佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Số 0191

KINH PHẬT THUYẾT CHÚNG HỨA-MA-Đ

Hán dịch: Đời Triệu Tống, Tam tạng Pháp Sư Pháp Hiền.

Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

-o0o-

Quyển 1

 

Số 0191

KINH PHẬT THUYẾT CHÚNG HỨA-MA-Đ

13 Quyển

Quyển 1

Quyển 2

Quyển 3

Quyển 4

Quyển 5

Quyển 6

Quyển 7

Quyển 8

Quyển 9

Quyển 10

Quyển 11

Quyển 12

Quyển 13

 

Tôi nghe như vầy:

        Một thời Đức Phật trú trong rừng Ni-câu-đà thuộc nước Ca-tỳ- la. Bấy giờ đại chúng thuộc tộc họ Thích ở nước Ca-tỳ-la, tự suy nghĩ: “Đức Phật Thế Tôn của chúng ta trong đời quá khứ đă sinh ra ở đâu? Ngài có họ ǵ? Thuộc ḍng tộc nào? Và có những nhân duyên ǵ?” Nghĩ xong, họ bèn nói những suy nghĩ ấy với mọi người trong tộc họ và tiếp:

        -Chúng ta nay hăy đến chỗ Đức Phật để hỏi về những ư nghĩa ấy. Những điều được Phật giảng dạy, chúng ta sẽ y theo mà giữ ǵn tu tập.

        Nói như thế xong, đông đảo những người thuộc tộc họ Thích ây liền đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu cung kính đảnh lễ dưới chân Thế Tôn rồi ai nấy về chỗ ngồi của ḿnh. Lúc ấy đại chúng ḍng họ Thích ở nước Ca-tỳ-la bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, chúng con thuộc ḍng họ Thích ở trong một ngôi tinh xá thuộc nước Ca-tỳ-la chợt suy nghĩ: “Đức Thế Tôn của chúng ta trong đời quá khứ đă sinh ra ở nơi nào? Có họ ǵ? Thuộc ḍng tộc nào? Và có những nhân duyên ǵ?” Chúng con không biết nên cùng Thích chúng đến chỗ Đức Phật xin chỉ dạy. Mong Đức Phật v́ chúng con mà giảng nói những điều ấy, chúng con được nghe xong sẽ xin y giáo thọ tŕ.

        Bấy giờ v́ muốn giải tỏa những thắc mắc của đại chúng nên Đức Phật nói với Thích chúng:

        -Trước hết, Ta không muốn nói về những điều ấy. V́ sao? V́ nếu những người ngoại đạo nghe được những điều này th́ họ sẽ chế nhạo: “Ông Sa-môn Kiều-đáp-ma tự nói tốt về ḿnh.” Do vậy nói mà vui th́ nói, c̣n nói mà không vui vẻ th́ thử hỏi nói có ích ǵ?

        Khi đó ngài Đại Mục-kiền-liên đang ở trong chúng từ chỗ ngồi đứng lên, chăm chú chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Thế Tôn. Đức Phật bèn nói với Tôn giả Mục-kiền-liên:

        -Các vị Thích chúng ấy muốn được nghe về đời quá khứ của Ta, Ta đă sinh ở nơi đâu? Từng có họ ǵ? Thuộc ḍng tộc nào? Có những nhân duyên ǵ? Nay ông hết ḷng v́ họ mà giảng thuyết những điều ấy.

        Bấy giờ ngài Đại Mục-kiền-liên yên lặng suy nghĩ hồi lâu rồi thu y Tăng-già-lê đặt làm gối, nằm nghiêng bên phải, chân xếp lên nhau, lặng lẽ nhập vào pháp Tam-ma-địa, xem xét về quá khứ của Đức Phật rơ được nơi sinh, ḍng họ cùng những việc mà Đức Phật đă trải qua. Sau khi tuệ quán biết rơ như thật, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên xuất định, trở lại chỗ cũ an tọa và bảo với Thích chúng:

        -Trong lúc nhập chánh định ta đă xem xét rơ những việc về quá khứ của Bậc Kiều-đáp-ma. Xưa kia, vào lúc thế giới hoại, chúng sinh sau khi mạng chung mà được văng sinh vào cơi Biến tịnh thiên th́ các căn đều đầy đủ, h́nh tướng đoan nghiêm, không có những nỗi khổ, thân tâm yên vui, sắc tướng sáng rỡ, du hành tự tại trên không, ăn những vị ngon trên trời, thọ mạng dài lâu, không có kẻ nào mạng yểu. Bấy giờ những thứ do từ đất, từ nước sinh ra đầy khắp trong không trung giống như biển lớn gió thổi sóng xao, như sữa được nấu chín nên thứ nước ấy luôn trong lành, sau đó chúng sinh sẽ ăn những vị thanh tịnh tố́ thượng nhất.

        Ngài Đại Mục-kiền-liên lại nói với đại chúng:

        -Khi cuộc sống ở cơi Biến tịnh thiên hoại rồi, các chúng sinh ấy do phước báo thọ mạng đă hết nên rời khỏi Biến tịnh thiên sinh xuống cơi nhân gian th́ thân tướng lúc ấy cũng như ở Thiên giới, h́nh tướng cũng đoan nghiêm, cấc căn không khiếm khuyết, sắc diện diệu kỳ tỏa rộng, tự thân có ánh sáng thường chiếu rực rỡ, sống lâu vui vẻ, tự tại đi lại trên không. Thời ấy không có mặt trời, mặt trăng và các v́ sao, cũng không có thời gian như năm tháng, ngày giờ, cũng không có tướng nam, nữ của các loài chúng sinh, lại sinh ra vị đất để hổ trợ cho sự sống. Vị đất ấy ngon ngọt lạ lùng, loài hữu t́nh ăn vào th́ sinh ra tham đắm, rồi v́ tham đắm mà thân thể bỗng trở nên nặng nề, ánh sáng không c̣n nữa, cả cơi thế gian trở nên tối tăm. Các loài hữu t́nh thấy thế gian tối tăm sinh tâm sợ hăi, ưu sầu. Nhưng rồi thế gian xuất hiện mặt trời, mặt trăng và các v́ sao, từ đấy mà có ngày đêm và thời tiết, khiến các loài hữu t́nh thọ mạng lâu dài, không c̣n khổ năo. Do sự tham đắm mùi vị của đất, có kẻ tham nhiều, kẻ tham ít mà h́nh tướng hoặc xấu xí hoặc đoan nghiêm khác nhau, thế rồi sinh tâm phân biệt nên chịu quả báo có tướng đen, trắng chẳng đồng dẫn tới t́nh trạng ghen ghét lẫn nhau mà tạo thành tâm bất thiện. V́ tâm bất thiện nảy sinh nên vị ngon ngọt của đất dần dần mất đi, khiến cho chúng sinh đau khổ, than thở: “Nay không c̣n ǵ để ăn. Thật là khổ thay!’’

        Rồi họ lại suy nghĩ: “Vị đất ngon ngọt ấy v́ sao mất đi. Trong tương lai chúng ta sẽ lấy ǵ để ăn.” Việc ấy đă khiến họ bị lâm vào cảnh tai họa đói kém, sầu năo mà không thể hiểu, cũng không thể cầu cứu ai được.

        Nhưng không bao lâu th́ trong ḷng đất lại sinh ra một thứ bánh mùi vị thơm ngon như hoa Ca-lê-ni-ca-la. Chúng sinh ăn thứ bánh này th́ thân thể khỏe mạnh, h́nh tướng đoan nghiêm, khí lực sung măn, sống lâu và an lạc. Nhưng rồi có kẻ tham ăn nhiều, người tham ăn ít mà sinh ra sắc tướng khác nhau, từ đó sinh tâm phân biệt, làm những nghiệp phi hạnh, bất thiện đối với nhau khiến loại bánh sinh từ đất ấy biến mất. Điều này làm cho chúng sinh lại trở nên đau khổ, suy nghĩ không biết v́ đâu mà loại bánh kia đă biến mất. Họ lại rơi vào cảnh đói kém. Sau đấy trên mặt đất lại sinh loài mây rừng có h́nh sắc kỳ diệu, hương vị thơm ngon. Chúng hữu t́nh ấy ăn vào th́ khí lực tăng trưởng, thọ mạng dài lâu, h́nh tướng đoan chánh, đầy đủ nhân tướng và rồi cũng như trên, do chúng sinh tham đắm mà thức ăn mây rừng ấy biến mất khiến mọi loài đau khổ v́ đói kém. Thời gian này, trong đất lại sinh ra loại lúa thơm, cứ đến mùa th́ tự nhiên chín. Chúng hữu t́nh dùng lúa ấy để ăn, mùi vị thơm ngon, bổ dưỡng thân thể, mạng sông được kéo dài. Do ăn loại lúa thơm ấy nên dần dần con người cảm thấy trong thân h́nh ḿnh có cái ǵ ngăn ngại, bèn nghĩ cách làm thế nào để trừ bỏ sự ngăn ngại ấy. Do ư nghĩ như vậy, mà nảy sinh hai giới tính nam nữ có thân căn khác nhau. Khi ấy loài hữu t́nh do sắc hương vị mà nảy sinh luyến ái, tự yêu thân ḿnh, dùng hương hoa, y phục cùng những thứ khác để cung phụng bản thân, lại dùng những lời lẽ dịu ngọt để làm cho kẻ khác vui thích. Nếu kẻ khác tỏ ra không yêu thương th́ ḿnh trách mắng, thậm chí dẫn đến đánh nhau, tạo những điều bất thiện, khiến những chúng sinh kia trước sống đúng chánh pháp th́ nay làm điều phi pháp, trước sống có luật nghi th́ bây giờ sông trái với luật nghi, thậm chí luôn trong ngày đêm, giờ khắc đều có những phân biệt điên đảo. Giống như người dùng đấu để lường than mà cứ muôn đầy bằng, cái hạnh bất chánh cũng như vậy, do dừng tâm điên đảo nên chánh pháp trở thành tà pháp, khiến cho giống lúa thơm kia lại biến mất.

        Lúc đó ngài Đại Mục-kiền-liên lại nói vđi đại chúng:

        -V́ lúa thơm biến mất nên chúng sinh ngày ngày phải đi khắp nơi để t́m giống lúa về trồng. Thuở ấy có một người tính t́nh lười nhác, tham lam tài lợi, tuy có giống lúa mà không thể trồng. Có người biết nên nói với anh ta: “Anh có giống lúa th́ hăy chia cho tôi một ít để đem về trồng.”

        Người kia đáp: “Tôi có giống lúa thơm đủ dùng cho bản thân. Nay nếu anh cần, tôi sẽ chia cho anh, nhưng sau một, hai ngày, trể lắm là bảy ngày th́ phải trả lại cho tôi.”

        Người mượn lúa nói: “Tốt lắm, tốt lắm! Nếu một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày mà chưa trả được th́ nửa tháng hoặc một tháng sẽ xin trả lại.”

        Nói xong người ấy liền suy nghĩ: “Trước kia lúa thơm không trồng mà tự mọc, khỏi phí sức lực mà vẫn có ăn, nay muốn có lúa th́ phải có nhiều ruộng, rồi bỏ công sức ngày đêm chăm sóc th́ mới thu lại kết quả.” Nghĩ xong người ấy sinh ra buồn bă, nước mắt tuôn rơi. Rồi lại nghĩ tiếp: “Thời quá khứ, chúng sinh sắc tướng đoan nghiêm, các căn đầy đặn, đầy đủ nhân tướng, tâm hồn vui sướng, thân có ánh sáng, tự tại mà đi lại trên không, thọ mạng lâu dài, lần lượt được hưởng các thức ngon trong cơi nhân gian như “địa vị”, “địa bỉnh”, “lâm đằng”, “hương đạo” khiến chúng sinh có được h́nh sắc đoan chánh, trường thọ, thân phát ánh sáng, tâm hồn an lạc, cơ thể nhẹ nhàn có thể đi lại trên không... Nhưng v́ ḷng tham đắm những thức ăn đó mà dần dần nảy sinh tâm phân biệt, khiến hạnh bất thiện dấy phát làm cho các thức quư báu đó biến mất, c̣n chúng sinh th́ cũng không được như xưa. Cơ thể họ nặng nề mất hết ánh sáng, phải đi t́m giống lúa và ra công khó nhọc gieo cấy trên đồng ruộng th́ mới có gạo ăn. Tuy nhiên hạt lúa thơm sinh ra đă dần dần nhỏ đi. V́ vậy ḷng tham về ruộng đất nảy sinh, muốn chiếm được nhiều khiến tâm gian tham và hành vi trộm cắp xuất hiện.” Lúc bấy giờ có một người thấy kẻ kia trộm lúa, bắt gặp một lần, hai lần, đến lần thứ ba bèn hỏi kẻ kia: “Anh cũng có lúa gạo sao không sử dụng, lại đi lấy trộm của kẻ khác? Từ nay chớ có làm như vậy nữa.”

        Kẻ trộm nghe rơ những lời ấy, nhưng vẫn không hối cải, cứ tiếp tục ăn trộm. Người ấy lại bắt gặp nữa, liền trách tên trộm: “Trước đây tôi đă khuyên anh đừng trộm cắp nữa nhưng v́ sao nay lại tái phạm.”

        Vị ấy bèn họp nhiều người để cùng lên án anh ta. Bấy giờ trong đám đông đó, bèn tuyển ra một người có đầy đủ phước đức để bầu làm Điền chủ chia đều ruộng đất, kẻ nào vi phạm th́ để cho vị Điền chủ ấy dàn xếp.

        Vào mùa thu hoạch, khi lúa chín th́ trích ra một ít để thưởng cho người Điền chủ, như vậy người Điền chủ phải luôn giữ ǵn giới hạnh để vổ về khuyên bảo mọi người sống cho hợp pháp. Từ đó, trong thế gian có tầng lớp quư tộc (Sát-đế-lợi), vị vua đầu tiên có tên là Tam-ma-đạt-ma. Vị vua ấy có vị đại thần tên là Hữu Tinh. Sau đó vị vua ấy sinh Thái tử đặt tên là Ái Tử. Vua Ái Tử có vị đại thần tên Y-hạ-ca và Thái tử tên là Thiện Hữu. Thái tử Thiện Hữu nối ngôi vua có vị đại thần tên là Đế-la-ca và sinh một Thái tử đặt tên là Tối Thượng. Vua Tối Thượng có đại thần tên là A-bạt-la-kiến-xá và Thái tử tên là Giới Hạnh. Đại thần của vua Giới Hạnh là Đa-la-nhạ-già. Trên đỉnh đầu của vua Giới Hạnh ấy sinh ra một cục bướu mềm mại, vua thường dùng sợi của loại hoa Đâu-la-miên để lau rửa. Khi lau rửa khối thịt ấy vua không đau đớn. Sau đấy, cục bướu tự nhiên vở ra sinh được một đồng tử có phước đức đoan nghiêm, đủ ba mươi hai tướng tốt, ai cũng kính mến nên đặt tên là Đảnh Sinh. Vừa sinh xong Thái tử đă được đưa ngay vào trong cung.

        Khi đó trong cung của vua Giới Hạnh có sáu vạn cung nhân, người nào cũng tâu vua: “Xin Đại vương cho thần được làm nhũ mẫu của Thái tử.” V́ vậy mà Thái tử c̣n có tên là Ngă Năi Vương.

        Vào thời vua Đảnh Sinh, trí tuệ của chúng sinh ở thế gian dần dần tăng trưởng, đă có những tư duy sâu sắc, phân biệt phải trái, phân biệt công sức và hiệu quả... nên vua lập hiệu là Ma-nổ-sa.

Vào thuở ấy, sáu vị vua có thọ mạng vô lượng, có sáu vị đại thần. Vị thứ nhất tên là Hữu Tinh, vị thứ hai tên Y-hạ-la, vị thứ ba tên         Đế-la-ca, vị thứ tư tên A-bạt-la, vị thứ năm tên Đa-la-nhạ-già, vị thứ sáu tên Ma-nổ-nhạ. Sáu vị đại thần ấy đều thông minh đa trí, có năng lực cai trị thế gian, rất có uy đức.

        Lúc ấy vua Đảnh Sinh bỗng sinh ra một cục bướu nơi bắp vế bên phải. Khối bướu ấy rất mềm mại, vua thường dùng sợi của hoa Đâu-la-miên để lau rửa mà không bị đau nhức ǵ. Khi bướu vỡ th́ sinh ra một đồng tử có thân tướng đoan nghiêm, đủ ba mươi hai tướng tốt, vua đặt tên là Ni-lỗ. Thái tử Ni-lỗ có trí tuệ và phước đức lớn lao, được làm Kim luân vương cai trị bốn cơi thế gian.         Luân vương Ni-lỗ sau đó ở bắp vế bên trái cũng sinh một khối bướu mềm mại, thường dùng sợi của hoa Đâu-la-miên lau rửa mà không đau đớn ǵ. Đến khi chín mùi khối bướu cũng tự nhiên vỡ, sinh ra một đồng tử có tướng mạo đoan chánh, đủ ba mươi hai tướng, đặt tên là Ô-ba-ni-lỗ. Thái tử ấy có trí tuệ sâu xa, phước đức vô lượng, lên ngôi Ngân luân vương cai trị ba cơi thiên hạ. Về sau, vua Ô-ba-ni-lỗ lại có cục bướu nơi chân bên phải, thường dùng sợi của hoa Đâu-la-miên lau rửa mà không đau đớn ǵ, rồi khôi bướu cũng tự nhiên vỡ, sinh ra đồng tử có tướng mạo đoan chánh, đủ ba mươi hai tướng, đặt tên là Thất-ni-lỗ, có phước đức sâu dày, lên ngôi Đồng luân vương cai trị hai cối thiên hạ. Nơi chân trái vua Thất-ni-lỗ lại sinh ra khôi bướu, thường dùng sợi của hoa Đâu-la-miên lau rửa mà không gây đau đớn ǵ, rồi cục bướu cũng tự nhiên vỡ, sinh ra đồng tử có tướng mạo đoan chính, đủ ba mươi hai tướng, được đặt tên là Ma-ni-lỗ, phước tuệ sâu dày, lên ngôi Thiết luân vương cai trị một cơi thiên hạ.

        Lúc bấy giờ ngài Đại Mục-kiền-liên lại bảo với Thích chúng:

        -Cứ thế, ngôi vua nối tiếp nhau cho đến nay, số lượng rất nhiều như: Chúng Hứa vương sinh ra Ái vương, Ái vương sinh Thiện Hữu vương, Thiện Hữu vương sinh Tối Thượng vương, con của Tối Thượng vương là Giới Hạnh vương, Giới Hạnh vương sinh ra Đảnh Sinh vương, Đảnh Sinh vương sinh Ni-lỗ vương, con của Ni-lỗ vương là Ô-ba-ni-lỗ vương, con của Ô-ba-ni-lỗ vương là Thất-ni-lỗ vương, con của Thất-ni-lỗ vương là Ma-ni-lỗ vương, Ma-ni-lỗ vương sinh ra Lỗ- tức vương, con của Lỗ-tức vương là Tô-lỗ-tức vương, con của Tô-lỗ- tức vương là Mau-tức vương, con của Mẫu-tức vương là Mẩu-tức-lân- nại vương, con của Mẩu-tức-lân-nại vương là A-nga vương, con của A Nga vương là A-nghi-la-tha vương, con của A-nghi-la-tha vương là Bà-nghi-la-tha vương, Bà-nghi-la-tha vương lại sinh ra Ta-nga-la vương, Ta-nga-la vương có con là Ma-hạ-ta-nga-la vương, Ma-hạ-ta- nga-la vương có con là Xá-củ-nễ vương, Xá-củ-nễ vương có con là Ma-hạ-xá-củ-nễ vương, Ma-hạ-xá-củ-nễ vương lại sinh ra Củ-xá vương, con của Củ-xá vương là Ô-ba-củ-xá vương, con của Ô-ba-củ- xá vương là Ma-hạ-củ-xá vương, Ma-hạ-củ-xá vương sinh Ma-hạ-tô- nại-lí-xá-nẵng vương, con của Ma-hạ-tô-nại-lí-xá-nẵng vương là Bát- la-nỗ-da vương, Bát-la-nỗ-da vương lại sinh Ma-hạ-bát-la-nỗ-đa vương, Ma-hạ-bát-la-nỗ-da vương có con là Bát-la-nỗ-na vương, Bát- la-nỗ-na vương lại sinh Ma-hạ-bát-la-nỗ-na vương, con của Ma-hạ- bát-la-nỗ-na vương là Bát-la-bán-ca-la vương, Bát-la-bán-ca-la vương lại sinh Bát-la-đa-ba vương, Bát-la-đa-ba vương lại sinh Phược-di-lỗ vương, Phược-di-lỗ vương có con là Di-lỗ-ma-đa vương, Di-lỗ-ma-đa vương có con là A-lí-tức vương, A-lí-tức vương có con là La-lí-tức- sắt-ma-đa vương, La-lí-tức-sắt-ma-đa vương có con là Nẵng-lí-tức- sắt-ma-đa vương, Nẵng-lí-tức-sắt-ma-đa vương có con là A-lí-chỉ-ta-măn-đa vương... Cứ thế, con cháu các vua kế tục đến một trăm vị đại Quốc vương, đều đóng đô ở thành Bố-đa-la-ca.         Vua đời cuối cùng sinh ra vua tên là Hàng Oán. V́ vua có uy đức rất lớn, đă hàng phục được các thứ ma oán nên có hiệu là Hàng Oán vương. Vị vua này có con cháu truyền đời không dứt, tới năm vạn bốn ngàn đời vua và đều đóng đô ở thành A-dụ-đá-giả.         Đến đời vua cuối cùng lại sinh con là Vô Năng Thắng vương. Con cháu vị vua này nối tiếp lên ngôi đến sáu vạn vị Thiên tử, đến đóng đô ở nước Ba-la-nại. Tới đời vua cuối lại sinh con có hiệu là Nậu-bát-la-ta-ha vương. Con cháu vị vua này nối nghiệp đến tám vạn bốn ngàn đời và đóng đô ở thành Khẩn-bế-la. Con của vị vua cuối cùng của thành này là Phạm Thọ vương truyền được ba vạn hai ngàn đời và đều đóng đô ở thành Hạ-tất-đế-nấng-bô-lí. Vua cuối lại sinh Hạ-tất-đế-nại-đa vương và truyền được năm ngàn đời, đóng đô ở thành Bát-xoa-thi-la. Vua cuối lại sinh Ta-đa-lê-long vương, cháu con truyền được ba vạn hai ngàn đời, đóng đô ở thành Ô-la-ta-đại, đời cuối lại sinh một người con là Nẵng-nga- nẵng-bố-nẵng vương, truyền được ba vạn hai ngàn đời và đều đóng đô ở thành Vô Năng Đại. Vị vua cuối của thành ấy sinh ra con lấy hiệu là Thắng Quân vương, con cháu truyền đến một vạn tám ngàn đời, đóng đô ở thành Chiêm-ba-đại. Đời vua cuối lại sinh con lấy hiệu là Long Thiên vương, con cháu truyền được hai vạn năm ngàn đời đóng đô ở thành Đát-ma-lê-đa. Đời vua cuối lại sinh con tên là Vi Hải vương, con cháu truyền được một vạn tám ngàn đời, đóng đô ở thành Nan-đa-bô-Mí. Vua đời cuối sinh con lấy hiệu là Diệu Ư vương, truyền được hai vạn năn ngàn đời và cũng đều đóng đô ở nước Ba-la-nại. Tới đời sau cùng của vương triều này, sinh được người con lấy tên là Đại Quân vương, con cháu nố́ ngôi được một ngàn đời, đóng đô ở thành Củ-xá-phược-đế. Đời cuối của vương tộc ấy sinh con là Hải Quân vương, truyền được một ngàn đời, đóng đô ở thành Bổ-đa-la-ca. Đến đời vua sau cùng sinh người con lấy hiệu là Tà-đa-bán-ni-la vương, truyền được tám vạn bổn ngàn đời, đóng đô ở Củ-xá-đế thành. Đời cuối lại sinh ra Ma-tứ-mục-khư vương, con cháu nối ngôi được mười vạn đời và cũng đóng đô ở nước Ba-la-nại. Đời cuối cùng sinh con lấy hiệu là Ma-tứ-bát-đế vương, cũng gọi là Địa Chủ vương, truyền được một trăm đời đóng đô ở thành A-dụ-đà-đại. Đời sau rốt sinh con lấy hiệu là Đại thiên vương, phạm hạnh thanh tịnh, con cháu nối ngôi được tám vạn bốn ngàn đời và cũng đóng đô ở thành Di-thể-la. Đến đời vua cuối, lại sinh người con hiệu là Nhĩ-di vương, vua này lại sinh Ma-ngộ-nỗ vương, vua Ma-ngộ-nỗ lại sinh Niết-lí-xá Nhĩ-di-khư-nỗ vương, vua ấy lại sinh Lỗ-ba-khư-nỗ vương, vua này lại sinh Khư-nỗ-ma-nẵng vương, đời tiếp theo là Khu-nỗ-măn-đa vương, tiếp đấy là các đời vua: Bà-niết-lí-xá vương, Tô-lỗ- đa-tế-nẵng vương, Đạt-ma-tế-nấng vương, Vĩ-nhĩ-đa vương, Ma-hạ- vĩ-nhĩ-đa vương, Vĩ-nhĩ-đa-tế-nẩng vương, A-du-ca vương, Vĩ-nga-đa-du-ca vương, Phả-la-ta-thùy vương, Nhạ-la-ta-thùy vương, Một-độ- ma-la vương, A-lỗ-nỗ vương, Nhĩ-phiến-ba-đế vương, Lí Ngũ vương, Thương-ca-la-ca vương, A-nan-na vương, A-na-lí-xá-mục-khư vương, Nhạ-na-ca vương, Tán-nhạ-nấng-khư vương, Nha-nấng-sa-bà vương, Án-nẵng-bá-nẵng vương, Bát-la-tổ-la-nẵng-ba-nẵng vương, A-lan-đa vương, Ba-la-lan-đa vương, Bát-la-để-sắt-sỉ-đa vương, Tô-bát-la-để- sắt-sỉ-đa vương, Ma-hạ-ma-la vương, Phược-hạ-nĩng vương, Tô-ma-đế vương, Niết-lí-xá-phược-hạ vương, Nại-xả-đà-nô vương, Thiết-đa- đà vương, Nấng-phược-đế-đà-nỗ vương, Thất-tả-đát-la-đà-nỗ vương, Vĩ-nhĩ-đa-đà-nỗ vương, Niết-lí-xá-đà-nỗ vương, Nại-xă-la-tha vương, Thiết-đa-la-tha vương, Nẵng-phược-đế-la-tha vương, Tức-đát-la-tha vương, Niết-lí-xá-la-tha vương... Cứ thế, con cháu truyền đến bảy vạn bảy ngàn đời vua, đều đóng đô ở thành Ca-nại. Tới đời vua cuối của thành này, lại sinh con lấy hiệu là A-mạt-lộc-sa vương. Vua này có người con là Long Hộ vương, con cháu truyền được trăm đời và đóng đô ở nước Ba-la-nại. Vua sau cùng của thành Ba-la-nại sinh con hiệu là Ngật-lí-cát vương. Bấy giờ Đức Phật Ca-diếp có đầy đủ mười hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn xuất hiện ở thế gian. Lúc Đức Phật c̣n tu hạnh Bồ-tát, Ngài luôn giữ ǵn giới luật và phạm hạnh, đă phát nguyện lớn cầu Vô thượng giác, là vị Bồ-tát Bổ-xứ ở cung trời Đâu-suất. Cơ duyên đầy đủ, Ngài hạ sinh nơi cung vua Ngật-lí-cát, bỏ ngôi xuất gia tu hành mà thành tựu Phật đạo.

        Lúc ấy vua Ngật-lí-cát c̣n có một Thái tử tên là Thiện Sinh, vua Thiện Sinh lại sinh một Thái tử, rồi cứ thế con cháu truyền được một trăm đời, tới đời vua cuối sinh ra Ca-la-nỗ vương. Sau vua này sinh hai Thái tử, người lớn tên là cồ-đàm, người nhỏ tên là Bà-la-nại-phược-nhạ. Vị Thái tử sau thích cuộc sống ở vương cung, ham việc cai trị nước, trong khi Thái tử cồ-đàm th́ lại luôn nghĩ đến việc chúng sinh bị trôi lăn trong ṿng luân hồi, chịu bao nỗi ch́m đắm trong ba đường dữ thật là khổ năo. Do luôn suy nghĩ như thế nên Thái tử đến gặp phụ vương cúi đầu quỳ thưa: “Nay con không muốn ở chốn vương cung mà muốn xuât gia vào nơi núi rừng để tu tập phạm hạnh.”

        Vua cha nói: “Con là trưởng tử, có cả đất nước và ngôi vua, lại có các quan pḥ tá, quyền hành nắm trong tay, sao lại dứt bỏ để đi xuất gia?”

        Thái tử tâu: “Thưa cha, con xem ba cơi đều là cảnh ảo hóa không bền chắc, tất cả đều bị luật vô thường chi phối, đâu thể quyến luyến. Con nay xin từ tạ phụ hoàng để ra đi.” Vua cha nghe như thế biết chí hướng lớn của con nên đă bằng ḷng.

        Bấy giờ trên núi có một vị tiên tên là Ngật-lí-sắt-nỗ-phệ-ba-dă-nô lập một thảo am trong núi ấy để tu hành. Thái tử cồ-đàm vui mừng t́m đến chỗ vị tiên, năm vóc sát đất đảnh lễ thưa: “Tôi rời bỏ cung vua đến đây để phụng sự thầy, xin thầy thâu nhận.” Vị tiên biết ư chí kiên định của Thái tử nên đă chấp nhận. Từ đó Thái tử ở nơi núi rừng, hái trái, gánh nước, chịu nhiều gian khổ, trải qua nhiều năm tháng để phụng sự Tiên nhân. Vị thầy nhận thấy Thái tử luôn siêng năng, tâm không thoái chuyển ḅn cho tên hiệu cũng là Tiên nhân.

        Sau đấy, vua Ca-la-nỗ băng hà, người em là Bà-la-nại-nhạ lên ngôi, cồ-đàm biết tin vua cha đă mất liền thưa với thầy: “Nay con không thể ở trong núi hái quả, gánh nước hầu hạ thầy mà muốn về trong thành ở.”

        Vị tiên nói: “Cồ-đàm, trước kia khi đến, con nói là muốn ở chốn núi rừng, sao nay lại muốn về thành? Nếu con có về th́ chớ vào trong thành, mà nên chọn một nơi tịch tịnh che thảo am ngoài thành Bổ-đa- lạc-ca mà tu hành, giữ ǵn các căn, tinh tấn, phạm hạnh.” Thái tử nghe lời, đến ngoài thành Bổ-đa-lạc-ca, t́m chỗ thanh tịnh cất am dốc sức tu tŕ.

Hết quyển 1

 

back_to_top.png     next.png

 

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]