nghiêm cùng những tơ dệt ngũ sắc, đồ trang nghiêm.v.v.. mưa xuống khắp nơi để cúng dường. Họ lại dùng đủ thứ âm nhạc trời, đánh trống, vỗ tay, đủ thứ khen ngợi, ca vịnh công đức không lường của đức Như Lai. Hết thảy đều tụ tập lại cúng dường đức Thế Tôn với những hình tướng rất hy hữu, trang nghiêm tối thắng đệ nhất, chưa từng có, chưa từng nghe như vậy.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đứng ở dưới cửa thành, dùng ngón bàn chân phải chạm vào ngưỡng cửa thì ngay tức thời liên tục tất cả ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động khắp và Ðế thích, Phạm vương, mặt trời, mặt trăng, chúa trời Hộ Thế, chúa trời Ðại Tự Tại, chúa của trời, rồng, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Già lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già.v.v... địa thiên, thủy thiên, trời biển cả, trời các núi, trời của thành ấp.v.v... và các nam nữ, đồng nam, đồng nữ chúng thiên tiên.v.v... cho đến cung trời A Ca Ni Sấc trong ba ngàn đại thiên thế giới, cũng đã đến. Chúng sinh sở hữu được vị thêm nhuận, sắc mạo mơn mởn. Tất cả chúng đó thấy đất đai động, ánh sáng chiếu đều giác ngộ. Ở đại thành Vương Xá và trên hư không, họ vây quanh mà đứng... cho đến họ dùng hương hoa, bột thơm hắc chiên đàn tung lên cúng dường đức Phật. Lúc đó, đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức thần thông khiến cho hoa tung lên đó cho đến hương bột phổ biến khắp những cõi nhiều như vi trần trong mười phương. Mỗi một phương sở hữu các cõi Phật thanh tịnh và chẳng thanh tịnh, không và chẳng không.v.v... đều cúng dường cung cấp hoa hương cho các đức Phật ở đó. Những hoa tung lên này cùng các hương bột, đồ trang nghiêm.v.v... ở từng cõi Phật đó đều phát ra tiếng của câu kệ như vầy:
Các ngươi mau giác ngộ
Quán hạnh chẳng buông lung
Nhân Bồ đề tối thượng
Lưu chuyển lậm tử sinh
Ngươi nay ta cứu vớt
Mau bỏ việc thế gian.
Nhớ thuở xưa thệ nguyện
Thành thục đến tương ưng
Ðều được Bồ đề ký
Mâu Ni thiên đế vương
Vì thế gian lợi ích
Nay vào Vương Xá thành.
Ðại tiên Vô Ưu Thắng
Trăm ức ma đã hàng (phục)
Chuyển pháp luân thanh tịnh
Nên phải rất vui mừng.
Thế gian lợi như vậy
Bày khắp việc dũng cường
Giải thoát thế gian khổ
Nay vì “ma lợi sa” (?)
Sẽ được đạo Bồ đề
Nay trao các ngươi ký
Mau đến đất nước kia
Thấy trang nghiêm diệu hảo
Như vậy được tự nhiên
Vào thành Vô ưu đó
Hành Bồ đề dần dần
Quyết định sẽ đắc Phật.
Bấy giờ, từng đại chúng của tất cả các cõi Phật nhiều như vi trần trong mười phương, nhờ Phật lực nên đều thấy đại chúng Bồ tát Mahatát nơi rừng trúc của Phật này, mỗi mỗi đều tư lương tam muội. Lúc đó các vị Ðại Bồ tát có trong rừng trúc tư duy an trụ cùng với các Thanh văn, Ðại Thanh văn đều thấy đức Thế Tôn ở cửa thành Vương Xá điều phục đứng đợi. Những đại chúng đó theo đức Thế Tôn đứng sau. Họ nghe thấy trong đồ đại trang nghiêm phát ra các kệ rồi thì đều đầy khắp tất cả cõi Phật không chẳng không, tịnh chẳng tịnh nhiều như vi trần trong mười phương. Những vị Ðại Bồ tát và Thanh văn có trong những cõi Phật đó nghe tiếng kệ này rồi thì khởi lên ý niệm như vầy: “Chỗ nào có tiếng pháp này mà đầy khắp tiếng vừa ý như vậy, mỹ diệu như vậy, đáng yêu như vậy, đáng vui như vậy, đáng mừng như vậy, khuyến phát như vậy, tiếng xưng dương công đức lớn như vậy”. Và họ thấy hoa, hương bột mưa xuống, mưa xuống khắp mười phương vô lượng đồ trang nghiêm, mưa xuống vô lượng bột mịn hoa hương. Các vị Ðại Bồ tát và Ðại Thanh văn đó bỏ hết nghiệp đã làm, đều rất kinh ngạc, ngợi khen.
Bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai liền vào tam muội tên là Y Phật Trang Nghiêm Nghiêm Sức tam muội. Ðức Phật vào tam muội rồi thì ngay tức thời, không gián đoạn, tất cả đại chúng đã có trong thế giới Ta Bà và tất cả cõi Phật nhiều như vi trần ở mười phương đều thấy tướng đại trang nghiêm như vậy trong cõi Phật này. Như trong đời vị lai kia đều thấy đức Như Lai thanh tịnh vô nhiễm gom công đức của thế giới mà trang nghiêm. Chỉ có một việc là vách thành.v.v.. mà tự nhiên trang nghiêm. Tất cả các đức Phật Thế Tôn của thế giới nhiều bằng vi trần của các cõi Phật trong mười phương, đều thấy đức Thích Ca Như Lai trụ ở thành Vương Xá, quang minh, hiển hách rất là đoan nghiêm. Ðại Bồ tát Mahatát và Ðại Thanh văn có trong các cõi Phật đó, nghe bài kệ này rồi, từng người đều nhớ nghĩ, quan sát bốn phương, thấy thế giới này như đối diện trước mắt, nhờ lực cảnh giới của tất cả chư Phật và thấy đủ thứ trang nghiêm của chư thiên. Các vị Ðại Bồ tát và Ðại Thanh văn đó khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chúng ta quyết định đi đến cõi đó, chỗ trang nghiêm trong đại tập hội và quan sát khắp cõi Phật công đức trang nghiêm đó. Thấy đức Thích Ca Như Lai rồi, tu hành, cúng dường, chúng ta ở chỗ đức Phật đó, được thọ ký Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Các vị Ðại Bồ tát và Ðại Thanh văn của những thế giới nhiều bằng vi trần của tất cả cõi Phật trong mười phương đó nhờ thần lực của đức Thích Ca gia hộ nên đều ở cõi Phật của mình, chừng trong khoảnh khắc một sát na, họ biến mất ở đây, hiện đến thế giới Ta Bà. Mỗi một phương của mười phương có vô lượng vô số cõi Phật với số Ðại Bồ tát nhiều như vi trần, tất cả đều đi đến cõi Phật này, đứng đầy khắp trên đất và trong hư không. Các vị Ðại Bồ tát đó đều nương ngần ấy lực của đủ thứ thiện căn của Bồ tát để chuẩn bị cúng dường đức Thích Ca Như Lai. Ðể thiết trí việc này, hoặc có Bồ tát, ở cõi Phật này, mưa xuống đủ thứ hoa, đầy khắp tất cả, để cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có Bồ tát mưa xuống đủ thứ chơn châu... cho đến có Bồ tát mưa xuống vàng, bạc, tỳ lưu li, pha lê, thạch tạng bảo mộ tát la, ngưu đầu chiên đàn, long kiên chiên đàn, đa ma la diệp... đều dùng bằng bột mà mưa xuống đầy hư không làm đồ cúng dường để cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có Bồ tát mưa xuống đủ thứ những đồ trang nghiêm để nghiêm sức, y phục, lụa dệt ngũ sắc... làm đồ cúng dường để cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có Bồ tát dựng lên những tràng phan, lọng hoa, làm đồ cúng để cúng dường đức Thế Tôn.Hoặc có Bồ tát đốt đủ loại hương thơm, hoặc tung lên đủ thứ vòng hoa cài tóc, hoặc tấu lên đủ thứ kỹ nhạc. Hoặc có Bồ tát thị hiện đủ thứ ca múa, hoặc có Bồ tát dùng đủ loại nước thơm mưa xuống đất phương này mà tưới cho thấm nhuần. Hoặc có Bồ tát dùng đủ thứ bảo khí đựng đủ loại báu ở trước đức Thế Tôn dâng lên cúng dường. Hoặc có Bồ tát dùng đủ thứ bảo khí đựng đầy nước thơm trang nghiêm bằng hoa, trái và lá cây rồi ở trước đức Thế Tôn dâng lên cúng dường. Hoặc có Bồ tát dùng đủ thứ cây báu, đủ thứ thiên y trang nghiêm bằng hoa quả, cất tay dâng lên ở trước đức Thế Tôn, làm đồ cúng dường. Hoặc có Bồ tát hóa làm thân trời Ðại Phạm chắp tay ở trước đức Phật... cho đến nói rộng ra như trước đã làm. Hoặc có Bồ tát hóa làm hình tướng sư tử ở trước đức Thế Tôn lễ bái như vậy. Những chúng sinh đó nhờ thần lực đức Phật và sức thiện căn của mình gia hộ hỗ tương quan sát nhìn thấy mà ở nhãn căn của mình chẳng thủ lấy các sắc. Do đức Thế Tôn hiện ra tướng như vậy và sự tạo tác đại cảnh giới của ma vương, sự tạo tác ngần ấy cảnh giới của trời. Và do đức Như Lai tự niệm xứ, chánh đoạn, thần túc, căn, lực, giác đạo, mười tám pháp bất cộng của chư Phật mà biến hiện ra ngần ấy cảnh giới. Tất cả theo sau đức Thế Tôn vào đại thành Vương Xá, hướng về chỗ của hoa sen ở giữa đường lớn đó. Ðức Thế Tôn đến rồi, dùng bàn tay phải xoa cánh hoa sen mà kéo lại trụ. Hoa sen đó nhân bị kéo động nên ở cõi Phật này nơi chỗ ngồi của tất cả ma cung đều chấn động. Chỗ cư trú của nam nữ quyến thuộc của ma và của các đồ chúng đều phát sinh sợ hãi kinh ngạc mà trụ. Chúng tự nói với nhau rằng:
- Không nhân, không duyên mà cung thất này của ta chấn động như vậy? Không lẽ cảnh giới ma vương chúng ta tự mất địa vị sao? Không lẽ pháp tiêu diệt cung thất, chỗ ở của chúng ta ở sự khởi động này sao? Hôm nay chúng ta quyết phải quan sát!
Các ma đó thấy việc như vậy rồi thì khởi lên ý niệm như vầy: “Ðất nước Phật này xưa là ngũ trược, hôm nay ai có thể lại khiến cho trang nghiêm vi diệu rất đáng yêu thích như vậy?” Các ma đó ở chỗ cư trú của cảnh giới mình, cùng với quyến thuộc đều biến mất, chỉ thấy đức Thích Ca Như Lai với ba mươi hai tướng, tướng của bậc đại nhân, đầy đủ trang nghiêm, quang minh rực rỡ, hiển chiếu rất lớn. Ở tất cả ba ngàn đại thiên thế giới và tất cả cõi Phật này có đủ thứ hình tướng, sắc mạo chúng sinh hiện trú khắp cùng mà không một chúng sinh có thể nhận thức. Tất cả vô lượng chúng sinh đó, ở trước đức Thế Tôn, đều thấy chuẩn bị làm việc cúng dường. Các ma đó khởi lên ý niệm như vầy: “Chúng ta quyết định đi đến chỗ đức Thích Ca Như Lai. Thấy ngài rồi, lễ bái đồng thời thỉnh vấn ngài, Ma vương chúng ta cùng các quyến thuộc, ngày hôm nay đều đi về đâu vậy?” Bấy giờ, hàng trăm câu chỉ ma thế giới Phật này cùng các quyến thuộc đi đến chỗ đức Thế Tôn. Ðến rồi chúng cung kính trụ ở trước đức Phật. Ma vương hướng về đức Phật cúi mình, chắp tay cung kính nói kệ như vầy:
Con đem lòng thanh tịnh
Qui y đức Thế Tôn
Mau thả con đi khỏi
Pháp hạnh từ nay làm.
Bấy giờ, đức Thế Tôn
dùng kệ đáp lại rằng:
Một người ta chẳng ngăn
Lai giả và khứ giả
Nếu đạo người biết thông
Ra đi theo ngươi muốn.
Bấy giờ, Ma vương lại nói kệ rằng:
Như muốn đi của con
Niềm vui tự cung thất
Nay thấy năm thứ buộc
Trói buộc của Cù Ðầm.
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:
Ta đoạn các phân biệt
Tự giải thoát thế gian
Ta đã mở trói buộc
Khiến người lìa não phiền.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền dùng Phật nhãn xem thấy chúng sinh đầy khắp đất và hư không của tất cả cõi Phật này, mà nói kệ rằng:
Các ngươi nay nghe kỹ
Tất cả người có mặt
Xả bỏ các nghi hoặc
Vừa đều trụ mặc nhiên.
Thế gian Phật khó gặp
Cũng khó gặp Pháp, Tăng
Khó đầy đủ tịnh tín
Hành Bồ đề khó khăn.
Thân cận ở trước Phật
Nghe pháp rất khó khăn
Hay tu hành các nhẫn
Nhất thời cũng khó khăn.
Ðiều phục tâm là khó
Và tu ở hạnh “không”
Hay đoạn các phân biệt
Tất cả ác thế gian.
Hạnh Bồ đề khó được
Như hạnh ta trước tiên
Ta sẽ vì ngươi nói
Chỉ có một hoa phần (một phần tinh hoa).
“Ấm” tối khiến diệt hoại
Thị hiện đạo không trên (Vô thượng)
Bồ đề, người sở đắc
Ba cấu, nay đoạn liền.
Nghe đại sư khéo nói
Qua bờ kia các dòng
Bỏ các đại khát ái
Ba giải thoát lập nên
An lập ở ba hộ...
Ba cõi, các não phiền
Diệt tan không còn nữa.Tam Bảo, ngươi cúng dường
Lại vì pháp nên đến
Ma, trời và Thế Tôn
Ba đời đều gia hộ,
Ba đời hoặc che lòng
Ðều được Tối Thắng đoạn (dứt)
Giải thoát ba cõi thành.
Nhẫn diệt tan phiền não
Và bốn thứ đảo điên
Các phàm phu điên đảo
Thể tính phân biệt không.
Ðó chẳng phải nhẫn khí(đồ chứa nhẫn)
Mắt... đắm trước sắc hình
Thân, miệng, ý che lấp
Ðó không có bốn Thiền (định).
Thân cận với sinh tử
Người trí tuệ thông minh
Hay tu hành thiền định
Giải thoát nay chứng thành.
Lìa khỏi bốn điên đão
Và giải thoát chúng sinh
Cứu bốn dòng tự tại
Các khởi, diệt biết thông.
Kẻ nhu hòa đã có
Bờ kia sẽ được sang
Bồ tát đủ bốn hạnh (?)
Vô sở úy kèm thêm
Chánh trí đều hay đoạn
Các hữu trói chúng sinh (trói buộc của hữu)
Hay hiểu biết năm ấm
Không lậu, lìa buộc ràng
Chẳng lại thỉnh thoảng sinh
Ðến bờ kia biển Hữu.
Các ngươi trước Thế Tôn
Mau phát lộ các ác
Các ác đoạn không còn
Ðến bờ vô úy đó.
Sở hữu sinh tử khổ
Người theo thọ hữu vi
Thường thường sinh các hữu
Ðuổi theo với ác hữu (bạn ác).
Bạn ác phải xa lìa
Ðoạn trừ các ác kiến
Nhớ nghĩ khổ tử sinh
Tu tập Ðệ nhất nghĩa.
Nên uống nước vô thượng
Nên tu tập pháp không
Thể đệ nhất nghĩa không
Không thật cũng không tướng
Sáu căn giống như không
Trong này không tác giả.
Phân biệt tướng như trên
Chỉ phân biệt không pháp
Sáu thọ, sáu ái cùng
Sáu xúc là gốc ấy.
Sáu xúc vào như vậy
Cùng cần hiểu biết không
Quan sát không tất cả
Như pháp tự tánh thể.
Không khởi, không diệt tan
Trong này thấy không thật
Các pháp, pháp tánh đồng
Ba đời không một vật.
Nếu biết nhiệt não không
Ðạo này tối vô thượng
Lìa mười ba ngã tướng
Chúng sinh tưởng phân biệt
Tu Sàn đề như vậy
Ðó được giải thoát liền.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, do phước lực vô ngại mà không sở úy, nương theo sự gieo trồng thiện căn nên có thể biến hiện, phát ra âm thanh đại viên mãn vang khắp mười phương, nói kệ như trên.
Bấy giờ, mười phương vô lượng a súc tỳ hằng hà sa thí dụ những thế giới ngũ trược không chẳng không (rỗng) đều nghe diễn nói viên âm này. Nghe âm thanh này rồi, trong khoảnh khắc sát na, vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ na do tha chúng sinh sở hữu của mỗi một vô lượng cõi Phật đều không sở dục, chỉ có lòng yêu thích thanh tịnh. Vào thuở xưa, họ đã được bất thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hoặc đã được đủ thứ Tam ma đề, Sàn đề Ðà la ni. Vô lượng vô số chúng sinh đã tập họp ở chỗ đức Phật này nghe được câu nghĩa văn tự này rồi liền được Bất thoái chuyển. Lại có vô lượng vô số chúng sinh đối với pháp ba thừa đều theo được độ.
Lúc bấy giờ, đại Bồ tát Quang Vị dùng thần lực của mình hóa làm thềm bảy báu, dùng hoa trải khắp lên thềm ấy làm tòa hoa sen. Muốn cho đức Như Lai thăng lên tòa này nên Bồ tát hướng về đức Phật cung kính cúi mình chắp tay, nói kệ như vầy:
Phật, trăng Nhất thiết trí
Quán bịnh tử thế gian
Ưu hoạn bị chìm đắm
Ðộng chẳng động thế gian.
Vì họ làm cầu pháp (pháp kiều)
Phật thấy cõi đầy tràn
Chúng sinh nhiều vô lượng
Chắp tay đợi Thế Tôn.
Phân bố thí pháp hội
Thị hiện sở đắc mình
Phá chúng sinh phiền não
Trí phương tiện tuyệt vời
Ở đây thị hiện khắp
Phật lên tòa hoa sen
Mưa khắp mưa đại pháp
Tất cả Phật mười phương,
Và Ðại Tiên trí khác
Cùng Phật làm chứng minh
Ðấng Mâu Ni Thiên Ðế
Hàng phục đại ma vương
Tự tính không, không có
Biết pháp như hư không
Nhớ nghĩ xưa thệ nguyện
Chuyển vô thượng pháp luân.
Nay phải cứu sinh chúng
Ðang trụ ở bốn dòng
Vua sư tử trong người (loài)
Pháp này, Phật biết thông.
Khiến qua biển ba hữu
Phật nói pháp thâm diệu
Trừ tội cấu sinh chúng
Ðại trí tuệ Thế Tôn.
Lợi ích các sinh chúng
Ðạo Thiện Thệ đặt yên.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thăng lên đài hoa sen của tòa ngồi Bát Ðầu Ma trên thềm báu như đã hóa ra ấy. Ðức Như Lai ngồi rồi, quan sát khắp tất cả đại chúng mười phương, bảo ma vương rằng:
- Ông nay ở đây nên sinh vui mừng. Do nhân duyên ông nay được pháp môn Ðại Tập chỗ này! Khi nói pháp này, vô lượng vô số chúng sinh sở hữu đời nay và đời sau đều được giải thoát. Bốn dòng, ở thai, ương ngạnh, già chết khắp đều được độ, trụ ở đạo cát Tường. Lại nữa, pháp này khiến cho họ được trí ngang bằng hư không. Này Ma vương! Nay ông đứng đầu ở xứ này, khiến cho các chúng sinh tăng trưởng căn lành. Này Ma vương! Ông có thể thỉnh ta nói pháp, khiến cho chúng sinh cao mạn trong chúng hội này qua được các dòng mà ta sẽ vì họ nói pháp.
Lúc đó Ma vương nói kệ như vầy:
Cù Ðàm nếu không lỗi
Và không mạn không sân
Sao làm ta kinh động?
Nay nói Ðại pháp chân.
Như ông có mạn sân
Thì sao được giải thoát?
Ta nay chưa xét biết
Mâu Ni nói vì ta!
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng kệ tụng đáp ma vương rằng:
Ta ở thai mười tháng
Việc đó đồng thế nhân
Ta mà ngươi muốn hại
Ta đều không ghét hờn.
Ta nhẫn độ các ác
Ác bẩn đều không còn
Ta đã sinh cõi thế
Ông lại lay đất rung.
Hại ta, mưa đá xuống
Lại muốn sữa ta tan
Khiến sữa mau khô kiệt
Việc chẳng yên không lường.
Giống gì mà chẳng tạo
Khi ta trụ ở Thiền
Sai ma nữ não hại.
Khi ta đi xin ăn
Ngăn người chẳng cho thí
Thỉnh ta làm quốc vương
Cho ta bị sinh tử.
Khi xuất gia vượt thành
Lại khiến đêm hắc ám(đen tối)
Binh chúng vây quanh thành
Ðều do ông tạo tác
Ta cưỡi thần thông sang
Ông lại tuông mưa gió
Khiến đất thành hầm hố
Cát đá chất đầy đường
Ta trụ rừng tịch tịnh
Ngươi tạo úy ác thanh
Ta ở chỗ khổ hạnh
Ngươi thổi gió rét run.
Tại sông muốn qua khỏi
Dòng nước dữ, ngươi tuông
Hiện làm mãnh sư tử
Ngươi muốn giết ta liền.
Khi ta muốn ăn uống
Ngươi bỏ độc thức ăn.
Ta đến Bồ đề thọ
Tuông mưa đá Kim cương
Mưa dao tên, binh khí.
Cà sa và y phục
Ngươi đều muốn làm bẩn.
Ta ngồi tòa Kim Cương
Lợi ích các sinh chúng
Lúc đó ngươi cũng đem
Con gái đến não hại.
Ngươi cùng chúng tướng quân
Khi hại ta chẳng nhớ
Ý ta không vi trần (mảy may)
Ðối với ngươi tác loạn
Ðạo Vô thượng ta thành
Ngươi từng bị hàng phục
Ngươi nay không thẹn thùng
Lại nói lời ác đó.
Phương tiện ác lại dùng
Ðể não hại Ca Diếp
Chúng sinh thiện không lường
Ngươi đều đã diệt hoại.
Ngươi đã không buồn thương
Nay lại muốn hại ta.
Ta vào thành xin ăn
Lại thả voi say dữ.
Ðá lớn, Ðiều Ðạt lăn
Ba tháng ăn đại mạch (lúa đại mạch)
Tôn đà la ác thanh
Hầm lửa, đồ ăn độc
Là đều do ngươi làm
Nhất định nghiệp ác nặng.
Xưa ông hướng đạo tràng(đạo thọ)
Uy lực cùng quân chúng
Dùng vô lượng dao, tên
Muốn hại ta mang đến.
Chẳng động ta sợi lông
Vì sao còn ở đấy?
Như bị say độc hại
Câu chỉ ma dấy lên
Na do tha sinh chúng
Cõi Phật này đầy tràn
Chứng biết ta như vậy.
Ta trụ Từ bi tâm
Xót thương đến tất cả
Mà ngươi với ta luôn
Tạo chướng ngại cực ác.
Các đấng tôn Tịch Mặc (Mâu Ni)
Nhân Ðà La Ngưu vương
Vì ta hiện chứng biết.
Ta nay ở thời ác
Làm công việc Thế Tôn.
Ta đã vì sinh chúng
Trụ ở giải thoát tâm.
Giả sử ngươi gia (thêm) ác
Nhẫn nhục ta chẳng buông
Ta không ý tật đố (ganh ghét)
Uế ác, các lỗi lầm.
Ta theo ngươi nhiếp độ
Cần lao như vậy luôn.
Ta muốn ngươi tịch diệt
Nên thỉnh ta tuyên dương
Pháp cam lộ đệ nhất
Khiến ba cõi tịch nhiên (diệt).
Vì ngươi trừ nghiệp ác
Ý ngươi mau sạch trong(thanh tịnh)
Ở ta sinh nương cậy
Lòng ta luôn sạch trong
Muốn khiến ngươi giải thoát
Ông thường mang ác tâm
Nên phải bỏ ác kiến
Ý tạo tin sạch trong.
Ông nay phải hiểu biết
Ðược thọ ký rất gần (chẳng lâu).
Lúc bấy giờ, Ma vương ở chỗ đức Phật lại càng thêm sân hận. Từ việc muốn đi mà tự biết năm trói buộc này, ma liền muốn phát ra tiếng đáng sợ nhưng lại chẳng thể phát ra được. Do sức sân của mình phát ra khí nhiệt độc. Khí ấy của ma mạnh nhiều muốn hại đức Như Lai. Khi đó, đức Thế Tôn dùng lực từ thiện biến ác khí này thành lọng hoa Tô Ma Na che khắp tất cả cõi Phật trong mười phương. Ở tất cả các cõi Phật thọ mạng yên ổn hiện đang nói pháp thì lọng hoa Tô Ma La, ở trong hư không, trụ gần đỉnh Phật. Các Ðại Bồ tát có trong các cõi Phật đó, mỗi mỗi đều thỉnh vấn rằng: “ Nay lọng hoa này từ đâu mà đến? Là sự biến hóa của thần lực người nào?” Các đức Phật đó đều đáp câu hỏi của các Bồ tát rằng: “ Này các thiện nam tử! Nơi kia có thế giới tên là Ta Ha, cõi ngũ trược bất tịnh. Nơi đó có đức Phật Thế Tôn hiệu là Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà, do bổn nguyện lực nên đã thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang nói pháp, vì muốn tiêu diệt cảnh giới lực của các ma, kiến lập tất cả các Phật lực, cảnh giới Phật vô sở úy, kiến lập đèn Tam Bảo Chủng, giáo pháp của tất cả chư Phật... khiến cho trụ thế lâu dài. Ngài muốn cho tất cả thiện căn tăng trưởng nên dùng thần lực tinh tấn biến hóa hàng phục tất cả oán địch ngoại đạo. Tất cả đều kinh sợ, chẳng vui mừng tranh luận. Ác mộng, ác tướng, oán địch, trong ngoài, đấu tranh trói buộc, nói năng chẳng hòa, nước, hạn, phóng túng, tằn tiện, mưa chẳng phải lúc, lạnh, nóng, gió, ẩm, bệnh khí, dịch lệ, tiếng ác... đều tiêu diệt hết. Tất cả trời, rồng, dạ xoa, người, chẳng phải người.v.v... đều khiến cho quay lại hướng về. Tất cả sát lợi cũng khiến cho quay lại hướng về (hồi hướng). Răn bảo bốn họ ngài dùng pháp nghĩa. Ngài thắp đuốc trí tuệ, bày ra đường chính. Chúa người của tất cả nhà cửa, thành ấp, tụ lạc đoạn dứt việc. Vương cung quốc vương, chỗ quán chợ nhân dân đều khiến cho quay lại hướng về. Tất cả ánh sáng tinh tú, ngày đêm vận hành, nửa tháng, một tháng, thời tiết hàng năm.... đều vận hành chính đáng. Tất cả ngũ cốc, hoa trái, dược thảo.... đều thành thục. Tất cả công xảo sanh nghiệp nơi nào cũng không tán thất, đều thành tựu. Tất cả tội lỗi của nghiệp thân, miệng, ý đều được tiêu diệt. Trù lượng khéo làm, niệm tuệ tổng trì, dũng mãnh vô úy, sắc tướng lạc thuyết... đều tăng trưởng. Tất cả pháp không chướng ngại, minh giác pháp bốn Thánh chủng, tạo tác thọ trì, quang hiển Ðại thừa, tăng trưởng Ðại Bồ tát, an ủi Bất thoái chuyển địa. Lòng Kim cương làm hộ trì, làm mười địa (thập địa) một vị (mùi vị). Hiểu vô sinh pháp nhẫn, thọ chức Phật, kiến lập Bồ đề. Chúng sinh đã được hóa độ như đã theo nhiếp lấy mà chuyển bánh xe đại pháp. Ðại bi che khắp tất cả chúng sinh. Trụ ở Ba la mật. Trụ ở đạo Vô thượng. Mưa xuống pháp vũ. Dùng pháp thêm vị làm sung túc chúng sinh. Thỏa mãn việc của tất cả chư Phật. Giải thoát tất cả cảnh giới bốn ma. Kiến lập cõi Vô dư Niết bàn. Ðức Phật đó có ấn Ðà la ni tên là: “ Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Nhập Sai Biệt Ký” muốn nói. Tất cả đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà đời quá khứ gọi là Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký, thọ trì hỗ tương tùy hỷ. Và các đức Phật hiện tại mười phương đang trụ thế nuôi dưỡng thọ mạng. Tất cả các đức Phật cũng nói Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký, hiện nói, thọ trì hỗ tương tùy hỷ. Ở đời vị lai, các đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà khác của thế giới mười phương, nếu có các đức Phật sẽ ra đời thì cũng nói Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký cũng sẽ nói, thọ trì, hỗ tương tùy hỷ”.
Bấy giờ, Bồ tát sở hữu của các cõi Phật đó, mỗi mỗi đều thỉnh đức Phật rằng: “ Ðây là pháp gì? Từ xưa, con chưa nghe Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký có thể tạo tác vô lượng lợi ích như vậy, có thể đầy đủ pháp lợi chẳng thể nghĩ bàn như vậy, có thể tạo tác ánh sáng không chướng ngại của tất cả pháp... cho đến tịch diệt. Khi các đức Phật Thế Tôn nói Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký này thì tất cả cảnh giới ma lực bị tiêu diệt... cho đến ở Vô dư Niết bàn đó mà Bát Niết bàn, đối với các chúng sinh lợi ích không lường, an lạc không lường. Vì thương xót thế gian nên gom lại cho chúng sinh, người trời lợi ích, an lạc không lường”. Các đức Phật đó bảo các Bồ tát kia bằng lời như vầy: “ Này thiện nam tử! Ta cũng cùng với ông đi đến thế giới Ta Bà đó, trụ xứ của đức Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà. Ðã có Thế Tôn hiện tại trong mười phương nuôi dưỡng thọ mạng. Các đức Thế Tôn đó của các thế giới khác cùng với tất cả Bồ tát vây quanh trước sau và tăng Thanh văn theo hầu ở trước. Các đức Thế Tôn đó cũng sẽ đi đến chỗ đức Thích Ca Như Lai kia mà tập hội lớn. Ðức Thích Ca Như Lai kia cùng với chư Phật cũng sẽ nói Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký này, sẽ chung thọ trì sẽ hỗ tương tùy hỷ. Vì lợi ích chúng sinh, ngăn ngừa hạnh nghiệp ác, làm đầy hạnh hiền, đầy trí Vô thượng, nên tất cả chư Phật hôm nay đều vân tập ở chỗ đó cùng với các Bồ tát, tăng Thanh văn.v.v... vây quanh theo hầu. Hôm nay tất cả đều hiện tiền ở chỗ đức Phật đó. Nếu các ông muốn được Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký này thì nên đi đến đó nghe và muốn cúng dường các đức Phật Thế Tôn của tất cả cõi Phật nhiều ví như cát sông Hằng vô số vô lượng, nhất thời muốn thấy những đức Phật đó. Cái mà xưa chưa thấy như cảnh giới chư Phật, cảnh giới Bồ tát, cảnh giới chư thiên, cảnh giới các ma, sự trang sức của cõi Phật trang nghiêm... và muốn thấy những cái đó, xưa chưa thấy vô lượng đức Phật tập hội thì hôm nay chính là lúc chúng ta hãy cùng đi đến thế giới đó, trú xứ của đức Thích Ca Như Lai mà đại tập pháp hội (tập họp lớn mở pháp hội)”. Các vị Ðại Bồ tát kia đều bạch đức Phật đó rằng: “ Ðúng vậy! Ðúng vậy! Thưa đại đức Thế Tôn! Chúng con sẽ cùng với đức Như Lai đi đến xứ đó, thế giới Ta Bà, chỗ của đức Thích Ca Như Lai mà tập họp pháp hội. Ở chỗ đức Phật đó, nghe được cái từ xưa chưa nghe là nghe pháp Kim Cương Tồi Toái Tâm Cao Duyên Pháp Ðẳng Cú Ðà La Ni Ấn Nhập Sai Biệt Ký đó. Chúng ta đối với vô lượng vô số các đức Phật Thế Tôn nhất thời tập họp một chỗ, trụ thế nuôi dưỡng đó là được cúng dường và nghe pháp đó. Chúng ta ở thế giới Ta Bà, được thấy bốn thứ cảnh giới thần thông, việc nghiêm sức khắp trang nghiêm đó và thấy đại tập pháp hội trang nghiêm đó. Chúng ta nếu khi đi đến cõi Phật nói Ðà la ni đó có được chỗ dừng chân chăng? Và có được thừa sự cúng dường đức Phật đó và nghe pháp chăng? Lại ở đó, sự tập họp đồ chúng Ðại Bồ tát như vậy có được cúng dường chăng?” Các đức Phật đó mỗi mỗi đều bảo các Ðại Bồ tát Ma ha tát và Ðại Thanh văn bằng lời như vầy: “Này các thiện nam tử! Các ông chớ nghi ngờ, ở thế giới đó có chỗ dừng chân không? Vì sao vậy? Vì cảnh giới chư Phật nhập vào trí xảo bình đẳng vô biên, chúng sinh thành thục vô biên, chỗ trống không rộng rãi vô biên. Này các thiện nam tử! Ðức Thích Ca Như Lai đó đầy đủ phương tiện đại xảo. Này thiện nam tử! Ðã nhiếp lấy hết chúng sinh có trong cõi chúng sinh thì chỉ vào cõi là đã có chỗ nương. Những chúng sinh ở đó, nếu mỗi một chúng sinh, giả sử thân to bằng núi Tu di, thì đức Thích Ca Như Lai có thể khiến cho tất cả vô lượng chúng sinh thân to như vậy vào trong một hạt cải mà chỗ cư trú của mỗi một chúng sinh đó đều được trống không rộng rãi, xa đến nỗi tất cả địa giới đó vào trong một hạt bụi rất nhỏ nhoi. Ðại địa và hạt bụi đó cũng chẳng hay biết có tướng tăng giảm. Ðó gọi là Trí phương tiện khéo của Như Lai đầy đủ như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả bến bờ, hang sâu của thủy giới, đức Thích Ca Như Lai đều có thể khiến cho tất cả thủy giới đó vào trong một sợi lông rất nhỏ mà một sợi lông và tất cả thủy giới đó cũng chẳng hay biết có tướng tăng giảm. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả tướng nóng ấm của hỏa giới, đức Thích Ca Như Lai đều có thể khiến cho tất cả hỏa giới có trong ba đời vào trong một hạt bụi rất nhỏ nhoi mà hỏa giới đó vào hạt bụi nhỏ nhoi đi trong cảnh giới của mình giống như chỗ hư không rộng rãi. Lại nữa, này thiện nam tử! Phong giới sở hữu mà ta có thể biết được thì đức Thích Ca Như Lai đều có thể khiến cho tất cả phong giới đó vào trong một lỗ chân lông mà tất cả gió đó ở trong một lỗ chân lông đi trong cảnh giới của mình giống như chỗ hư không rộng rãi. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh và bốn đại đó trong cõi Phật mười phương, đức Thích Ca Như Lai đều có thể khiến cho chúng vào bên trong một hạt bụi rất nhỏ nhoi mà tất cả chúng sinh cùng bốn đại đó đi trong cảnh giới của mình và việc sở dụng giống như hư không chẳng nhiễu loạn nhau, cũng chẳng hay biết một vi trần đó có tướng tăng giảm. Ðó gọi là trí phương tiện khéo léo đầy đủ như vậy của Như Lai. Lại nữa, này thiện nam tử! Cho đến ba đời chúng sinh đã nhiếp lấy sáu nhập, hành thủ, nguyện trì, ngữ ngôn, âm thanh, văn tự, ngôn thuyết, ba hạnh, tác nghiệp, ấm, giới, phân biệt, trưởng dưỡng... đủ thứ sở tác. Tất cả chúng sinh đó từ thuở xưa đến nay, ba đời đã nhiếp lấy sáu đường sinh tử, khởi diệt... Cho đến tất cả chúng sinh ba đời đều nhiếp hết, qua sát na, la bà, mâu hốt đa... Tất cả chúng sinh ba đời đều nhiếp hết, thậm chí tất cả chúng sinh ba đời đều nhiếp thọ, chỗ hiểu biết khổ, lạc, tất cả trong một khoảnh khắc, đức Thích Ca Như Lai kia cũng đều hiểu biết. Ngần ấy các tướng đều biết một cách đầy đủ mà đức Như Lai chẳng phân biệt, không phân biệt, không suy nghĩ mà ngài đều biết những tướng này như thật tế của ba đời. Này thiện nam tử! Các đức Phật vào phương tiện trí cảnh giới, phương tiện bình đẳng thành thục chúng sinh đầy đủ”. Bấy giờ, khi các đức Phật nói tướng này của đức Thích Ca Như Lai thì ở đủ thứ các phương hướng, các đức Như Lai đó và đồ chúng của từng vị, vô lượng vô số trăm ngàn Bồ tát với cảnh giới thắng diệu thần thông nguyện trí đều qua bờ kia.
KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI
- Quyển thứ năm - hết.
|