佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Quyển 1  Quyển 2  Quyển 3  Quyển 4  Quyển 5  Quyển 6  Quyển 7 

Số 0765

Kinh Bổn Sự

Hán Dịch: Đường Tam Tạng Huyền Trang

Việt Dịch: HT Thích Như Điển

Quyển thứ hai

Phẩm pháp thứ nhất

Phần 2

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có người muốn được Như Thật Trí, được Chánh Biến Tri, được đoạn ĺa sanh tử ở ngay tự tâm của họ. Điều ấy có nghĩa rằng chưa ĺa sự tham lam và không thể có kết quả, không thể biến tri, chẳng thể đẳng giác cũng chẳng Niết Bàn, cũng chẳng chứng đắc được vô thượng an lạc. Nếu có người đă tham muốn như thế rồi, có thể xa ĺa rồi. Nơi tự tâm của y ly được tham dục rồi, th́ kẻ đó tức sẽ được thông đạt, tức sẽ được chánh giác, tức sẽ được Niết Bàn, tức sẽ có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên sự tham muốn đó là Như Thật Trí, là ứng Chánh Biến Tri, là hay cầu xa ĺa. Ở nơi pháp Phật thường tu phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu cầu trí chưa được

Niết Bàn c̣n xa kia

Kẻ tham trí như thế

Đến Niết Bàn khó được

Ta thấy loài hữu t́nh

Do tham dục nhiễm ô

Trở lại đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều ấy

Xa rời việc tham dục

Chứng được quả Sa Môn

Chắc chắn chẳng sanh nữa.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết nếu có kẻ sân hận chưa có Như Thật Trí, chưa có Chánh Biến Tri, chưa thể xa ĺa. Nơi tự tâm kẻ ấy chưa ĺa được sự sân hận vậy. Chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có kẻ tham về Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, hay xa ĺa rồi th́ tự tâm nơi kẻ ấy đă xa rời sự sân hận tức hay thông đạt, tức hay biến tri, tức hay đẳng giác, tức hay Niết Bàn, tức hay chứng được vô thượng an lạc. Cho nên kẻ sân đó nên có Như Thật Trí, nên Chánh Biến Tri, nên cầu xa ĺa, ở nơi Phật Pháp hay tu phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu sân hận chưa hết

Niết Bàn vẫn c̣n xa

Sân hận đă hết rồi

Niết Bàn chẳng giao động

Ta xem loài hữu t́nh

Do sân hận ô nhiễm

Lại qua nơi ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều ấy

Kẻ xa ĺa sân hận

Chứng được quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng sanh nữa.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ v́ si mê nên chưa biết được Như Thật Trí, chưa biết được Chánh Biến Tri, chưa có thể xa ĺa. Đối với tâm của kẻ đó chưa rời khỏi sự si mê th́ chẳng thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có người từ nơi si mê mà sanh Như Thật Trí, Chánh Biến Tri rồi, xa ĺa rồi th́ đối với tâm kẻ đó đă xa rời si mê vậy. Cho nên có thể thông đạt, tức có thể biến tri, tức có thể đẳng giác, tức có thể Niết Bàn, tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên từ si mê có thể có Như Thật Trí, có thể có Chánh Biến Tri, có thể cầu ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp hay tu phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu chưa hiểu được si

Kẻ kia xa Niết Bàn

Nếu đă rơ si rồi

Đến Niết Bàn không khó

Ta xem loài hữu t́nh

Do si mê ô nhiễm

Lui tới đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều đó

Kẻ ấy đoạn si mê

Chứng được quả Sa Môn

Tức được chỗ chẳng sanh

Từ Đức Thế Tôn ta đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ nào bị che lấp khó thấy Như Thật Trí, khó biết Chánh Biến Tri, khó thể ĺa sanh tử. Tự tâm của kẻ kia chưa ra khỏi chỗ bị che lấp. Cho nên chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng có thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có người bị che khuất rồi th́ Như Thật Trí, Chánh Biến Tri rồi, có ĺa sanh tử rồi th́ đối với tự tâm của kẻ kia đă xa rời sự che khuất vậy. Tức hay thông suốt, tức hay biến tri, tức hay đẳng giác, tức hay Niết Bàn, tức hay chứng được vô thượng an lạc. Cho nên đối với sự che đậy kia phải biết có thể là Như Thật Trí, có thể là Chánh Biến Tri, có thể cầu được sự xa ĺa. Ở nơi Phật Pháp thường hay tu hành phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu chưa rơ che đậy

Niết Bàn đến c̣n xa

Biết rơ che đậy rồi

Đến Niết Bàn chẳng khó

Ta xem loài hữu t́nh

Do che đậy nhiễm ô

Lại nghe đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều nầy

Đoạn được sự che đậy

Được chứng quả Sa Môn

Chắc chắn chẳng thọ sanh.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như vầy. Nầy các T Kheo! Nếu có kẻ nương vào sự năo hại th́ chưa có Như Thật Trí, chưa có Chánh Biến Tri, chưa thể xa ĺa. Ở nơi tự tâm của kẻ ấy chưa rời được phiền năo. Chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được an lạc. Nếu có kẻ qua khỏi sự khổ năo rồi th́ Như thật trí, Chánh biến tri rồi, có thể đoạn ĺa sanh tử rồi th́ đối với tự tâm của kẻ đó đă xa rời phiền năo rồi vậy. Tức có thể thông đạt, có thể Chánh Biến Tri, tức có đẳng giác, tức có thể Niết Bàn, tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên đối với sự phiền năo đó, nên là Như Thật Trí; nên là Chánh Biến Tri, nên cầu ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp, tu hành phạm hạnh. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu phiền năo chưa rơ

Kẻ kia xa Niết Bàn

Khổ năo đă biết rồi

Niết Bàn không xa nữa

Ta xem loài hữu t́nh

Do phiền năo ô nhiễm

Tới lui đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều nầy

Xa rời phiền năo nầy

Chứng được quả Sa Môn

Chắc chắn chẳng sanh tử.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ nương nơi giận hờn chưa được Như Thật Trí, chưa được Chánh Biến Tri, chưa có thể xa ĺa, ở nơi tự tâm của kẻ đó, chưa rời khỏi sự giận hờn; nên chưa thể thông đạt, chưa thể biến tri, chưa thể đẳng giác, chưa thể Niết Bàn, chưa thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu kẻ đó nơi giận hờn đă qua Như Thật Trí, qua Chánh Biến Tri, có thể qua sự đoạn ĺa, th́ nơi tự tâm của người ấy đă ĺa khỏi sự giận hờn vậy. Tức có thể thông đạt, tức có thể biến tri, tức có thể đẳng giác, tức có thể Niết Bàn, tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên ở nơi sự giận hờn, nên là Như Thật Trí; nên là Chánh Biến Tri; nên cầu ĺa sanh tử. Ở trong Phật Pháp, hay tu phạm hạnh. Lúc bây giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu giận hờn chưa hết

Người kia khó Niết Bàn

Kẻ rơ giận hờn rồi

Đến Niết Bàn không khó

Ta xem các hữu t́nh

Do giận hờn nhiễm ô

Đến lui đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết như vậy

Kẻ xa ĺa sanh tử

Được chứng quả Sa Môn

Cuối cùng chẳng sanh tử

Ta từ Đức Thế Tôn đă nghe được như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ ghét gỏng, chưa được ĺa sanh tử, kẻ ấy nơi tự tâm, chưa ĺa khỏi sự ghét gỏng vậy. Không thể thông đạt, không thể biến tri, không thể đẳng giác, không thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có kẻ ghét gỏng mà đă qua Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, có thể ĺa sanh tử rồi th́ nơi tự tâm kẻ ấy đă xa ĺa sự ghét gỏng vậy. Tức có thể thông đạt, tức có thể biến tri, tức có thể đẳng giác, tức có thể Niết Bàn. Tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên đối với kẻ ghét gỏng giống Như Thật Trí, giống Chánh Biến Tri, giống cầu ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp thường tu phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu ghét gỏng chưa rơ

Kẻ ấy Niết Bàn xa

Nơi ghét gỏng rơ biết

Đến Niết Bàn không ngại

Ta xem các hữu t́nh

Do ghét gỏng nhiễm ô

Tới lui đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết rơ hết

Kẻ xa ĺa ghét gỏng

Được chứng quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng sanh nữa.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu ở nơi tật đố, chưa có Như Thật Trí, chưa có Chánh Biến Tri, chưa thể ĺa sanh tử, ở nơi tự tâm kia, chưa rời khỏi sự tật đố vậy. Chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu từ tật đố mà được Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, có thể ĺa sanh tử rồi, nơi tự tâm của kẻ kia đă ĺa được tật đố vậy. Tức có thể thông đạt, tức có thể biến tri, tức có thể đẳng giác, tức có thể Niết Bàn, tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên từ nơi tật đố, nên Như Thật Trí, nên Chánh Biến Tri, nên cầu ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp, hay tu phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu tật đố chưa rơ

Kia đến Niết Bàn khó

Tật đđă rơ rồi

Đến Niết Bàn chẳng sao

Ta xem loài hữu t́nh

Do nhiễm ô tật đó

Lui tới đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết được rồi

Kẻ xa ĺa tật đ

Được chứng quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng thọ sanh.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ keo kiệt, chưa rơ Như Thật Trí, chưa được Chánh Biến Tri, chưa thể ĺa sanh tử. Ở nơi tự tâm của người đó, chưa ĺa được sự keo kiệt vậy, chẳng có thể thông đạt, chẳng có thể biến tri, chẳng có thể đẳng giác, chẳng có thể Niết Bàn, chẳng có thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu từ sự keo kiệt mà biết Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, ĺa xa sanh tử rồi, th́ ở nơi tự tâm của người ấy ĺa khỏi sự keo kiệt vậy. Tức có thể thông đạt, tức có thể đẳng giác, tức có thể Niết Bàn, tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên sự keo kiệt, nên là Như Thật Trí; nên là Chánh Biến Tri, nên ĺa xa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp, hay tu phạm hạnh. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu chưa rơ keo kiệt

Kẻ kia xa Niết Bàn

Kẻ rơ keo kiệt rồi

Đến Niết Bàn chẳng khó

Ta xem loài hữu t́nh

Do keo kiệt nhiễm ô

Tới lui đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết rơ được

Xa ĺa sự keo kiệt

Chứng được quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng thọ sanh.

Ta từ Đức Thế Tôn đă từng nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ ham thích, chưa được Như Thật Trí, chưa có Chánh Biến Tri, chưa thể ĺa sanh tử. Ở nơi tự thân kia chưa ĺa được sự ham thích vậy. Chẳng có thể thông đạt, chẳng có thể biến tri, chẳng có thể đẳng giác, chẳng có thể Niết Bàn, chẳng có thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có kẻ ham thích Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, hay ĺa sanh tử rồi. Ở nơi tự tâm của họ tức đă ĺa sự ham thích vậy. Tức có thể không đạt, tức có thể biến tri, tức có thể đẳng giác, tức có thể Niết Bàn, tức có thể chứng được vô thượng an lạc. Cho nên nơi ham thích nên có Như Thật Trí, nên là Chánh Biến Tri, nên cầu ĺa sanh tử. Ở trong Phật Pháp hay tu phạm hạnh. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu ham thích chưa rơ

Kia đến Niết Bàn xa

Ham thích đă rơ rồi

Đến Niết Bàn chẳng khó

Ta thấy loài hữu t́nh

Do ham thích ô nhiễm

Tới lui đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều ấy

Kẻ xa ĺa ham thích

Chứng được quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng thọ sanh.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ hay khinh thường th́ chưa được Như Thật Trí, chưa được Chánh Biến Tri, chưa được ĺa sanh tử. Ở nơi tự tâm của kẻ kia là do chưa ĺa được sự khinh thường vậy. Chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có kẻ từ sự khinh thường mà biết Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, hay ĺa sự sanh tử rồi th́ ở nơi tự tâm của họ đă ĺa xa sự khinh thường vậy. Tức được thông đạt, tức hay biến tri, tức hay đẳng giác, tức hay Niết Bàn, tức hay chứng vô thượng an lạc. Cho nên sự khinh thường nên là Như Thật Trí, nên là Chánh Biến Tri, nên là ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp hay tu phạm hạnh. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu chưa rơ khinh thường

Kia đến Niết Bàn xa

Kẻ khinh thường đă rơ

Đến Niết Bàn chẳng khó

Qua lại đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều nầy

Xa rời sự khinh thường

Chứng được quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng thọ sanh

Ta từ Đức Thế Tôn nghe được như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có kẻ bị hại chưa hiểu được Như Thật Trí, chưa rơ Chánh Biến Tri, chưa thể ĺa sanh tử. Kẻ kia nơi tự tâm chưa ĺa được sự di hại vậy. Chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có kẻ di hại đă hiểu Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, hay ĺa sanh tử rồi. Ở nơi tự tâm kẻ ấy đă ĺa sự di hại rồi tức hay thông đạt, tức hay biến tri, tức hay đẳng giác, tức hay Niết Bàn, tức hay chứng được vô thượng an lạc. Cho nên sự di hại nên là Như Thật Trí, nên là Chánh Biến Tri, nên cầu ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp tu hành phạm hạnh. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Nếu chưa rơ di hại

Kia đến Niết Bàn xa

Kẻ biết di hại rồi

Niết Bàn không khó đến

Ta xem loài hữu t́nh

Do di hại nhiễm ô

Qua lại đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Nếu hay biết điều ấy

Vĩnh viễn không bị hại

Chứng được quả Sa Môn

Cứu cánh chẳng thọ sanh.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu mà tất cả chưa được Chân Thật Trí, chưa được Chánh Biến Tri, chưa thể ĺa sanh tử. Ở nơi tự tâm của kẻ kia chưa ĺa tất cả vậy. Chẳng thể thông đạt, chẳng thể biến tri, chẳng thể đẳng giác, chẳng thể Niết Bàn, chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu từ nơi tất cả đă có Như Thật Trí rồi, Chánh Biến Tri rồi, có thể xa ĺa sanh tử rồi. Ở nơi tự tâm kẻ kia ĺa tất cả rồi vậy. Tức hay thông đạt, tức hay biến tri, tức hay đẳng giác, tức hay Niết Bàn, tức hay chứng được vô thượng an lạc. Cho nên tất cả, nên Như Thật Trí, nên Chánh Biến Tri, nên cầu ĺa sanh tử. Ở nơi Phật Pháp, hay tu hành phạm hạnh. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu tất cả chưa rơ

Kia đến Niết Bàn xa

Tất cả biết rơ rồi

Đến Niết Bàn chẳng khó

Ta xem loài hữu t́nh

Do tất cả nhiễm ô

Tới lui đọa ác thú

Thọ sanh tử luân hồi

Sâu nhiếp kinh phía trước Uẩn Đà Nam viết:

Tham sân si cả thảy

Chứa nhóm phiền sầu hận

Ghen, keo cùng ưa thích

Khinh, hại cùng tất cả.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết tất cả sự tu tập, phước nghiệp ở trong, từ tâm giải thoát là điều cần thứ nhất. V́ sao vậy ? V́ tâm từ giải thoát là uy đức cao vời. Ảnh hưởng đến tất cả các sự nghiệp phước đức khác. Nhờ vào những uy đức như thế, nếu muốn tu học về từ tâm giải thoát th́ trong 16 phần chưa được một phần. Các T Kheo nên biết. Ví dụ trong các vị Quốc Vương lớn nhỏ th́ chuyển luân thánh vương là đệ nhất. V́ sao vậy ? V́ chuyển luân thánh vương có uy đức cao cả. Vị chuyển luân nầy trong 16 phần cũng chưa được một. Các phước nghiệp cũng lại như thế: Nếu muốn tu tâm từ bi giải thoát trong 16 phần cũng chẳng được một phần. Lại cũng như trong tất cả ngôi sao th́ mặt trăng là tối vi đệ nhất. V́ sao vậy ? V́ mặt trăng có ánh sáng cao vợi, chiếu sáng hơn tất cả các v́ sao. Ở trong các ánh sáng của sao đó nếu so ra th́ mặt trăng nầy trong 16 phần cũng chỉ được một. Các phước nghiệp cũng lại như vậy. Nếu muốn tu tâm từ bi giải thoát th́ trong 16 phần cũng chỉ được một phần. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tất cả các phước nghiệp

Như tâm từ giải thoát

Trong mười sáu phần ấy

Chỉ được có một phần

Có một loài hữu t́nh

Hay tu tâm từ thiện

Cùng phước đức vô biên

Hà huống là tất cả

Trong các đại quốc vương

Uy phục vang khắp nơi

Thế gian giúp người nghèo

Tất cả chẳng phải làm

Như thế mà thí phước

Ấy là tu tâm từ

Trong mười sáu phần ấy

Chỉ được có một phần

Như chuyển luân Thánh Vương

Uy đức trong các vua

Cũng như mặt trăng lớn

Ánh sáng chiếu cùng nơi

Tất cả tu như thế

Hết thảy là phước nghiệp

Đều làm tâm từ thiện

Uy đức chứa cùng khắp

Tu từ tâm giải thoát

Nếu ngược hoặc chẳng người

Tất cả các hữu t́nh

Tất cả đều chẳng hại.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết, ta xem thế gian chẳng có pháp nào làm cho những loài có t́nh hiểu được cái tâm chưa đắc để mà hy vọng cầu được cái quả vô thượng an lạc. Làm cái nhân duyên từ bên ngoài như là thiện hữu tri thức. Cho nên đối với loài hữu t́nh với cái nhân thiện tri thức đó muốn ǵ được nấy. Nghĩa là sẽ dứt các điều ác, tu tập các thiện pháp, chứng được bản tâm thanh tịnh không có tạp nhiễm. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ta xem trong thế gian

Chẳng có một pháp nào

Kẻ chưa chứng được tâm

Lúc cầu vô thượng quả

Phải nhờ duyên bên ngoài

Như người thiện tri thức

Gần gũi thiện tri thức

Nếu không, chẳng thành tựu

Cung kính vâng lời dạy

Chẳng buông hay ǵn giữ

Sẽ chứng quả Niết Bàn

Xa sợ, thường an lạc

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết, ta xem thế gian, chẳng có một pháp nào v́ kẻ có học mà chưa được tâm, hy vọng cầu quả vô thượng an lạc, tạo duyên bên trong như tác ư ngay thẳng. Cho nên đối với loài hữu t́nh kia. V́ tác ư chơn chánh để cầu tất cả được măn nguyện. Nghĩa là sẽ dứt các điều ác, tu tập các thiện căn, chứng được thân thanh tịnh không bị những tạp nhiễm. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ta xem các thế gian

Chẳng có một pháp nào

Do học mà được tâm

Lúc cầu vô thượng quả

Phải tạo duyên bên trong

Như kia tạo nơi ư

Tu tập chánh pháp rồi

Nếu cầu chẳng thành tựu

Như pháp mà quan sát

Chẳng buông lung tu hành

Xa sẽ đến Niết Bàn

Ĺa sợ, thường an lạc.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu các loài hữu t́nh hay biết bố thí trí huệ khi quả báo đến, sáng sủa trước mắt, như ta biết đây sẽ không keo kiệt, do tâm bị nhiễm ô mà làm cho kia chỉ ăn được một ít rồi phân chia ra cho kẻ khác, sau đó mới tự ăn. Lại chẳng biết rằng v́ tâm keo kiệt làm cho nhiễm ô; nên tuy có nhiều đăn uống quư giá mà chẳng thí cho kẻ khác, chỉ dùng riêng một ḿnh, cho nên với quả bố thí bằng trí huệ đó tuy được sanh làm trời, người; nhưng bị sanh đi sống lại nhiều lần, hưởng các sự vui sướng. Lúc ấy Đức Thế Tôn muốn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Thế gian loài hữu t́nh

Nếu biết được huệ thí

Hay cảm quả báo lớn

Thấy rơ như Như Lai

Tâm nầy chẳng làm ǵ

Keo kiệt lại nhiễm ô

Chỉ có ít đăn

Mà cũng đem thí cho

Do thí chẳng có huệ

Chẳng sáng như Thế Tôn

Chỉ có ăn uống nhiều

Bỏn xẻn chẳng thể xả

Ở nơi ruộng phàm thánh

Ba thời tâm vui thí

Quả báo cơi trời người

Qua lại làm nhiều kiếp.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu các loài hữu t́nh hay biết phạm giới sẽ bị quả báo, rơ ràng trước mặt. Như ta đă biết, đi đứng nằm ngồi đều chẳng yên ổn. Nói cười ăn uống đều chẳng để tâm. Tâm ấy sợ hăi như bị chảy máu. Thân h́nh xấu xa như bị dao cắt, lại cũng chẳng biết, an nhiên chẳng sợ. Cho nên những kẻ phạm giới, tội ấy có thể đọa ác thú, càng ngày tăng dần, tạo nên quả báo. Lúc ấy Đức Phật sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Thế gian loài hữu t́nh

Nếu hay biết phạm giới

Bị đọa vào chốn khổ

Thấy rơ giống Như Lai

Bốn oai nghi chẳng an

Chẳng nghĩ suy nói cười

Tâm hoảng hốt chảy máu

Thân xấu xí cắt rạch

Do chẳng biết, phạm giới

Hay bị khổ ác thú

Thấy sáng giống Như Lai

An nhiên chẳng sợ hăi

Tất cả người phạm giới

Chắc chắn đọa ác thú

Sự khổ càng tăng lên

Khổ quả cũng chẳng cùng

Ta từ Đức Thế Tôn đă từng được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có các loài hữu t́nh hay biết tŕ giới, khi thọ quả báo th́ sáng suốt trước mắt như ta thấy vậy. Nơi tự thân kia, không sanh vào loài thú, được an lạc ở lại vị lai. Kiên tŕ giới cấm, không thể không biết được là nơi tự thân của kẻ ấy sẽ được an lạc. V́ không phạm giới cấm cho nên những phước đức của sự tŕ giới, hay cảm con đường thiện, tăng trưởng sự lợi ích, có những quả báo an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Thế gian các hữu t́nh

Nếu hay biết tŕ giới

Hay cảm thọ quả vui

Thấy rơ như Như Lai

Nơi tự thân thanh tịnh

Ĺa xa nơi ác thú

Cầu quả vị tương lai

Kiên tŕ giới thanh tịnh

Do hay biết tŕ giới

Hay cảm quả vui vẻ

Thấy rơ giống Như Lai

Chẳng phạm vào tịnh giới

Cùng những người tŕ giới

Được sanh vào chỗ lành

Thọ nhận nhiều an lạc

Chứng vô thượng Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có các loài hữu t́nh, biết mà nói dối, chẳng xấu chẳng hổ, chẳng sửa hối tâm. Ta nói người kia tạo nên ác nghiệp, chẳng tạo thiện nghiệp. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nên biết người vọng ngữ

Tâm không xấu hổ, hối

Như thế loài hữu t́nh

Chẳng ác nào chẳng tạo

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Nếu có các loài hữu t́nh, biết mà nói dối, lại sanh xấu hổ, cải đổi tâm tánh, ta nói rằng người ấy tạo được thiện pháp. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Khi nói dối tự biết

Sanh tâm hổ thẹn, hối

Như thế loài hữu t́nh

Chẳng thiện nào chẳng làm

Siêng năng chẳng buông lung

Như thế tu chơn chánh

Chứng vô thượng Niết Bàn

Xa rời sự sợ hăi

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết. Có một điều tối thắng. Đó là Bồ Đặc Già La. Ở nơi thế gian, nếu chẳng xuất hiện trong vô lượng hữu t́nh, xa rời thánh huệ. Tại sao gọi là một Bồ Đặc Già La. Đó có nghĩa là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Cho nên các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không ở thế gian th́ không thể tuyên dương nói pháp tu hành trí tuệ. Vậy nên các loài hữu t́nh mất đi thánh huệ. Các T Kheo nên biết! Các người thoái tâm đó có cả tài sản; nên gọi là mất mát nhỏ. C̣n mất mát lớn là thối thất thánh huệ. Cho nên nếu có chúng hữu t́nh thoái thất thánh huệ th́ ở trong Phật Pháp có nhiều lo buồn, sống không hoan hỷ, có tai nạn, lo sợ. Có phiền năo và quấy nhiễu. Tương lai đêm dài thọ khổ và thọ nhận nhiều loại tai hại mănh liệt, tăng trưởng máu đào thường vào đường sanh tử, vô số đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, A Tu La thú. Số khác th́ làm người, trời, sanh tử ưu năo. Cho nên do loài hữu t́nh mà thánh huệ nầy chưa được giác ngộ, chưa được thông đạt. Ở nơi lục thú sanh tử luân hồi, khổ cho hữu t́nh chứng được thánh huệ, hay vào ra nơi khổ ải. Cho nên nầy các ngươi phải biết rằng ta nay đang tu tập thánh huệ làm cho chẳng thối thất, ta đương y nơi thánh huệ tùy sự giác ngộ mà trải qua. Nầy các T Kheo! Phải nên biết rằng nên làm như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn muốn vào nghĩa sâu nầy mà nói kệ rằng:

Như Lai chẳng xuất hiện

Thế gian loài hữu t́nh

Chẳng cứu chẳng nương về

Đều thối thất thánh huệ

Mất người quen tiền bạc

Đó là điều mất nhỏ

Nếu mất chơn thánh huệ

Đó là điều mất lớn

Ta xem khắp thế gian

Mất vô thượng thánh huệ

Luân chuyển nơi sanh tử

Thọ nhiều thân khác nhau

Họ ở nơi pháp ấy

Nhiều khổ ít an lạc

Về tương lai đêm dài

Luân hồi sanh tử lâu

Nếu muốn cầu thánh huệ

Cuối cùng gặp khó khăn

Nên cầu chư Như Lai

Nên xuất hiện nơi đời.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Có một tối thắng Bồ Đặc Già La ở nơi thế gian, nếu đă xuất hiện th́ vô lượng hữu t́nh tăng trưởng thánh huệ. V́ sao mà gọi là một Bồ Đặc Già La ? Đó là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Cho nên nếu chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác xuất hiện nơi thế gian có hay nói đến pháp tu hành thánh huệ làm cho loài hữu t́nh tăng trưởng thánh huệ th́ các T Kheo nên biết! Lại được tăng trưởng bạn lành và của cải, địa vị. Đó là sự tăng trưởng nhỏ. Tăng trưởng thánh huệ là tăng trưởng lớn. V́ sao vậy ? Nếu các loài hữu t́nh tăng trưởng thánh huệ th́ ở trong pháp nầy được nhiều hỷ lạc, chẳng lo khổ chỗ ở, chẳng có tai nạn, chẳng có lo âu, chẳng có phiền muộn và nhiễu hại. Cũng chẳng bị đêm dài làm cho khổ sở về sau. Chẳng hề thọ nhận nhiều loại cực h́nh tai hại về sau, cũng chẳng tăng trưởng máu huyết, chẳng vào nơi đường sanh tử, chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, A Tu La, chẳng thọ thân người trời sanh tử khổ năo. V́ sao vậy ? Do nơi chúng hữu t́nh nơi thánh huệ nầy mà được giác ngộ cũng như thông suốt. Chẳng sanh vào 6 nẻo luân hồi. Nếu các loài hữu t́nh chưa tăng trưởng thánh huệ th́ khó thoát ly sự khổ ải vô biên. Cho nên các ngươi nên biết rằng ta đương tu tập về thánh huệ, làm cho tăng trưởng. Ta đương nghĩ về thánh huệ cho họ được giác ngộ và thông đạt. Nầy các T Kheo! Phải nên biết như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Như Lai nếu xuất hiện

Thế gian loài hữu t́nh

Có cầu có quy y

Đều tăng trưởng thánh huệ

Được bạn lành tài sản

Đó là tăng trưởng nhỏ

Nếu được chơn thánh huệ

Đó là tăng trưởng lớn

Ta xem khắp thế gian

Được vô thượng thánh huệ

Chẳng luân chuyển sanh tử

Chắc chắn nơi Niết Bàn

Họ ở nơi pháp ấy

Ĺa khổ thường an lạc

Về tương lai đêm dài

Ĺa sanh tử luân hồi

Nếu muốn tăng thánh huệ

Phải biết khổ chúng sanh

Nên cầu Phật Thế Tôn

Sống lâu nơi cơi thế

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Thế giới có một pháp, khi sanh ra làm cho chúng sanh ngu si tăng trưởng, sân hận tật đố kiên cố, dơ bẩn tăng theo, ác thú đầy dẫy v́ các chúng sanh không phải lợi ích mà làm việc bất an, làm cho thế gian trời người đại chúng chẳng có ư nghĩa và lợi ích, tăng trưởng sự sầu khổ. Sao gọi là một pháp ? Đó gọi là tà kiến. Cho nên do tà kiến mà làm cho chúng hữu t́nh ngu si tăng trưởng, sân hận dày sâu, dơ bẩn tăng trưởng, ác thú đầy dẫy làm cho các chúng sanh làm việc chẳng lành. Cho nên chẳng an lạc. Làm cho chúng sanh trong thế gian trời người và đại chúng chẳng có ư nghĩa chẳng được lợi ích, tăng trưởng sự sầu khổ. Như thế đó có tên là một pháp. Lúc sinh trưởng th́ làm cho chúng hữu t́nh ngu si tăng trưởng. Nói rộng cùng ra làm cho thế gian, trời, người đại chúng, chẳng có ư nghĩa, chẳng được lợi ích, tăng trưởng ưu khổ. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Lúc tà kiến sanh trưởng

Làm ngu si tăng theo

điên đảo kiên cố

Các dơ bẩn tăng theo

Làm đầy các ác thú

V́ chẳng lợi lạc ai

Tà kiến hại người hiền

Như lửa thiêu đồ vật

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết. Trong đời có một pháp lúc sanh ra làm cho chúng hữu t́nh ngu si tổn giảm, điên đảo trừ diệt, tịnh pháp tăng theo, ĺa những ác thú, thiện thú thành tựu cùng các chúng sanh v́ đại lợi ích , v́ đại an lạc làm cho thế gian trời người đại chúng, có ư nghĩa, có lợi ích tăng trưởng niềm vui. Thế nào là một pháp? Đó là chánh kiến. Cho nên do chánh kiến mà làm cho chúng hữu t́nh ngu si được tổn giảm, điên đảo được trừ diệt, tịnh pháp được tăng trưởng, thoát khỏi ác thú, thiện thú thành tựu, cùng các chúng sanh v́ đại lợi ích, v́ đại an lạc làm cho thế gian trời người đại chúng có ư nghĩa, có lợi lạc, tăng trưởng niềm vui, như thế có tên là một pháp trong đời. Lúc sanh trưởng ra làm cho loài hữu t́nh ngu si tổn giảm, nói rộng cho đến làm cho thế gian trời người đại chúng có ư nghĩa, có lợi ích, tăng trưởng niềm vui. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Lúc chánh kiến sanh trưởng

Làm ngu si tổn giảm

điên đảo trừ diệt

Các tịnh pháp tăng theo

Ĺa ác, đầy thiện thú

V́ ích lợi an vui

Chánh kiến nơi hiện tại

Sớm chứng được Niết Bàn.

Ta từ Đức Thế Tôn đă được nghe như thế nầy. Các T Kheo nên biết! Ta xem trong thế gian chẳng có một pháp nào mà xa rời bệnh tật, giống như tâm nầy. V́ sao vậy ? Từ tâm sinh ra cảnh, xa tật trở lại, thế là xuất thế gian chẳng thể thí dụ. Các ngươi nên giữ tâm tướng nầy. Khi giữ tâm tướng lành nầy rồi hăy nên suy nghĩ. Khi tư duy rồi, nên hay quán sát. Khi quán sát rồi hay làm cho an trụ. Khi an trụ rồi. Nếu chẳng may bị tham dục quấy nhiễu th́ các ngươi quán sát thâm sâu hơn, ta làm cho những tham dục đó phải biết, ta làm cho những tham dục bên trong đó phải biết, quán sát cho kỹ, lại phải tác ư, suy nghĩ tùy theo một tướng dễ thương. Nếu tâm tùy thuận hướng về an lạc th́ sẽ có cảnh giới dễ thương. Phải biết tâm nầy tùy thuận theo dục mà làm cho sai trái. Lúc ấy các ngươi phải nên tự giác. Ta ví điều nầy như sự tham dục ở bên trong, chẳng thể giác được, chẳng phải chẳng có. Ngươi nay chưa đoạn ĺa được ngũ dục tham muốn th́ sự chứng ngộ có sự sai biệt. Ta dụ như quả vị tu tập chưa chứng, ví như có người bị nước cuốn nhanh, thuyền bè trôi giạt, ngược chiều mà đi. Người nầy lúc ấy phải dùng nhiều sức. Nếu hay lười biếng phải chảy ngược ḍng như các ngươi biết. Khi suy nghĩ một pháp có thể như thế, nếu tâm tùy thuận vui theo an lạc, vui theo cảnh ngoài, phải biết tâm nầy tùy thuận các dục làm cho sai mất. Các ngươi lúc ấy phải nên tự giác, do nơi nội tâm tham dục mà chẳng thể giác, chẳng làm chẳng có, ta nay khi chưa đoạn ngũ dục tham lam th́ sự chứng quả có sự sai biệt. Ta nay ví như chưa tu chứng quả. Các ngươi nên tác ư suy nghĩ tùy theo tướng dễ thương. Nếu tâm tùy thuận muốn hướng về thiện lạc th́ có tướng xa ĺa. Phải biết tâm nầy tùy thuận xa ĺa, làm cho các dục cũng sai khác. Lúc ấy các ngươi nên tự biết rằng ta đă làm cho không c̣n tham dục bên trong nữa. Chẳng có ví dụ nữa. Nếu mà chẳng giác, ta làm cho đoạn ngũ dục tham lam chứng được quả vị, có sự sai biệt với trước. Ta làm cho có thể chứng quả rồi. Như xương cánh bỏ vào giữa lửa, liền co quắp lại, chẳng thể tồn tại. Các ngươi nên biết như thế, suy nghĩ tùy theo một tướng dễ thương. Nếu tâm tùy thuận hướng về hỷ lạc xa ĺa tướng ấy, phải biết tâm nầy tùy thuận xa ĺa các dục sai khác. Các ngươi lúc ấy nên tự biết rằng ta đă làm cho những tham dục bên trong chẳng có chẳng c̣n. Nếu mà không tỉnh th́ ta làm cho đoạn đi ngũ dục tham lam để chứng được quả vị sai biệt giống như phía trước. Ta làm cho có thể chứng được quả như thế rồi th́ các ngươi nên biết ta phải làm sao để chuyển tự tâm trở thành thuận pháp ? Làm cho điều phục tâm nầy ? Xa rời khỏi dục, tùy thuận xuất ly. Các vị T Kheo! hăy nên biết. Lúc ấy Đức Thế Tôn muốn sâu và nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Chẳng có một pháp nào

Thay đổi giống như tâm

Khó chế ngự khó pḥng

Đức Phật đă nói thế

Dụ như có người trí

Đem đđể vào lửa

Điều phục chúng khó khăn

Làm xa rời trong đó

Như thế các T Kheo

Phải học phép phương tiện

Điều phục nơi tâm tánh

Làm cho chứng Niết Bàn

Sâu vào nghĩa kinh trước Uẩn Đà Nam viết:

Tu từ tu hai duyên

Giống phạm giới tŕ giới

Hai vọng hai thánh huệ

Tà kiến chánh kiến tâm.

Kinh Bổn Sự- Quyển hai

-o0o-

 

previous.png   back_to_top.png   next.png

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

google-site-verification=Iz-GZ95MYH-GJvh3OcJbtL1jFXP5nYmuItnb9Q24Bk0