佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giải

Lục Tổ Huệ Năng

Ḥa Thượng Tuyên Hóa Giảng Thuật

-o0o-

Phẩm Sám Hối Đệ Lục 

 

Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giải

Phần Lược Tự

Phẩm Hành Do Đệ Nhất

Phẩm Bát Nhă Đệ Nhị 

Phẩm Nghi Vấn Đệ Tam 

Phẩm Định Huệ Đệ Tứ

Phẩm Tọa Thiền Đệ Ngũ

Phẩm Sám Hối Đệ Lục

Phẩm Cơ Duyên Đệ Thất 

Phẩm Đốn Tiệm Đệ Bát 

Phẩm Tuyên Chiếu Đệ Cửu

Phẩm Phó Chúc Đệ Thập

 

Lúc kia Đại sư thấy các quan dân ở Quảng Châu, Thiều châu và bốn phương đồng kéo nhau tụ tập trong núi đặng nghe pháp, th́ Ngài lên ṭa giảng mà bảo chúng rằng:

"Chư Thiện tri thức, hăy lại gần đây. Việc nầy phải do trong tánh ḿnh mà khởi ra. Trong cả thảy thời gian, niệm niệm ḿnh phải lóng sạch tâm ḿnh, ḿnh phải trau sửa nết hạnh của ḿnh, ḿnh phải thấy Pháp thân của ḿnh, ḿnh phải thấy Phật tâm của ḿnh, ḿnh phải độ và răn lấy ḿnh, th́ đến đây mới là hữu ích, chẳng uổng phí công lao. Các ngươi đă từ phương xa mà đến, đồng hội hiệp tại chỗ nầy, ấy là các ngươi đều có duyên với nhau. Vậy bây giờ các ngươi cả thảy quỳ xuống. Trước ta truyền năm phần Chơn hương của Pháp thân trong Bổn tánh ḿnh, kế ta truyền pháp Sám hối không tướng.

Cả thảy đồng quỳ.

Giảng:

Vào lúc đó, Lục Tổ Đại sư đang ở Chùa Nam Hoa nh́n thấy dân chúng cùng dân sĩ trí thức ở Quảng Châu, Thiều Châu (tức Khúc Giang) và mọi nơi, cùng nhau vân tập vào trong núi thỉnh pháp. V́ thế Lục Tổ thăng ṭa thuyết pháp:

–Đến đây, quư vị Thiện tri thức! Tu pháp môn tâm địa tọa thiền cần phải từ trong tự tánh khởi tu. Bất luận lúc nào, niệm niệm đều phải giữ ǵn chánh niệm, không chứa chấp tà niệm, có chánh niệm tức là tự tịnh kỳ tâm. Pháp môn này đ̣i hỏi quư vị tự tu tự hành, người khác không thể thay thế, cần phải nh́n thấy Pháp thân của chính ḿnh – tức tự tánh, quư vị cần phải nh́n thấy Đức Phật chân chánh trong tâm ḿnh, tự ḿnh độ thoát ḿnh, tự ḿnh giữ ǵn giới luật như thế mới xứng đáng công phu quư vị từ ngàn dặm xa xôi đến núi này.

Quư vị đă từ xa xôi đến đây, vân tập tại chỗ này, chúng ta đều có duyên với nhau, đều là từ nhiều kiếp nhiều đời vun trồng thiện căn, kiếp này mới hội tụ tại một chỗ. Nay quư vị mỗi người đều hồ quỳ (tức chân phải quỳ xuống). Trước tôi sẽ truyền cho các ông Ngũ phần hương Pháp thân tự tánh, sau đó sẽ truyền thọ Sám hối vô tướng.

Sư nói rằng: "Một là giới hương, nghĩa là tâm ḿnh không tưởng điều quấy, không toan việc dữ, không sanh ghen ghét, không sanh tham lam giận hờn, không mong cướp của hại người. Ấy gọi là Giới hương.

Hai là Định hương, nghĩa là thấy các cảnh tướng lành dữ mà tâm ḿnh chẳng tán loạn. Ấy gọi là Định hương.

Ba là Huệ hương, nghĩa là tâm ḿnh không bị ngăn lấp, ḿnh lấy trí huệ mà quán chiếu tánh ḿnh và chẳng tạo các điều dữ. Tuy ḿnh tu các hạnh lành mà tâm không chấp trước, thường kính người trên tưởng kẻ dưới, hay xót thương những kẻ côi cút nghèo nàn. Ấy gọi là Huệ hương.

Giảng:

Thứ nhất giới hương, chính là tâm ḿnh không có một chút thị phi, không có tất cả thiện ác, không có tâm tật đố. Quư vị muốn tŕ giới, th́ không nên có tâm tật đố, không có tham tâm, sân tâm, không cướp hại, và cũng không có những việc cướp bóc giết hại người, đó chính là giới hương.

Thứ hai định hương, chính là nh́n thấy tất cả cảnh giới thiện ác mà trong tâm không dao động, đó là định hương.

Thứ ba trí huệ hương, tức là tự ḿnh không làm chướng ngại ḿnh, không nên tự ḿnh làm khó khăn cho ḿnh, cần phải thường dùng trí huệ phá vô minh, quán chiếu tự tánh, các việc ác không làm. Cần phải làm các điều thiện, mà tâm không chấp trước. Giống như Lương Vơ Đế hỏi Tổ sư Đạt Ma: "Trẫm tạo tự, độ Tăng, bố thí cúng dường có công đức ǵ?" đây chính là có chỗ chấp trước, nhà vua chấp vào công đức đă làm. Nếu quư vị làm việc tốt, th́ khi làm xong nên quên nó đi, không nên nói: "Tôi bố thí năm trăm đồng, một ngàn đồng…" Cảm thấy công đức ḿnh rất lớn, lớn c̣n hơn phước đức của chư thiên nữa, dường như đă đến cơi Trời Đao Lợi. Nếu quư vị có những tư tưởng như thế th́ không có trí huệ, giống như Lương Vơ Đế vậy. Đối với Cha Mẹ, Sư Trưởng, bậc trên ḿnh, cần phải cung kính, đối với người dưới phải từ bi, thương xót cứu tế giúp đỡ cô nhi, quả phụ v.v.. Đó chính là trí huệ hương.

Bốn là Giải thoát hương, nghĩa là tâm không đeo níu vào một cảnh vật nào, ḿnh chẳng nghĩ điều lành, không tưởng việc dữ, thông thả suốt thông (tự tại vô ngại). Ấy gọi là Giải thoát hương.

Năm là Giải thoát tri kiến hương, nghĩa là tâm ḿnh tuy đă không đeo níu vào một cảnh vật nào, ḿnh chẳng nghĩ điều lành, không tưởng việc dữ, nhưng chẳng nên "trầm không thủ tịch." Phải học rộng nghe nhiều, phải biết Bổn tâm ḿnh, phải rơ thông đạo lư của chư Phật, phải xen lẫn trong thế gian mà cứu nhơn lợi vật (ḥa quang tiếp vật), không phải nhơn ngă, mà thẳng đến Bồ đề – cái Chơn tánh không thay đổi. Ấy gọi là Giải thoát tri kiến hương.

Chư Thiện tri thức! Chơn hương nầy, mỗi phần tự có cái chất xông thơm ở bên trong, đừng t́m kiếm bên ngoài.

Giảng:

Thứ tư giải thoát hương, chính là không có tâm phan duyên (tâm bám víu, dính vương), nếu có chỗ phan duyên th́ không buông xả được, thường hay tưởng nhớ đến một sự việc nào, đó chính là tà niệm, th́ không thể giải thoát được. Không nghĩ thiện, cũng không nghĩ ác, hoàn toàn tự tại, không có chỗ chướng ngại, đó chính là giải thoát hương.

Thứ năm là giải thoát tri kiến hương, tức không phan duyên điều thiện, cũng không phan duyên điều ác, nhưng cũng không chấp trước vào không mà trầm không trệ tịch. Không nên nói: "Tôi ngồi ở đây, cái ǵ cũng không học, đó chính là không." Kỳ thực đó là ngoan không, không có một chỗ dụng, giống như trong quả banh cũng là không nhưng cái không đó không có cái dụng nào. Cảnh giới trầm không trệ tịch này, cũng giống như cái không trong quả banh. Đó là ngoan không, tuy cùng là không, nhưng nó không giống với cái không của hư không. Đây biểu thị một người suốt ngày ngồi chết tại một chỗ, trăm vật không nghĩ, cái ǵ cũng không nhớ đến, đến giờ ăn cơm th́ ăn cơm, giờ ngủ th́ ngủ, cái ǵ cũng không làm, thời gian trôi qua vô ích; quư vị xem thế có đáng thương xót hay không?

Như vậy cần phải làm sao? Cần phải quảng học đa văn. Nay chúng ta nghe Kinh, học tập Phật pháp, cần phải nghe nhiều học rộng. Có người muốn học Phật pháp nhưng lại không nghe Kinh, cũng không học Phật pháp, đối với Phật pháp một chút cũng không biết, lại nói cái ǵ cũng hiểu rơ sáng suốt, đây là loại người trầm không trệ tịch.

Cần phải nhận thức bổn tâm chính ḿnh, thông đạt tất cả nghĩa lư Kinh Phật, ḥa quang tiếp vật. Cái ǵ là ḥa quang? Như ở đây có cái đèn, ở kia cũng có cái đèn, đèn đều có ánh sáng, quư vị xem có khi nào đèn cùng đèn đánh lộn, hoặc khởi lên sự xung đột mà nói: "Ánh sáng của ngươi sáng hơn ta, không được như vậy, ngươi lập tức đem ánh sáng của ngươi thâu trở về!" hoặc nói: "Ánh sáng của ngươi nhỏ quá, sáng một chút nữa được không; nếu không, ngươi không được cùng ta tỏa ánh sáng trong pḥng này!" Điều đó không bao giờ có. Chính là mọi người trong thế giới này, quư vị hành đạo của quư vị, tôi hành đạo của tôi, mỗi người thực hành đạo của ḿnh mà không chướng ngại nhau. Quư vị không làm chướng ngại tôi, tôi cũng không làm chướng ngại quư vị, đó chính là ḥa quang. Quang chính là ánh sáng quang minh, không thể nói danh dự của quư vị tương đối cao, cần phải đánh đổ quư vị xuống mà đưa cái danh dự của tôi lên. Quư vị làm việc của quư vị, tôi làm việc của tôi, như có người ganh tỵ tôi, th́ có thể, nhưng tôi không được tật đố người. Quư vị giỏi hơn tôi, tôi càng vui vẻ; quư vị càng thành công tôi càng hoan hỷ, như thế sẽ không c̣n tâm tật đố. Có người nói:

–Tôi cùng với anh ta ḥa quang, nhưng anh ta không có ḥa quang với tôi.

Nếu quư vị ḥa quang với ông ta th́ sẽ không biết ông ta không ḥa quang với quư vị, nếu biết ông ta không ḥa quang với quư vị, đó biểu thị quư vị chưa có ḥa quang với ông ta. Nếu ông ta không ḥa quang đó là việc của ông ta, không nên chú ư đến, chỉ cần quư vị ḥa quang với ông ta là được rồi.

Cái ǵ gọi là tiếp vật? Tức tiếp dẫn chúng sanh, tiếp dẫn tùy theo căn cơ chúng sanh. Ông thích Đại thừa Phật pháp, tôi liền giảng Phật giáo đại thừa; ông thích Phật giáo Tiểu thừa, tôi giảng pháp Tứ đế của Tiểu thừa, ông thích hành Bồ Tát đạo, tôi giảng Lục độ vạn hạnh; ông thích pháp Bích Chi Phật, tôi giảng Mười hai nhân duyên. Đó chính là ḥa quang tiếp vật, tùy theo căn cơ chúng sanh mà thuyết pháp độ sanh, tiếp dẫn chúng sanh khiến chúng sanh thoát khổ được vui.

Cần phải vô ngă vô nhân mới có thể ḥa quang tiếp vật, quư vị không nên tiếp độ một người liền tính toán rằng ḿnh đă độ được một chúng sanh, công đức rất lớn. Không nên cho rằng: "Tôi nay độ ba vị Tỳ kheo, hai cô Tỳ kheo ni xuất gia, công đức của tôi rất lớn!" Người có tư tưởng này, ngay một chút vi trần công đức cũng không có. Vậy th́ phải làm sao? Cần phải vô nhân vô ngă, hành sở vô sự, cho đến độ người thành Phật cũng không chấp trước công đức độ chúng sanh. Cho nên Kinh Kim Cang nói: "Diệt độ tất cả chúng sanh rồi, mà không có một chúng sanh thực sự diệt độ." Chớ nên sáng niệm Kinh Kim Cang, tối cũng niệm Kinh Kim Cang, niệm hoài niệm măi mà không hiểu nghĩa lư Kinh Kim Cang, lại tự cao ngă mạn nói: "Ông xem tôi như thế nào!" lại có một cái "ngă," bất cứ cái ǵ cũng đem ngă bày ra trước. Vậy ông tụng niệm Kinh Kim Cang ǵ vậy? Điều mà Kinh Kim Cang xiển thuật là: Vô nhân, vô ngă, vô chúng sanh, vô thọ giả, nhứt thiết chư pháp không tướng. Cho nên cần phải hiểu rơ chân nghĩa, trực chỉ Bồ đề. Chân tánh không thay đổi – chân tánh cũng không biến dị, đó gọi là giải thoát tri kiến hương. Ngay tri kiến cũng giải thoát, không có chỗ chấp trước,

"Vô nhân vô ngă Quán Tự Tại,

Phi không phi sắc kiến Như Lai"

Ai có thể vô nhân vô ngă, chính là Bồ Tát Quán Tự Tại. Không chấp không, cũng không chấp có (sắc chính là có sắc tướng), không lạc vào không cũng không lạc vào có, th́ sẽ nh́n thấy Phật.

Quư vị Thiện tri thức! Ngũ phần hương Pháp thân này ở trong Pháp thân mỗi người, cho nên cần phải ứng dụng hương Pháp thân này, xông đốt trong tự tánh, không nên giong ruổi bên ngoài t́m cầu.

Bây giờ ta truyền cho các ngươi pháp Sám hối không tướng, pháp này tiêu diệt hết các tội trong ba đời, khiến cho ba nghiệp đều được trong sạch.

Giảng:

Nay tôi truyền thọ cho các ông Vô tướng sám hối. Cái ǵ gọi là sám? Tức sám kỳ tiền khiên (sám những lỗi về trước); cái ǵ gọi là hối? Tức hối kỳ hậu tội (hối những lỗi về sau). Sám hối có thể diệt tội lỗi ba đời, tội lỗi trong đời hiện tại, đời quá khứ, đời vị lai đều có thể tiêu diệt. Nhưng quư vị cần phải thanh tịnh kỳ tâm mà sám hối, khiến cho tam nghiệp thân, khẩu, ư của quư vị đều thanh tịnh.

Chư Thiện tri thức! Hăy đồng xướng lên một lượt và nói theo ta.

Chúng đệ tử, từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng nhiễm sự ngu mê. Các tội do nghiệp ác ngu mê đă tạo ra từ trước thảy đều ăn năn, nguyện dứt hết một lần, hằng chẳng gây lại nữa.

Giảng:

–Quư vị Thiện tri thức! Các ông nói theo tôi, đồng thời mỗi người tự xưng pháp danh.

Lúc này Lục Tổ Đại sư truyền Tam quy, sám hối và phát Tứ hoằng thệ nguyện cho các thiện nam, tín nữ.

Niệm quá khứ, niệm hiện tại và niệm tương lai, mỗi niệm không bị ngu si xoay chuyển, niệm niệm đều sanh trí huệ. Các tội lỗi ngu mê ác nghiệp mà con đă gây tạo từ trước, như mười điều ác: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, tham sân si..., nay con xin thành tâm hối cải, và cầu nguyện trong thời gian một sát-na đều tiêu diệt không c̣n, từ nay về sau con không c̣n tái phạm các tội lỗi ngu mê này nữa.

Chúng đệ tử, từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng nhiễm sự ngạo dối. Các tội do nghiệp ác ngạo dối đă tạo ra từ trước thảy đều ăn năn, nguyện dứt hết một lần, hằng chẳng gây lại nữa.

Giảng:

Kiêu chính là kiêu căng ngă mạn, chỉ biết có ḿnh mà không biết người khác, trong mắt không tất cả, trên trời dưới đất duy ngă độc tôn. Cuống là cuống vọng tự đại, cũng có thể là vọng ngữ, cảm thấy ḿnh không ai sánh kịp, khắp toàn thế giới ta là nhân vật số một, là vĩ đại nhất, thậm chí các lănh tụ các nước trên thế giới, cũng không ai lớn bằng ta, như thế gọi là kiêu cuống. Niệm niệm không bị kiêu cuống làm nhiễm, không bị kiêu cuống xoay chuyển. Từ trước đă phạm những tội lỗi kiêu mạn cuống ngữ, thảy đều xin sám hối, nguyện trong thời gian một sát-na đều tiêu diệt, không bao giờ khởi lại.

Chúng đệ tử, từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng nhiễm sự ghen ghét. Các tội do nghiệp ác ghen ghét đă tạo ra từ trước đều ăn năn, nguyện dứt hết một lần, hằng chẳng gây lại nữa.

Chư Thiện tri thức! nhẫn lên là pháp Sám hối không tướng.

Giảng:

Ở trên sám hối ngu mê, kiêu cuống; nay sám hối tật đố. Tật đố là thứ tệ hại nhất. Người người tu đạo đều bị tật đố làm chướng ngại. Thấy người giỏi hơn ḿnh, liền sanh ḷng tật đố; thấy người thông minh hơn ḿnh, liền sanh ḷng tật đố; thấy người học cái ǵ cũng nhanh hơn ḿnh, liền sanh ḷng tật đố; thấy người tu đạo ngồi thiền, ngồi như như bất động, cũng sanh ḷng tật đố; thấy người ăn cơm nhiều cũng sanh ḷng tật đố; thấy người ngủ nhiều một chút cũng sanh ḷng tật đố, Tóm lại thấy người ta có cái ǵ mà ḿnh làm không được liền sanh ḷng tật đố, thậm chí thấy người ta bệnh rất lâu, cũng sanh ḷng tật đố, nói: "Tại sao tôi không mắc bệnh?" V́ thế tật đố là thứ tệ hại nhất, cho nên quư vị không nên để tật đố xoay chuyển. Từ trước đă phạm những tội nghiệp tật đố, nay đều xin sám hối tất cả, nguyện trong một sát-na đều tiêu diệt hết, không bao giờ khởi lại.

Quư vị Thiện tri thức! Những điều tôi nói ở trên chính là pháp môn Vô tướng sám hối.

Sao gọi là Sám? Sao gọi là Hối?

Sám nghĩa là ăn năn các tội trước của ḿnh. Những tội do các nghiệp ác ngu mê, ngạo dối, ghen ghét, đă tạo ra từ trước, tất cả đều ăn năn, hằng chẳng gây lại nữa. Ấy gọi là Sám.

Hối nghĩa là ăn năn các lỗi sau của ḿnh. Những tội do các nghiệp ác ngu mê, ngạo dối, ghen ghét tạo ra, nay đă giác ngộ rồi, tất cả đều dứt bỏ đời đời, ngày sau chẳng gây ra nữa. Ấy gọi là Hối. Cho nên kêu là Sám hối.

Các người phàm phu ngu muội chỉ biết ăn năn tội trước của ḿnh, mà chẳng biết ăn năn lỗi sau. Bởi chẳng ăn năn, nên tội trước chẳng dứt, lỗi sau lại sanh. Tội trước đă chẳng dứt, lỗi sau lại sanh, th́ sao gọi là Sám hối được?

Giảng:

Cái ǵ gọi là sám? Cái ǵ gọi là hối? Sám chính là sửa đổi những tội nghiệp về trước. Từ trước đă tạo những ác nghiệp, ngu mê, kiêu cuống, tật đố, tất cả đều xin sám hối, không bao giờ khởi lại, đó gọi là sám. Hối là hối những lỗi lầm sẽ phạm về sau, từ nay trở về sau, tất cả những ác nghiệp, ngu mê, kiêu cuống, tật đố... con đều hiểu rơ, và vĩnh viễn đoạn trừ nó, không bao giờ làm những việc sai lầm đó nữa, đó gọi là hối. Tóm lại, đó gọi là sám hối. Phàm phu v́ quá ngu si, chỉ biết làm sai xong mới biết sửa đổi sai lầm, mà không biết sửa lỗi từ trong tâm, về sau không dám tái phạm. V́ họ không hối lỗi, cho nên những tội lỗi đă tạo từ trước đă không tiêu diệt, mà những tội lỗi về sau lại phát sanh. Cho nên tội trước đă không diệt, mà lỗi sau lại tiếp tục tăng gia, vậy th́ càng tạo càng nhiều, càng chứa càng sâu, như thế làm sao có thể gọi là sám hối?

Chư Thiện tri thức! Đă sám hối rồi, bây giờ ta cho các ngươi lập Bốn điều thề nguyền lớn (tứ hoằng thệ nguyện). Mỗi người phải dùng tâm chơn chánh mà nghe ta dạy:

Cả thảy chúng sanh không giới hạn trong tâm ḿnh đều thề nguyền hóa độ.

Cả thảy các điều phiền năo chẳng xiết kể trong tâm ḿnh đều thề dứt bỏ.

Cả thảy các pháp môn kể trong tánh ḿnh đều thề nguyện học cả.

Đạo Phật cao hơn hết trong tánh ḿnh thề nguyền tu đến thành công.

Chư Thiện tri thức! Cả thảy chúng ngươi há chẳng nói: "Cả thảy chúng sanh không giới hạn, mà tự ḿnh đều thề nguyền hóa độ, thế th́ chẳng phải Sư Huệ Năng độ!"

Giảng:

Quư vị Thiện tri thức! Quư vị đă biết thế nào là sám hối, nay tôi cùng quư vị phát tứ hoằng thệ nguyện. Quư vị mỗi người cần phải chánh tâm thành ư nghe: Một, chúng sanh vô biên trong tâm ḿnh cần phát nguyện độ. Hai, tự tâm phiền năo vô lượng cần phát nguyện đoạn. Ba, tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học. Bốn, tự tánh vô thượng Phật đạo, mỗi người đều phải phát nguyện thành tựu. Mỗi vị đều là người có trí huệ, quư vị không phải đă phát nguyện chúng sanh vô biên thệ nguyện độ hay sao? Làm sao để độ chúng sanh? Đây không phải Huệ Năng tôi độ mỗi vị chúng sanh của quư vị, mà là quư vị tự tánh tự độ.

Chư Thiện tri thức! Chúng sanh trong tâm ḿnh tức là: ḷng tà mê, ḷng giả dối, ḷng bất thiện, ḷng ghen ghét, ḷng ác độc. Các tâm nầy đều gọi là chúng sanh. Mỗi người phải dùng tánh ḿnh mà độ lấy ḿnh, mới gọi là thiệt độ.

Giảng:

Chúng sanh trong tâm ḿnh, có thiện, có ác. Chúng sanh thiện tự biết cầu Vô thượng đạo, phát Bồ đề tâm, nhưng chúng sanh ác th́ nương vào quư vị độ nó. Cho nên cần phải phát nguyện độ chúng sanh trong tâm ḿnh. Giảng đến đây, chúng ta mỗi người đều nên hồi quang phản chiếu, tự ḿnh phản tỉnh quan sát một chút: " Chúng sanh trong tự tâm tôi đă độ chưa? Tư tưởng của tôi có thuần chân không? Hành vi có cao thượng không? Tôi có tâm tật đố, tâm chướng ngại, và muôn vàn tâm vô minh không?" Chúng sanh trong tâm ḿnh vốn vô lượng, vô biên, nay đưa ra những điểm quan trọng: chúng sanh tà mê cần phải dùng trí huệ chân chánh độ. Cần dùng tâm khiêm cung, tâm chân thật độ chúng sanh cuống vọng, kiêu mạn. Cần dùng tâm thiện độ chúng sanh có tâm ác. Cần dùng tâm cung kính độ tâm tật đố. Nếu tật đố người này hay giỏi hơn tôi, th́ cần phải dùng tâm cung kính hóa giải. Tâm ác độc, ở đây đưa ra ví dụ, giống như Bồ Đề Lưu Chi dùng thuốc độc đầu độc sát hại Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, đó là tâm ác độc. Quư vị nghe kinh cần phải hồi quang phản chiếu, tự hỏi ḿnh có những tật xấu này không. Kinh nói độ chúng sanh, vậy trong tâm tôi có những chúng sanh này không? Nếu có th́ t́m cách độ nó. Nếu quư vị không độ nó, nó liền kéo quư vị xuống địa ngục, mà chịu khổ vô cùng không ra khỏi được.

Trên đây đă giảng các loại tâm, đó là chúng sanh, quư vị mỗi người cần phải độ những chúng sanh này đến lúc rốt ráo mới được ngừng nghỉ, không nên đă biết mà vẫn cố phạm, đó mới là chân độ chúng sanh. 

Sao gọi dùng tánh ḿnh mà độ lấy ḿnh (tự tánh tự độ)? Nghĩa là các chúng sanh trong tâm là tà kiến, phiền năo, ngu si, phải đem chánh kiến mà hóa độ các tánh xấu ấy. Đă có sẵn chánh kiến th́ phải dùng trí Bát nhă để đánh dẹp các chúng sanh ngu si, mê vọng. Mỗi mỗi ḿnh phải độ lấy ḿnh: Tà đến lấy chánh độ; mê lại, dùng ngộ mà độ; ngu đến, lấy trí mà độ; dữ lại dùng lành mà độ. Độ như thế, mới gọi là thiệt độ.

Giảng:

Cái ǵ gọi là tự tánh tự độ? Tức những chúng sanh tà kiến, phiền năo, ngu si trong tâm ḿnh, quư vị cần phải dùng chánh kiến giáo hóa chúng nó. Quư vị đă có chánh kiến, th́ dùng Bát nhă trí huệ đánh chết những chúng sanh mê vọng, ngu si.

Có người nói:

–Đánh chết chúng sanh không phải phạm giới sao?

Phạm giới này, một chút xíu cũng không quan trọng. Lúc không nên phạm giới th́ quư vị không sợ phạm, lúc không phạm giới th́ quư vị nói đă phạm – Loại người như quư vị thật khó giáo hóa! Những chúng sanh xấu xa trong tự tánh quư vị, cần phải trừ đi. Trừ đi những chúng sanh xấu, những chúng sanh tốt sẽ được an lạc, cho nên có thể giết, có thể đánh chết nó.

Quư vị mỗi một người cần phải tự tánh tự độ. Lúc chúng sanh tà đến, cần dùng chúng sanh chánh độ nó. Chúng sanh mê lại th́ dùng chúng sanh ngộ độ. Chúng sanh ngu si đến, quư vị dùng trí huệ độ, chúng sanh ác đến th́ dùng chúng sanh thiện độ. Độ chúng sanh như thế, mới gọi là chân chánh độ chúng sanh.

Tất cả các điều phiền năo chẳng xiết kể đều thề nguyền dứt bỏ, nghĩa là đem Trí Bát nhă của tánh ḿnh mà dứt bỏ ḷng nghĩ tưởng giả dối. Thế mới gọi là thiệt độ.

Tất cả các pháp môn kể không hết đều thề nguyền học cả, nghĩa là tự ḿnh phải thấy tánh, thường thực hành các chánh pháp. Thế mới gọi là thiệt học.

Đạo Phật cao hơn hết thề nguyền tu đến thành công, nghĩa là đă thường hạ được cái tâm (giữ hạnh khiêm cung), làm việc chơn chánh, ĺa mê ĺa giác, thường sanh Bát nhă, bỏ chơn trừ vọng, tức khắc thấy tánh Phật. Ấy là nghe nói pháp rồi, liền thành Phật đạo.

Thường thường tưởng đến việc tu hành là cái chánh pháp tạo nên mạnh của thệ nguyện (nguyện lực) vậy.

Giảng:

Phiền năo th́ không có lúc cùng tận, nhưng quư vị cần đoạn nó, nói là đoạn nhưng thực ra là biến, làm sao biến? Tức biến phiền năo thành Bồ đề, v́ phiền năo tức Bồ đề, nếu đoạn phiền năo, cũng chính là đoạn luôn Bồ đề, cho nên không nên đoạn tận, cần lưu lại chút chút. Nếu đoạn tận phiền năo cũng là thành Phật, nay v́ không muốn thành Phật nhanh như vậy, bèn lưu lại một chút ít phiền năo như sợi lông cọng tóc, mà biến những phiền năo c̣n lại thành Bồ đề. Lúc Bồ đề nhiều rồi th́ có thể đem những phiền năo chút chút đó biến thành Bồ đề luôn. Cái ǵ gọi là đoạn phiền năo? Tức dùng trí huệ tự tánh chân chánh, trừ đi những tư tưởng hư vọng – vọng tưởng, cũng chính là tà niệm, vô minh của quư vị. Trừ vô minh, chính là đoạn phiền năo.

Cái ǵ gọi là pháp môn vô tận thệ nguyện học? Quư vị cần phải nhận thức bổn tâm của chính ḿnh, nh́n thấy bổn tánh của ḿnh, thường y theo chánh pháp tu hành, không nên hành tà pháp, đó chính là chân chánh học Phật pháp. Nếu quư vị chỉ học mà không hành, học Phật pháp rất nhiều, nhưng trên thực tế không ứng dụng thực hành, đó không phải là chân học Phật pháp. Người chân học cần phải thực hành, giống như có một vài người, đến Phật Giáo Giảng Đường học Phật pháp, lúc chưa học th́ hút thuốc, uống rượu, ma túy, tật xấu nào cũng có, nhưng sau khi học Phật pháp, thuốc cũng không hút, rượu cũng không uống, thịt cũng không ăn, ma túy th́ không cần nói đến. Lại nữa, lúc trước rất làm biếng, từ sớm ngủ đến tối, không có việc làm liền đi ngủ, nhưng nay nếu không xem Kinh th́ đánh máy, nghe Kinh, ngồi thiền. Nếu không phải chân học, th́ không làm những việc nhọc nhằn như thế.

Tứ hoằng thệ nguyện chính là những nguyện mà Bồ Tát cần phải phát.

Thường hành hạ tâm, chính là Kinh Địa Tạng nói, nếu có quốc vương, tể tướng, đại thần, bá quan dân chúng, hoặc là trưởng giả, cư sĩ, bà la môn, sát đế lợi, gặp những người bần cùng khốn khổ, tàn tật câm điếc, năng tự tay ḿnh bố thí, tươi cười, lời nói hiền ḥa an ủi, khiến cho họ có cảm giác an lạc, công đức này giống như cúng dường hằng hà sa số Phật. Cho nên muốn Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành, th́ phải giống như ṭa lầu cao trăm trượng từ đất khởi.

Có một người sau khi trở về Hương Cảng nói những lời không hợp lôgích, ông ta nói: "Những nhà trọc trời ở Nữu Ước không phải từ mặt đất xây dựng lên, mà xây nền móng trong không trung." Ông ta phao ra những lời đồn nhảm nhí như thế, chỉ có thể mê hoặc một số người ngu muội mà thôi.

Lại có người đưa ra một lời đồn khác: "Nước Mỹ thật là đẹp a! Cầu ṿng ở nước Mỹ không giống cầu ṿng ở Trung Quốc, nó rất sặc sỡ màu ǵ cũng có." Lại nói: "Mặt trăng ở nước Mỹ không phải h́nh tṛn mà là h́nh tam giác, mặt trời ở nước Mỹ h́nh vuông." Ông có tin những lời này không? Cho nên thành Phật cần phải có tâm khiêm hạ khiêm cung, không nên cống cao ngă mạn, nói: các anh xem tôi như thế như thế..., mà cần phải êm đềm lời nói, diệu ḥa sắc mặt, hành chân pháp, hành chánh pháp, hành pháp chân chánh, ly khai mê, ly khai giác. Giác này là chỉ giác của giác quan, là ác giác chứ không phải chánh giác. Giác có sự phân biệt giữa chánh giác và tà giác. Tà giác giống như có một số người, quư vị kêu họ học chánh pháp, họ học hoài học măi cũng không thông, nhưng vừa học bàng môn tả đạo th́ học rất nhanh. Giống như đánh bài, họ vừa nh́n là biết chơi liền, không cần phải dạy. Những thứ không chánh đáng th́ học rất nhanh, đó gọi là ác giác. Người tu học đạo, cần phải ly khai ác giác.

Như thế nào là ly khai ác giác? Cần phải thường sanh Bát nhă, Bát nhă chính là trí huệ, trí huệ tức là sáng suốt hiểu rơ, sáng suốt chính là giác.

Trừ chân trừ vọng, chân này là chỉ cái chân đối đăi của chân và vọng, không phải là chân của chân chánh. Nếu trừ đi cái chân, cũng trừ luôn cái vọng, th́ đó là tự tánh Chân như bổn lai của chính ḿnh. Tự tánh Chân như không phải chân hoặc vọng, v́ có chân nên có vọng, có vọng nên có chân, nếu không có vọng th́ cũng không có chân, cho nên tự tánh Chân như không vọng cũng không chân. Kinh Lăng Nghiêm nói: Vọng hiển chư chân, vọng chân đồng thị. Vọng chính là để hiển chân, vọng và chân đều là vọng, cần biết chân chân th́ không có đối đăi, không có một cái chân cũng không có một cái giả. Cho nên chân cần phải trừ, vọng cũng cần phải trừ. Nên nói: "Chân bất lập, vọng bổn không, hữu vô cụ di bất không không." Chân cũng không lập, vọng cũng vốn không, có và không đều không cần đến, lúc đó bất không cũng là không. Quư vị được như thế, th́ có thể nh́n thấy Phật tánh của chính ḿnh, lập tức thành tựu Phật đạo. Thường niệm niệm tu hành, thường tu tứ hoằng thệ nguyện. Có nguyện có thệ, mới có thể có tu có hành.

Chư Thiện tri thức! Nay đă bốn điều thề nguyền lớn rồi, ta lại truyền cho các ngươi Tam Vô tướng quy y (Vô tướng tam quy y giới).

Chư Thiện tri thức! Phải quy y ba pháp nầy:

1. Hăy quy y cái Diệu Giác của tánh ḿnh, là Lưỡng Túc Tôn.

2. Hăy quy y cái Chánh Pháp của tánh ḿnh, là Ly Dục Tôn.

3. Hăy quy y cái Thể Thanh Tịnh của tánh ḿnh, là Chúng Trung Tôn.

Giảng:

Quư vị đă nghe xong tứ hoằng thệ nguyện, tôi lại v́ quư vị truyền thọ Vô tướng tam quy y. Quy y Giác, Lưỡng Túc Tôn. Giác chính là Phật, Phật chính là giác. Tại sao gọi là Lưỡng Túc Tôn? Tức là phước đức và trí huệ viên măn.

Quy y Chánh, Ly Dục Tôn. Chánh cũng là Pháp, Pháp cũng là chánh; chánh pháp, pháp chánh. Cần phải quy y chân chánh Phật pháp, không nên quy y tà pháp, pháp thiên ma ngoại đạo. Ly Dục Tôn, mọi người ai cũng có một loại dục, mà loại dục này thiệt làm hại chết người. Tại sao người không thành Phật? Chính v́ có cái dục này, có dục th́ có tham tâm, sân tâm, si tâm. Mà người học Phật pháp cần phải ly dục, đoạn dục khử ái, không có tham dục, cho nên gọi là Ly Dục Tôn.

Quy y Tịnh, Chúng Trung Tôn. Tịnh cũng là Tăng, Tăng cũng là Tịnh. Quy y Tăng v́ Tăng là thanh tịnh phước điền Tăng, thanh tịnh chính là không ô nhiễm. Người chân chánh học đạo cần phải tŕ giới không giữ tiền bạc. Trên người không có tiền đó chính là tịnh, có tiền th́ không trong sạch, không thanh tịnh. Cho nên người chân chánh tu đạo cần phải ly khai tiền bạc. Nhưng ngược lại, không có tiền tài th́ không dưỡng được đạo, nếu không có tiền mà muốn tu hành th́ cũng không thể sanh tồn, v́ thế cũng cần có tiền. Nhưng cũng không nên chấp trước vào tiền bạc, không nên từ sáng đến tối phan duyên, cầu cạnh, nói ai đó trong ngân hàng có mấy trăm vạn, ta đến hóa duyên ông ta một số tiền để xây chùa, xây trường học, thỉnh một bộ Đại Tạng Kinh. Đây tuy đều là công đức, nhưng lại quên đi đó chính là phan duyên, tiền là vật không thanh tịnh.

Giảng đến đây, tôi chợt nhớ đến lúc tôi ở Măn Châu, đă có một thời gian tay không đụng đến tiền bạc. Tại sao lúc đó tôi giữ giới không giữ tiền? V́ khi đó ngôi chùa mà tôi xuất gia có bốn năm chục Tăng sĩ, lúc tôi xuất gia Ḥa Thượng Phương Trượng không ở chùa mà đă đi hóa duyên phương xa, c̣n những người khác lại không biết tôi. Ở trong chùa xuất gia cần phải làm công quả khổ hạnh. Công quả của tôi cùng với quư vị không giống nhau, nay quư vị đánh máy, tụng Kinh, hoặc là làm những công việc khác, c̣n ngôi chùa của tôi xuất gia th́ là một ngôi chùa lớn ở nông thôn, ngay việc quét sân cũng mất cả tiếng đồng hồ. Tôi ở trong chùa quét dọn nhà vệ sinh, đó là công tác đầu tiên của tôi. Nhà vệ sinh đó không giống như nhà vệ sinh hiện đại hóa của quư vị bây giờ, mà là hầm phân, cho nên cần phải gánh phân đi đổ chỗ khác, nếu không th́ rất là thơm, mà người học đạo không thích ngửi mùi thơm. Quư Thầy giao cho tôi việc này v́ người mới phát tâm đối với hương trần chưa có đoạn được. V́ thế tôi ngày ngày dọn dẹp vệ sinh, tuy nhiên cũng không chán ghét lắm. Ngoài việc này ra c̣n phải quét sân và nhiều việc nữa. Lúc trời rơi tuyết, hai giờ sáng tôi phải thức dậy quét đường sạch sẽ để cho đại chúng lên chánh điện tụng Kinh khuya. Cứ như thế trôi qua một thời gian, Ḥa Thượng Phương Trượng trở về, nh́n thấy tôi liền nói:

–Ô! Ông đă đến rồi.

Tôi trả lời:

–Da! Con đă đến.

Sau đó Ḥa Thượng Phương Trượng và mọi người họp lại để tuyển chọn thầy Thủ Tọa của Chùa. Thủ Tọa là chức vụ thấp hơn Ḥa Thượng Phương Trượng, lúc Ḥa Thượng Phương Trượng thoái vị, Thủ Tọa sẽ lên đảm trách chức vụ Phương Trượng. Trong chùa có rất nhiều Tăng sĩ, ai Ngài cũng không tuyển mà lại tuyển tôi, hỏi ư kiến mọi người thế nào? Mọi người đều phản đối:

–Ông ta mới xuất gia, làm sao có thể làm Thủ Tọa được?

Ḥa Thượng Phương Trượng nói:

–Vậy chúng ta để tên của mọi người trong ống thăm, đến trước Bồ Tát Vi Đà bắt thăm.

Lắc ba lần, thật kỳ lạ, tên của tôi đều văng ra ngoài, cho nên mọi người không phản đối nữa, v́ đây là sự sắp đặt của Bồ Tát Vi Đà, cho nên tôi được lưu lại Chùa làm thủ tọa. Sau đó Ḥa Thượng Phương Trượng lại muốn kêu tôi làm trụ tŕ, tôi nghĩ điều này rất phiền phức v́ giữ giới không giữ tiền, tôi nói với Ḥa Thượng: "Con không cầm tiền làm sao có thể trụ tŕ. Con đến chỗ nào cũng không cầm tiền, với điều kiện này tôi mới chấp nhận trụ tŕ." Như thế mà tôi tŕ giới không giữ tiền bạc. Lúc muốn ngồi xe lửa cần phải mua vé, tôi bèn đứng đó đợi, có người quen đến th́ giúp tôi mua vé, nếu không có người quen tôi cứ đứng đó đợi. Nhưng thật lạ kỳ mỗi lần tôi đến ga chờ xe, nhất định có người đến hỏi tôi đi đâu, sau đó mua vé cho tôi. Đây là giảng một chữ "tịnh." Nếu quư vị không cầm tiền, đó là chân chánh tịnh, nếu có một xu tiền cũng không tịnh. Cho nên quy y tịnh, chính là quy y Tăng. Tại sao nói tịnh chính là Tăng? Tăng chính là thanh tịnh, Tăng chính là người tôn quư nhất, cao thượng nhất trong chúng nhân, cho nên nói Chúng Trung Tôn.

Từ nay sắp sau, hăy xưng Giác làm Thầy, chẳng nên nương theo tà ma ngoại đạo. Hăy lấy Tam bảo của tánh ḿnh mà thường tự chứng tỏ các công đức của ḿnh. Ta khuyên chư Thiện tri thức phải nương theo Tam bảo của tánh ḿnh là:

1. Phật nghĩa là Giác (tánh Giác ngộ).

2. Pháp nghĩa là Chánh (tánh Chơn chánh).

3. Tăng nghĩa là Tịnh (tánh Thanh tịnh).

Tâm ḿnh nương theo tánh Giác, th́ tà mê chẳng sanh. Lại ít có sự ham muốn, thường biết đủ (thiểu dục tri túc), ĺa được của tiền sắc dục, gọi là Lưỡng Túc Tôn.

Tâm ḿnh nương theo tánh Chánh, th́ niệm niệm không sanh tà kiến. Bởi không tà kiến, nên không ḷng nhơn ngă, cống cao, tham ái, chấp trước, gọi là Ly Dục Tôn.

Tâm ḿnh nương theo tánh Tịnh, th́ cả thảy các cảnh giới trần lao, ái dục, tâm ḿnh chẳng nhiễm chẳng vương, gọi là Chúng Trung Tôn.

Giảng:

Từ ngày nay bắt đầu xưng Giác là thầy, không c̣n quy y thiên ma ngoại đạo, không làm đồ chúng của bàng môn ngoại đạo. Thường chứng minh ḿnh có tự tánh Tam bảo. Nay khuyên các vị Thiện tri thức, quy y tự tánh Phật bảo, quy y tự tánh Pháp bảo, quy y tự tánh Tăng bảo. Phật tức là giác, Pháp chính là chánh, Tăng chính là tịnh, quư vị quy y giác, th́ không nên sanh tâm tà mê, nên thiểu dục tri túc. Người không phải không ăn thịt là thiểu dục, không phải xem nhiều Kinh một chút là thiểu dục, thiểu dục chính là cần phải đoạn ĺa tâm dâm dục. Kinh Lăng Nghiêm nói như thế này: "Dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất," ḷng dâm dục không trừ mà muốn ra khỏi tam giới, đó là điều không thể được. Tri túc chính là không có ḷng tham, nghèo chết cũng không tham, đói chết cũng không tham, bất luận khó khăn như thế nào cũng không sanh ḷng tham. Không tham tài, không tham sắc, không tham danh, đó là Lưỡng Túc Tôn – phước đức và trí huệ đầy đủ. Tự tâm quy y chánh pháp, niệm niệm không nên có tà tâm, tà kiến. Bởi v́ không có tà kiến, cho nên không có sự phân biệt của nhân ngă, cống cao ngă mạn, tham, ái và chấp trước. Nếu quư vị có thể như vậy, đó gọi là Ly Dục Tôn, ly khai tất cả dục. Tự tâm quy y thanh tịnh, th́ đối diện với tất cả trần lao – tất cả cảnh giới của xă hội, không bị ḷng dục xoay chuyển, không bị trào lưu xă hội làm cho hủ hóa thối nát. Quư vị nên giáo hóa xă hội, giáo hóa chúng sanh mà không bị chúng sanh giáo hóa. Giống như lúc trước có người ở đây học Phật pháp, tôi thấy cô ta cùng với người bạn trai nói chuyện hơn một giờ đồng hồ, cô ta nói cô ta muốn độ anh ta tin Phật. Tôi hỏi: "Anh ấy tin đạo ǵ?" Cô ta nói: "Ảnh tin Thiên Chúa giáo." Lúc đó tôi nói: "Cô không bị anh ta độ mà tin theo Thiên Chúa giáo đó là đă tốt rồi, cô c̣n muốn độ anh ta tin Phật à? Cô nên cẩn thận!" Quả nhiên sau đó không bao lâu, cô ấy bỏ đi chỗ khác, không biết cô ta độ người hay là bị người độ rồi. Tự tánh không bị nhiễm trước, đó gọi là Chúng Trung Tôn – người cao quư nhất trong chúng sanh. V́ chúng sanh đều bị nhiễm trước, nếu muốn vượt lên trên hết thảy, không giống với chúng th́ cần phải ly dục. Không c̣n dục niệm, đó mới là đại trượng phu chân chánh, chân chánh học Phật pháp. Nếu tật xấu không trừ, chỉ biết nói vài câu pháp, th́ một chỗ dụng cũng không có.

Tu các hạnh nầy, ấy là tự quy y (ḿnh quy y Bổn tánh của ḿnh). Các người phàm phu từ ngày tới đêm nói rằng thọ Tam quy giới, mà chẳng hiểu lư quy y. Nếu nói quy y Phật, th́ Phật ở xứ nào? Bằng không thấy Phật, th́ quy y chỗ nào? Nói thế thành ra giả dối.

Chư Thiện tri thức! Mỗi người hăy tự xem xét, chớ lầm dùng tâm ư. Kinh văn nói rơ quy y Phật ở tánh ḿnh, chớ chẳng nói quy y Phật nơi nào khác. Phật ở tánh ḿnh mà chẳng quy y, th́ không có chỗ nào mà quy y vậy.

Giảng:

Nếu y theo đây tu hành, đó chính là ư nghĩa tự quy y. Những người phàm phu không hiểu rơ đạo lư quy y, từ sáng đến tối thọ tam quy giới. Nếu quư vị nói quy y Phật, vậy Phật ở đâu? Nếu quư vị không thấy Phật, quư vị dựa vào cái ǵ quy y? Nếu quư vị nói: Tôi đă thấy Phật rồi. Đó là vọng ngữ. Chư Thiện tri thức! Quư vị cần phải tự ḿnh thâm nhập quán sát, không nên dụng sai tâm ư. Kinh Hoa Nghiêm nói rất rơ ràng, muốn quư vị tự quy y Phật, không phải kêu quư vị quy y Phật nào khác. Tự tánh Phật vốn đă có, nhưng v́ không có Thiện tri thức chỉ điểm, cho nên quư vị không biết. Nay quư vị đă quy y, th́ nên ï quy y Phật, không nên quy y tha Phật. Phật của chính ḿnh quư vị không quy y, vậy th́ quư vị quy y vào cái ǵ? Quư vị quy y bên ngoài, đó đều là giong ruổi t́m cầu bên ngoài.

Nay các ngươi đă tự ngộ, th́ mỗi người phải quy y Tam bảo ở tâm ḿnh. Trong phải điều phục tâm tánh, ngoài phải cung kính mọi người, tức là ḿnh quy y tâm ḿnh vậy.

Chư Thiện tri thức! Đă quy y Tam bảo của tánh ḿnh rồi, các ngươi hăy chí tâm, ta nói cho mà rơ nhất thể tam thân tự tánh Phật (Phật một thể ba thân trong tánh ḿnh), khiến cho các ngươi thấy ba thân, rơ ràng tự ḿnh tỏ sáng tánh ḿnh. Tất cả hăy đồng nói theo ta:

Từ sắc thân ḿnh quy y Thanh tịnh Pháp thân Phật.

Từ sắc thân ḿnh quy y Viên măn Báo thân Phật.

Từ sắc thân ḿnh quy y Thiên bá ức Hóa thân Phật.

Giảng:

Nay quư vị cần nên hiểu rơ, cần tự ḿnh quy y tự tánh Tam bảo – quy y giác, quy y chánh, quy y tịnh. Quy y giác, th́ không nên làm những việc mê muội sai lầm. Quy y chánh, th́ không nên làm những việc tà. Quy y tịnh, th́ không nên làm những việc bẩn thỉu nhơ nhớp. Trong cần phải điều phục tâm tánh, cần phải giác ngộ, bên ngoài cung kính mọi người. Người chân chánh hiểu rơ Phật pháp, không những đối với bạn bè thân thích có ḷng cung kính mà đối với người không quen biết cũng đối đăi ḥa ái. Không nên khó chịu, nhăn nhó, nhất là đối với những người xấu xa nhất, quư vị nên đối với họ tốt nhất, đó mới là bản sắc của người chân chánh học Phật. Cóù vị nói:

–Tôi đối với thầy không tốt; vậy th́, tôi làm sao mà không thấy thầy đối với tôi tốt?

Ông vốn không tốt đối với tôi, vậy th́ tôi làm sao xấu với ông được? Ông xem có vi diệu không!

Sau khi quy y tự tánh Tam bảo, mọi người đều phải thành tâm. Tôi lại v́ quư vị nói nhất thể tam thân tự tánh Phật khiến cho quư vị hiểu rơ ràng, chân thực nh́n thấy tam thân Phật. Quư vị mỗi người cần phải giác ngộ tự tánh. Nay quư vị đọc theo tôi: "Nơi tự sắc thân quy y Thanh Tịnh Pháp Thân Phật, nơi tự sắc thân quy y Viên Măn Báo Thân Phật, nơi tự sắc thân quy y Thiên Bách Ức Hóa Thân Phật."

Chư Thiện tri thức! Sắc thân là quán xá, không thể nói quy y được. Phải ḍm ngó Phật ba thân trong tánh ḿnh. Người thế gian đều có Phật ba thân. Bởi tâm ḿnh mê muội, nên không thấy thể sáng suốt trong tánh ḿnh. Người ta cứ t́m Phật ba thân ở ngoài, mà chẳng thấy Phật ba thân ở trong thân ḿnh. Các ngươi nghe ta nói, khiến cho các ngươi ngó trong thân ḿnh và thấy Bổn tánh ḿnh có Phật ba thân. Phật ba thân nầy do tánh ḿnh mà sanh, chớ chẳng phải do nơi ngoài mà t́m đặng.

Sao gọi là Thanh tịnh Pháp thân Phật? Bổn tánh của người thế gian vốn trong sạch. Muôn pháp đều do nơi Bổn tánh ḿnh mà sanh: Nghĩ tính các điều dữ, liền sanh hạnh dữ. Nghĩ tính các việc lành, liền sanh hạnh lành. Thế th́ các pháp trong tánh ḿnh, ví như trời thường trong, mặt nhựt mặt nguyệt thường sáng, nhưng v́ bị mây che nên trên sáng dưới tối. Th́nh ĺnh gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng, th́ muôn h́nh ngàn tượng đều hiện ra. Tánh con người thế gian thường phù du cũng như mây trên trời kia vậy.

Giảng:

Sắc thân giống như cái nhà, không phải kêu quư vị quy y sắc thân mà cần phải quy y tự tánh của quư vị. Tam thân Phật mà tôi nói đây, ở trong tự tánh của mỗi quư vị, nhưng nó tạm thời trú trong sắc thân của quư vị mà thôi! Tất cả người đời đều có tam thân Phật này, chỉ v́ không nhận thức, quên đi, v́ tự tâm mê muội, cho nên không nh́n thấy tự tánh vốn có này, mà hướng ra ngoài t́m Thanh Tịnh Pháp Thân Phật, Viên Măn Báo Thân Phật và Thiên Bách Ức Hóa Thân Phật, mà không biết tam thân Phật vốn có trong tự thân. Nay quư vị sau khi nghe tôi giảng cần biết trong sắc thân vốn có của quư vị có thể nh́n thấy bản tánh tam thân Phật. Cần biết tam thân Phật, từ trong tự tánh sanh, mà không phải từ bên ngoài mà được.

Cái ǵ gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật? Tức là nói tất cả người đời, tự tánh của họ bản lai là thanh tịnh, tất cả vạn pháp đều từ trong bổn tánh ḿnh sanh ra. Lúc quư vị nghĩ đến những việc ác, th́ có một loại hành vi ác xuất hiện. Nếu trong tâm quư vị suy nghĩ điều lành, th́ có hành vi thiện biểu hiện ra. Cho nên tất cả thiện ác chư pháp đều từ trong tự tánh ông sanh, đó giống như trời thường trong thanh, mặt trời mặt trăng thường chiếu sáng. Nhưng v́ trong hư không có mây trôi, che khuất ánh thái dương, cho nên ở trên sáng ở dưới tối. Nếu gặp phải một luồng gió thổi tan đám mây, khiến cho trên dưới đều sáng, và tất cả mọi sự mọi vật đều hiện ra rơ ràng. Tánh người thường phù du, như mây trên trời.

Chư Thiện tri thức! Trí như mặt nhựt, Huệ như mặt nguyệt. Trí huệ thường sáng, nhưng bởi tâm dính níu cảnh vật ở ngoài, rồi bị mây vọng niệm của ḿnh che án tánh ḿnh, nên trí huệ chẳng đặng tỏ sáng. Nếu gặp Thiện tri thức, nghe người giảng chánh pháp, rồi tự ḿnh dứt các điều mê vọng, trong ngoài sáng thấu, th́ trong tánh muôn pháp đều hiện ra rơ ràng. Người thấy tánh cũng giống như thế. Ấy gọi là Thanh tịnh Pháp thân Phật. 

Giảng:

Nếu quư vị có trí th́ giống như có thái dương, có huệ giống như trăng sáng. Tuy trí huệ Bát nhă thường thường chiếu sáng, nhưng nếu chấp trước cảnh giới bên ngoài th́ bị phù vân vọng niệm che phủ tự tánh, trở thành ngu si mà không đắc được đại trí huệ. Nếu quư vị gặp được vị Thiện tri thức mắt sáng (Minh nhăn), nghe được pháp chân chánh, mà trừ đi những vô minh phiền năo và mê vọng của chính ḿnh, th́ trong ngoài đều sáng suốt giống như lưu ly, vạn pháp trong tự tánh vốn trong sáng. Quư vị nhận biết bổn tâm của ḿnh, thấy được bổn tánh, th́ cũng giống như trời xanh không mây, cho nên nói: "Tâm b́nh bách nạn tán, ư định vạn sự kiết." Nếu tâm b́nh th́ nạn tai nào cũng không có, ư nếu định th́ việc ǵ cũng kiết tường. Lại nữa, tâm thanh tịnh hiện tiền giống như trời xanh không mây: "Tâm thanh thủy hiện, ư định thiên vô vân." Lại nói: "Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú quư, tư dục đoạn tận chân phước điền." Tâm vọng tưởng của quư vị đă ngừng lại, niệm tham cũng dứt tuyệt, đó mới là người phú quư, người có ḷng tham chính là người nghèo, dù ông ta có tiền nhưng không biết tri túc, cho nên sanh ḷng tham. Tư dục chính là ḷng tự tư tự lợi và dục niệm, nếu không có ḷng tư dục chính là chân chánh phước điền, nếu quư vị được như vậy chính là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.

Chư Thiện tri thức! Tâm ḿnh quy y tánh ḿnh. Ấy là quy y Chơn Phật. Tự quy y, nghĩa là dứt hết các tật xấu trong tâm ḿnh là: ḷng chẳng lành, ḷng ghen ghét, ḷng tà vạy, ḷng vị ngă, ḷng giả dối, ḷng khi người, ḷng nhạo người, ḷng tà kiến, ḷng cống cao, cùng các hạnh bất thiện trong cả thảy thời gian, lại thường thấy lỗi ḿnh, chẳng nói việc tốt xấu của người. Ấy là tự quy y tánh ḿnh vậy.

Thường hạ tâm ḿnh, cung kính mọi người, thấy tánh sáng suốt, không ngưng trệ. Ấy là tự quy y tánh ḿnh.

Giảng:

Quư vị Thiện tri thức! Tự tâm quy y tự tánh, tự ḿnh năng hồi quang phản chiếu, đó là quy y chân Phật. Cái ǵ gọi là tự quy y? Chính là không nên trong tự tánh chứa đựng những tâm bất chánh. Ǵ gọi là bất thiện tâm? Chính là ác tâm, tật đố tâm. Luôn luôn ghi nhớ không nên tật đố người khác. Tại sao quư vị ngu si ? V́ quư vị đời đời kiếp kiếp tật đố người ta thông minh, cho nên bây giờ ḿnh không được sáng suốt. Tật đố người có tài năng, cho nên ḿnh năng lực ǵ cũng không có, không bằng người. Siểm khúc tâm: Không nên có tâm tự đại cuống vọng. Khinh nhân tâm, mạn tha tâm: Tức là tâm coi thường người khác và tâm kiêu mạn. Tà kiến tâm: Tức bất luận nh́n thấy cảnh giới ǵ, không suy nghĩ đến chỗ chánh đáng, mà nghĩ đến chỗ bất chánh. Cống cao tâm: Tức thường thấy rằng ḿnh cao hơn hay hơn người khác, có tâm này cần phải trừ sạch. Cùng với tất cả những hành vi bất thiện đều cần phải dứt bỏ. Cần biết ḿnh có sai lầm, không nói thị phi thiện ác của người khác, được như thế chính là tự quy y. Lại nữa, thường phải có ḷng khiêm hạ, đối với bất cứ người nào đều phải cung kính, đó là kiến tánh thông đạt vô ngại và cũng chính là tự quy y.

Sao gọi là Viên Măn Báo Thân? Tỷ như một cái đèn có thể trừ được chỗ tối đă có từ ngàn năm, một cái trí có thể diệt được sự ngu đă nhiễm từ muôn thuở. Đừng nghĩ đến việc trước; việc qua rồi không thể được (bất khả đắc). Thường nghĩ đến việc về sau, niệm niệm hoàn toàn sáng suốt và tự ḿnh thấy Bổn tánh ḿnh. Điều lành điều dữ tuy là khác nhau, chớ cái Bổn tánh không hai. Cái tánh không hai gọi là Thật Tánh. Trong cái Thật Tánh chẳng nhiễm điều lành điều dữ, ấy gọi là Viên măn Báo thân Phật.

Tánh ḿnh khởi một niệm dữ, th́ tiêu hết muôn kiếp hột giống lành. Tánh ḿnh sanh một niệm lành, th́ hằng sa tội dữ đều diệt hết. Thẳng đến quả vị Vô thượng Bồ đề, niệm niệm ḿnh thấy tánh ḿnh, chẳng mất bổn lai chân niệm của ḿnh. Ấy gọi là Báo thân.

Giảng:

Cái ǵ gọi là Viên Măn Báo Thân Phật? Ví dụ nói: "Chỉ cần có một cây đèn th́ có thể phá trừ bóng tối ngàn năm, chỉ cần ông có trí huệ, th́ có thể diệt trừ ngu si ngàn năm." Quư vị không nên có tâm quá khứ, v́ tâm quá khứ bất khả đắc, không nên hồi ức về những chuyện quá khứ, cũng không nên truy đuổi những việc tương lai.

–Vậy th́, tương lai cần phải như thế nào?

Tương lai ông trồng nhân thiện th́ kết trái thiện, trồng nhân ác th́ kết quả ác, không có cái khác. Cho nên nói niệm niệm viên minh, quư vị nên có chánh niệm, cần phải có tâm niệm xán lạn viên minh, niệm niệm quang minh lỗi lạc, không nên có tà tri tà kiến, tự tư tự lợi, tật đố chướng ngại, chỉ sợ người khác giỏi hơn ḿnh.

Trong tự tánh người tuy có thiện tánh, ác tánh, tánh thiện ác th́ không giống nhau, sanh thiện th́ có thiện tánh, sanh ác th́ có ác tánh. Nhưng tánh bổn lai vốn không có thiện không có ác, tánh vốn không hai. Tánh không hai này gọi là Thực tánh, cũng chính là Chân như tự tánh. Giống như Chứng Đạo Ca nói: "Vô minh thực tánh tức Phật tánh, Huyễn hóa không thân thị Pháp thân," trong Thực tánh bổn lai không có thiện cũng không có ác, nó là thuần viên độc diệu, viên măn sáng suốt. Cái này chính là Viên Măn Báo Thân Phật. Trong tự tánh quư vị nếu sanh ra một niệm ác, tức độc hại tâm, th́ có thể diệt nhân thiện trong vạn kiếp. Nhưng nếu tự tánh khởi lên một niệm thiện, th́ có thể diệt trừ hằng hà sa ác. Cho nên nói: "Một niệm thiện là nhân thành Phật, một niệm ác là hột giống đọa địa ngục." Quư vị muốn thành Phật hay đọa địa ngục, th́ xem quư vị sanh ra cái tâm ǵ. Niệm niệm cần phải rơ bổn tâm ḿnh, thấy bổn tánh ḿnh, chớ làm mất đi chân niệm chân tánh bổn lai của ḿnh, đó chính là Viên Măn Báo Thân Phật.

Sao gọi là Thiên Bách Ức Hóa Thân? Nếu chẳng nghĩ đến muôn pháp, th́ tánh vốn như hư không. Một niệm nghĩ tính, gọi là biến hóa: Nghĩ tính điều dữ, hóa làm địa ngục. Nghĩ tính việc lành, hóa làm thiên đường. Ḷng độc hại hóa ra rồng rắn. Ḷng từ bi hóa ra Bồ Tát. Ḷng trí huệ hóa làm thượng giới. Ḷng ngu si hóa làm hạ phương. Cái tánh ḿnh biến hóa rất nhiều. Người mê, không tỉnh giác được, nên niệm niệm gây ra việc dữ, thường thường theo đường dữ. Nếu trở lại khởi một niệm lành, th́ trí huệ liền sanh. Ấy gọi là Tự tánh Hóa thân Phật.

Chư Thiện tri thức! Cái Pháp thân vốn là đầy đủ. Niệm niệm tánh ḿnh tự nhiên hiện ra tỏ sáng, tức là Báo thân Phật. Do cái Báo thân nghĩ tính, tức là Hóa thân Phật.

Ḿnh tự ngộ tự tu các công đức trong tánh ḿnh, mới thiệt là quy y. Chớ da thịt là sắc thân, sắc thân là quán xá, không thể nói là quy y được. Nếu ḿnh hiểu rơ ba thân trong tánh ḿnh, tức là ḿnh biết Phật trong tánh ḿnh vậy.

Ta có một bài tụng Vô Tướng. Nếu năng tŕ tụng, th́ khi dứt lời, các tội ngu mê của các ngươi chất chứa trong muôn kiếp trước đồng nhất loạt tiêu diệt hết.

Giảng:

Viên Măn Báo Thân, viên măn tức là không thiếu không dư, không được không mất, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, không nam không nữ, không thiện không ác, viên măn Bồ đề là ư nương tựa vào chỗ vô sở đắc. Cái ǵ gọi là Thiên Bách Ức Thân Phật? Làm sao một thân mà có thiên bách ức hóa thân? Nói Phật có thiên bách ức hóa thân, nhưng điều này có quan hệ ǵ với tôi và thầy không? Trả lời: không có quan hệ ǵ hết. Thiên bách ức hóa thân chính là tư tưởng, suy tưởng thiên bách ức vạn. Thiên Bách Ức Hóa Thân Phật, có thể hóa thân thành Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn, cũng có thể hóa thân làm trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngài không chỗ nào mà không hiện thân, cho nên nói có thiên bách ức vạn hóa thân. Đó là một cách giảng. Lại có một cách giảng khác, tức là tôi có thiên bách ức hóa thân, quư vị cũng có thiên bách ức hóa thân. Tôi thâu thiên bách ức đồ đệ, mỗi đứa đồ đệ đều học theo sư phụ tu hành, như sư phụ ngày ăn một bữa, đồ đệ cũng học theo ăn một ngày một bữa, đó là hóa thân của tôi. Sư phụ không phan duyên, đệ tử cũng không phan duyên, cho nên tôi cũng có một vài hóa thân. Tóm lại, ai theo quư vị học Phật pháp, sau này sẽ là hóa thân của quư vị. Nay quư vị là hóa thân của tôi, tương lai quư vị cũng có hóa thân của quư vị, cho nên quư vị cũng có thiên bách ức hóa thân. Tóm lại, quư vị là một tấm gương tốt người khác theo đó mà học, đó chính là hóa thân tốt của quư vị, nếu quư vị có điều xấu, giống như ma quỷ, người khác nếu theo quư vị học cách của quỷ ma th́ đó là hóa thân xấu.

Nếu chẳng nghĩ đến muôn pháp, nếu cái ǵ cũng không nghĩ, th́

"Nhứt niệm bất sanh, toàn thể hiện."

Một niệm không sanh, Phật tánh bổn lai liền hiển hiện. Nhưng quư vị có thể "không sanh" không? Quư vị có thể không có vọng tưởng không? Nếu quư vị có thể không có vọng tưởng, đó chính là Phật. Nhưng nếu chưa đạt đến cảnh giới này, th́ cần phải tu hành. Nếu không tu hành th́ người vẫn là người, chó vẫn là chó.

"Lục căn hốt động bị vân giá."

Lục căn, lục trần, lục thức vừa động th́ bị mây che phủ.

Quư vị có tư lượng (suy nghĩ) th́ có hóa thân, hóa thành cái ǵ? Vừa nghĩ việc ác, ví dụ dùng cách nào để được danh, được lợi, hoặc là cướp của, đốt nhà, giết người đó đều là ác, đó chính là địa ngục. Nếu quư vị suy tuởng đến việc thiện muốn giúp đỡ người đó chính là tạo thiên đường.

Quư vị có tâm độc hại, đó chính là rồng, là rắn. Nếu quư vị phát tâm từ bi, đó chính là Bồ Tát. Quư vị thông minh trí huệ, th́ hướng lên trên, nếu quư vị ngu si đến cực điểm sẽ rớt xuống dưới, đó gọi là "Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt." Tự tánh biến hóa rất nhiều, đều là thiên bách ức hóa thân. Người mê không tự biết phản tỉnh giác ngộ, cho nên niệm niệm đều là ác, giống như Đại sư Thần Tú nghĩ đủ mọi cách phá hoại Lục Tổ Đại sư, thường thường phái người đi giết Lục Tổ, đó chính là thường hành ác đạo. Nếu quư vị có thể hồi quang phản chiếu sanh một niệm thiện, trí huệ liền sanh ra, đó chính là tự tánh Hóa Thân Phật.

Pháp thân th́ tự ḿnh vốn có, chỉ cần niệm niệm đều thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh, tức là Viên Măn Báo Thân Phật. Từ báo thân lại có tư lượng (những suy tưởng, thoughts), liền có biến hóa thân, đó chính là Hóa Thân Phật. Quư vị nên giác ngộ tự ḿnh cần phải tu hành, lấy ḿnh làm mẫu mực nguyên tắc, mà không nên chỉ nói khẩu đầu thiền, cho nên nói: "Thuyết một trượng, không bằng hành một thước." Quư vị nghe tôi giảng Kinh không nên xem tôi giảng hay hoặc dở, mà nên xem tôi mỗi ngày có gạt quư vị không.

Tự tánh công đức của ḿnh có thể hiểu rơ chân chánh đó chính là chân quy y. Tự ḿnh quy y ḿnh, không phải là quy y cái thân thể này, bằng không th́ chính là đầu thượng an đầu. Thịt da này là sắc thân có h́nh có sắc, mà sắc thân này chỉ là chỗ ở của tự tánh không phải là chủ nhân ông, cho nên không nên cho rằng cái thân này chính là ḿnh. Thân này không phải là quư vị mà là của quư vị. Quư vị ở trong căn pḥng này, căn pḥng này tuy là của quư vị, nhưng không nên nói căn pḥng này chính laø quư vị. Cho nên quy y không phải quy y sắc thân ḿnh, mà là quy y tự tánh. Nếu nhận thức được tự tánh Phật th́ đầy đủ tam thân Phật. Lục Tổ Đại sư nói: "Tôi có một bài kệ Vô Tướng. Nếu các ông mọi người có thể tụng niệm làu thông và thuộc nó, lúc tôi nói xong th́ có thể khiến cho các ông từ trong vô lượng kiếp, vô thủy kiếp, nhiều kiếp nhiều đời cho đến hôm nay tích chứa những mê tội, liền lập tức tiêu diệt không c̣n."

Tụng rằng:

 

Mê nhân tu phúc bất tu đạo,

Chỉ ngôn tu phúc tiện thị đạo,

Bố thí cúng dường phúc vô biên,

Tâm trung tam ác nguyên lai tạo,

Nghĩ tương tu phúc dục diệt tội,

Hậu thế đắc phúc tội hoàn tại,

Đản hướng tâm trung trừ tội duyên,

Các tự tánh trung chân sám hối,

Trừ tà hành chánh tức vô tội,

Học đạo thường ư tự tánh quán,

Tức dữ chư Phật đồng nhất loại,

Ngô Tổ duy truyền thử đốn pháp,

Phổ nguyện kiến tánh đồng nhất thể,

Nhược dục đương lai mích Pháp thân,

Ly chư pháp tướng tâm trung tẩy,

Nỗ lực tự kiến mạc du du,

Hậu niệm hốt tuyệt nhất thế hưu,

Nhược ngộ Đại thừa đắc kiến tánh,

Kiền thành hiệp chưởng chí tâm cầu.

 

Người mê muội phước cầu, Đạo phế,

Tu phước điền dối kể Đạo mầu.

Thí cúng nhiều, phước được trùng thâu,

Nhưng ba ác tâm đầu sanh măi.

Tưởng tu phước, tội trừ phước cải,

Sau phước dành, tội lại c̣n sanh.

Ngó trong tâm gốc lỗi trừ thanh,

Tự tánh phải chơn thành sám hối.

Pháp sám hối Đại thừa lănh hội,

Cải tà quy chánh, tội không sanh.

Học Đạo thường xem tánh tịnh thanh,

Tức cùng Phật cũng thành nhứt loại.

Pháp Đốn giáo Tổ ta truyền dạy,

Nguyện chúng đồng đặng thấy tâm nguyên.

Pháp thân nay mong đặt thấy liền,

Ĺa pháp tướng, tâm điền trong lặng.

Gắng thấy tánh, đừng ḷng xao lăng,

Niệm sau ĺa đời hẳn phế vong.

Hiểu Đại thừa, thấy đặng tánh thông,

Phải cung kính hết ḷng cầu học.

Giảng:

Mê nhân tu phúc bất tu đạo: Tu phước đức mà không tu đạo. Giống như chúng ta nay cử hành lớp hè, mọi người đều không sợ khổ, không sợ khó khăn, không sợ chân nhức, không sợ lưng đau, dù toàn thân đau nhức cũng không sợ, bằng cách nào cũng muốn tu hành, chí nguyện này thật là khó được, khiến tôi rất vui mừng. 

Chỉ ngôn tu phúc tiện thị đạo: Giống như Lương Vơ Đế nói: "Ông xem tôi độ tăng, tạo tự, bố thí, công đức này lớn biết bao nhiêu! Sợ rằng c̣n lớn hơn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nữa."

Bố thí cúng dường phúc vô biên: Đúng vậy, bố thí cúng dường là cầu phúc.

Tâm trung tam ác nguyên lai tạo: Tam độc trong tâm tức là tham, sân, si. Chỉ biết tu phúc không biết tu huệ, thật là ngu si. Ngay thức ăn cũng không buông bỏ được, mà lại nói cần phải hành khổ hạnh, ông xem có đáng thương hay không?

Tu phước để tiêu diệt tội lỗi đó là điều không có thể. Nay trồng phước th́ tương lai sẽ được phước, nhưng nó không thể trừ đi tội lỗi. Quư vị cần phải từ trong tâm của quư vị trừ đi tội duyên – tật đố, chướng ngại, tham tâm, sân tâm, ngô ngă cống cao tâm, siểm khúc tâm, độc hại tâm, tà tâm, bất thiện tâm. Quư vị nói:

–Vậy th́ làm sao có thể được! Chúng nó đều là bạn thân của tôi, trải qua ngàn vạn đại kiếp, theo tôi lâu như vậy, tôi làm sao có thể bỏ nó được?

Nếu không xả bỏ th́ cùng đi theo nó xuống địa ngục, không có cách nào khác.

Quư vị mỗi người cần phải trong tâm ḿnh sanh tâm sám hối. Quư vị hốt nhiên liễu ngộ Phật pháp Đại thừa mà chân chánh sám hối, lại trừ đi tà tâm mà hành con đường chánh đạo quang minh th́ không c̣n tội lỗi nữa. Người học đạo thường phải hồi quang phản chiếu, tự hỏi ḿnh đă làm được ǵ, làm việc người? hay làm việc ma quỷ? hay làm việc súc sanh? Quư vị làm việc ǵ th́ thành tựu việc đó, quư vị làm việc Phật th́ thành Phật, làm việc người th́ làm người. Việc Phật là ǵ? Tức là từ bi hỷ xả. Đối với mọi người đều từ bi. Thật sự từ bi, không phải giả từ bi, không phải chân từ bi lại có tạp niệm tham tâm, mưu tính, thả con tép bắt con tôm. Người học đạo thường phải hồi quang phản chiếu, tự hỏi ḿnh có cái tâm ǵ? Tâm ma vương hay tâm Phật? Tâm ích kỷ tự lợi hay là tâm chí công vô tư ? Nếu quư vị có thể chí công vô tư th́ giống như Chư Phật. Nhưng cần phải làm việc Phật mới có thể thành Phật, chỉ làm những việc quỷ th́ làm sau thành Phật được? Tổ sư Bồ đề Đạt Ma chỉ truyền pháp môn bất nhị này. Phổ nguyện mọi người đều thấy Phật tánh, đồng thành Phật đạo!

Nếu quư vị muốn tương lai đắc được Pháp thân, th́ cần phải ly nhất thiết pháp tướng, không nên chấp trước mà sanh tật đố chướng ngại, vô minh phiền năo, mà cảm thấy ḿnh trên trời dưới đất chỉ có ta là một. Cần phải ly nhất thiết tướng – không có pháp chấp và ngă chấp, cần nên rửa sạch tà tâm tạp niệm. Cần phải nỗ lực dụng công, dũng mănh tinh tấn, không nên làm biếng, nói đợi một lúc sẽ dịch bài, hoặc ngày mai sẽ đánh máy, cái ǵ cũng là đợi chờ, đợi cho đến chết th́ không theo ư ḿnh được đâu. Hậu niệm hốt tuyệt, chính là lúc chết, đợi đến lúc niệm sau cùng đoạn, một cuộc đời chấm dứt. Lúc đó danh cũng không, lợi cũng không, cái ǵ cũng phải buông bỏ. Nếu quư vị hiểu rơ pháp môn Đại thừa kiến tánh, th́ nên kiền thành cung kính chấp tay cầu đạo vô thượng.

Sư nói: "Chư Thiện tri thức! Cả thảy phải tụng bài kệ này, và y theo lời dạy đó mà tu hành. Tụng rồi phải liền thấy tánh. Được như thế, tuy cách ta ngàn dặm, cũng như thường ở bên ta. C̣n tụng rồi mà tâm không giác ngộ, th́ dầu ở trước mặt ta, cũng như cách xa ngàn dặm. Há cần từ phương xa mà đến đây! Khá trân trọng và đi an vui."

Đại chúng nghe Pháp, tâm tánh đều mở mang tỏ sáng. Cả thảy đồng vui vẻ vâng làm theo lời dạy.

Giảng:

Tôi tin rằng Lục Tổ Đại sư là người nhạo thuyết biện tài, cho nên đă thuyết ra bộ Đàn Kinh. Nếu không, Kinh ǵ cũng không có.

Lục Tổ Đại sư nói tiếp:

–Các vị đều là người thông minh, người có thiện căn! Các ông cùng với tôi nhiều đời nhiều kiếp đă từng gieo trồng thiện căn cho nên hôm nay chúng ta mới có thể tụ hội một nơi.

Lúc đó không có người ngoại quốc, tất cả đều là người Trung Quốc. Tôi nay gặp quư vị đều là người Tây phương, th́ càng có duyên hơn.

Quư vị cần phải học thuộc ḷng bài tụng Vô Tướng này, và y theo đó mà tu hành. Quư vị vừa tụng liền hiểu rơ, nếu quư vị có thể hiểu rơ Trừ tà hành chánh tức vô tội, đó chính là trừ tà, là hạnh chánh, vậy th́ tội nghiệp của quư vị sẽ tiêu diệt. Nếu quư vị minh tâm kiến tánh, hiểu rơ bài kệ này, tuy xa tôi ngàn dặm, cũng giống như bên cạnh tôi. Mà đồ đệ của tôi nếu hiểu rơ Kinh điển tôi nói, hiểu rơ ư nghĩa tôi thuyết, mà không khắp nơi phan duyên, tật đố chướng ngại, th́ không có uổng công học đạo. Nếu quư vị không hiểu rơ bài tụng này, dù có đối diện tôi, cũng giống như xa tôi ngàn dặm. Nếu quư vị tin tưởng tôi, giống như đối diện với tôi vậy; nếu không tin tôi, th́ giống như cách xa ngàn dặm. Nếu quư vị tin tưởng tôi, dù cách xa ngàn dặm, cũng như đối diện tôi vậy.

–Có phải Thầy kêu gọi mọi người tin tưởng Thầy không?

Tôi không thích người tin tưởng tôi. Tại sao vậy? Tại sao quư vị phải tin tưởng tôi? Tin tưởng chính quư vị c̣n tốt hơn tin tưởng tôi. Bởi v́ quư vị hành đạo do chính quư vị hành, mà không phải thay thế cho tôi hành đạo. Tu hành th́ do tự quư vị tu, mà không phải thế tôi tu hành. Ăn cơm th́ chính quư vị no, không phải quư vị ăn cơm mà tôi no, nay tôi chỉ giảng phương pháp tu hành cho quư vị mà thôi.

Các vị từ xa xôi đến đây, không hiểu rơ bài kệ tụng này th́ giống như cách tôi ngàn dặm. Cho nên quư vị cần phải trân trọng, tự ḿnh phải xem trọng ḿnh, không nên xem thường ḿnh nói: tôi không thể tu hành. Không nên xem ḿnh thành ra một con chó, mà nên xem ḿnh là người. Trân trọng ra đi an vui, đến nơi tốt đẹp, không nên đến những chỗ xấu. Mọi người nghe pháp phải đều được khai ngộ. Nhưng chỉ có ḿnh tôi chưa khai ngộ, cho nên đến hôm nay vẫn c̣n theo quư vị.

Mọi người nghe xong đều vui vẻ tôn kính thực hành.


-o0o-

 

previous.png   back_to_top.png   next.png

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]