佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giải

Lục Tổ Huệ Năng

Ḥa Thượng Tuyên Hóa Giảng Thuật

-o0o-

Phẩm Nghi Vấn Đệ Tam 

 

Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giải

Phần Lược Tự

Phẩm Hành Do Đệ Nhất

Phẩm Bát Nhă Đệ Nhị 

Phẩm Nghi Vấn Đệ Tam 

Phẩm Định Huệ Đệ Tứ

Phẩm Tọa Thiền Đệ Ngũ

Phẩm Sám Hối Đệ Lục

Phẩm Cơ Duyên Đệ Thất 

Phẩm Đốn Tiệm Đệ Bát 

Phẩm Tuyên Chiếu Đệ Cửu

Phẩm Phó Chúc Đệ Thập

 

Một hôm Vi Thứ sử v́ Đại sư thiết lễ đại hội Trai Tăng.

Giảng:

Chương thứ ba là Phẩm Nghi Vấn, v́ Thứ sử Vi Cừ nghi ngờ lời của Tổ sư Đạt Ma nói Lương Vơ Đế không có công đức, v́ thế mới thưa hỏi Lục Tổ Đại Sư.

Một ngày nọ Thứ sử Vi Cừ v́ Lục Tổ Đại Sư thiết lễ Trai Tăng, thỉnh tất cả Tăng Ni, Cư sĩ, Đạo sĩ, học giả, quan viên và chư thiện tín cùng độ trai. Người làm quan thích ăn thịt, nhưng v́ Thứ sử Vi Cừ tin sùng Phật pháp, v́ thế khuyên mọi người đến ăn chay. Đại, biểu thị có rất nhiều người đến tham dự, ở Trung Quốc có Thiên Tăng Trai, thỉnh trai Tăng một ngàn vị, trong một ngàn người nhất định có A la hán, cho nên cúng Thiên Tăng Trai chính là cúng dường A la hán. Vậy ai là A la hán? Không ai biết, bởi v́ nếu ông biết được th́ ông chỉ cúng dường A la hán mà không cúng dường Thiên Tăng Trai nữa. Tôi nghĩ ở đây không chỉ Thiên Tăng Trai, mà có lẽ là vạn nhân trai, tiệc chay cho muôn người.

Lễ Trai Tăng này là mời khách cho Lục Tổ, v́ Lục Tổ là người xuất gia, không thể mời khách đến ăn cơm. Người tại gia nên cúng dường cho người xuất gia, mà không phải người xuất gia cúng dường người tại gia. Cách đây mấy ngày có một vị cư sĩ từ Hương Cảng đến, lúc sắp ra đi, tôi nói với người này rằng:

–Là cư sĩ cần phải cúng dường Tam Bảo, không nên để Tam Bảo cúng dường ḿnh. Cô làm cư sĩ trong đạo trường Phật giáo, cần phải phát tâm cúng dường Tam Bảo, không nên ở trong đạo trường kiếm cơm ăn. Làm vị cư sĩ cần phải hộ tŕ Tam Bảo, không nên để Tam Bảo hộ tŕ cư sĩ.

Cô ta nghe xong thưa rằng:

–Bạch Ḥa Thượng, trong cuộc đời của con chưa từng nghe qua vị Thiện tri thức nào nói với con những lời khẩn thiết như vậy, đây thật sự đă cảnh tỉnh cho con là một kẻ mê mờ (2), con về sau nhất định sẽ sửa đổi, không giống như lúc trước nữa.

Thứ sử Vi Cừ là đệ tử quy y của Lục Tổ Đại sư, nhưng ông ta muốn nhiều người đến quy y, tôn sùng, tín ngưỡng Sư phụ của ḿnh, v́ thế dùng phương thức mời mọi người đến dự Trai Tăng, cho nên có câu: "Đầu tiên phải dùng lợi dẫn dắt, sau mới có thể đưa người vào biển Phật pháp." Tham ăn mê sắc là bản tánh của con người, ai cũng muốn ăn ngon, sau khi ăn xong những món ăn ngon ngọt mà không thể nào quên được, bèn bắt đầu muốn nghe kinh. Lúc mới đến lần đầu tiên không phải v́ Pháp mà là v́ ăn, ăn xong là đến phần nghe Kinh, lúc đó mới phát hiện mùi vị của Pháp c̣n ngon hơn mùi vị của những món ăn này nhiều. Lúc đó mới thích thú mùi vị của Pháp hơn bất cứ mùi vị nào.

Thứ sử Vi Cừ hiểu rơ tâm người như thế, cho nên v́ Sư phụ thiết Đại hội trai. Ông ta không phải v́ ḿnh, v́ danh hay v́ muốn nổi bật: "Quư vị xem! Tôi là người cư sĩ cúng dường Tam Bảo đây."

Cách thức gây quỷ này, có lẽ giống như cách tổ chức tiệc cơm gây quỷ tranh cử Tổng Thống hiện nay, nói: "Chúng tôi muốn trùng tu Chùa Nam Hoa, v́ thế thỉnh quư vị trai Tăng hóa duyên bố thí mà trùng tu chùa." Đại hội Trai Tăng này nhất định do v́ sửa chùa mà thỉnh đến, cho nên ông ta mới hỏi về vấn đề Lương Vũ Đế tạo tự độ Tăng có những công đức ǵ.

Trai Tăng xong, Thứ sử thỉnh Đại sư lên ṭa giảng, rồi cùng các viên quan, chức sắc, học tṛ và dân chúng đồng nghiêm trang đến làm lễ Đại sư một lần nữa mà hỏi rằng: "Đệ tử nghe Ḥa Thượng nói pháp, thiệt không thể nghĩ suy và bàn nghị được. Nay v́ có một chút nghi, xin Ngài đại từ bi riêng v́ đệ tử mà giải rơ."

Sư nói: "Có điều nào nghi th́ hỏi, ta giải cho."

Vi Thứ sử bạch: "Chỗ giảng thuyết của Ḥa Thượng có phải là tông chỉ của Đạt Ma Đại sư chăng?"

Sư nói: "Phải."

Vi Thứ sử bạch: "Đệ tử có nghe đức Đạt Ma lúc ban sơ hóa độ Lương Vơ Đế, vua hỏi rằng: ‘Trẫm trọn đời cất chùa độ tăng, đăi chay làm phước, có công đức ǵ?’ Đức Đạtï Ma nói: ‘Thiệt không có công đức.’ Đệ tử chưa hiểu thấu lẽ ấy, xin Ḥa Thượng giải cho."

Giảng:

Trai Tăng hoàn măn, Thứ sử Vi Cừ cung kính thỉnh Lục Tổ Đại sư thăng pháp ṭa, ông ta đại biểu cho người dân ở đây cung thỉnh Đại sư thuyết pháp. Ông ta nhận thấy việc cầu pháp rất quan trọng, nên cung kính thưa rằng: "Bạch Ḥa Thượng, con nghe Ḥa Thượng thuyết pháp, thật không thể nghĩ bàn. Nay tâm con có một vài nghi vấn, thỉnh Đại sư phát đại từ bi, đặc biệt v́ con giải nói."

Lục Tổ Đại sư nói: "Hay lắm! Ông có vấn đề nan giải ǵ th́ đưa ra hỏi, tôi nhất định v́ ông giải thuyết."

"Công" là v́ vị ghi chép Lục Tổ Đàn Kinh, tôn trọng Thứ sử Vi Cừ là vị quan lớn, v́ thế gọi là Công . Chữ Công trong tiếng Hán dùng để xưng hô người đáng được tôn trọng nhất. Lúc đệ tử của tôi đến Đài Loan thọ giới, gặp phải các Tỳ kheo thọ giới trước ḿnh đều tôn xưng là Công. Quư vị gọi một tiếng Công, người đó liền cảm thấy vui vẻ trong ḷng, c̣n nếu không như vậy, họ liền cảm thấy tân giới tử không có ḷng cung kính. Thứ sử Vi Cừ hỏi:

–Bạch Ḥa Thượng, pháp của Ngài thuyết ra, có phải cùng một đạo lư với Đại sư Đạt Ma không?"

Đại sư trả lời:

–Đúng vậy. Tôi giảng pháp môn dùng tâm ấn tâm, trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật của Đại sư Đạt Ma.

Thứ sử Vi Cừ nói:

–Con nghe nói Tổ sư Đạt Ma lúc ban sơ từ Quảng Châu đến Nam Kinh hóa độ Lương Vơơ Đế, Vơơ Đế hỏi: "Trẫm suốt đời trùng tu xây dựng chùa chiền, độ rất nhiều Tăng Ni xuất gia (Lúc đó Hoàng đế rất hoan nghinh người đi xuất gia, tất cả tứ sự như ăn, mặc, thuốc men và chỗ ở đều do nhà vua cúng dường, lại nữa nhà vua rất cung kính, lễ bái các vị xuất gia. Quư vị xem, đây thật là quá tốt!). Tôi lại dùng công quỷ bố thí cho người nghèo, cúng dường trai Tăng, như thế trẫm có công đức ǵ?"

Quư vị phải biết! Lương Vơ Đế cái ǵ cũng muốn hơn người, v́ thế lúc gặp Tổ sư Đạt Ma, nhà vua không cầu pháp thoát ly sanh tử, mà chỉ muốn Tổ sư Đạt Ma khen ngợi tán thán ḿnh. Nhà vua sợ Tổ sư Đạt Ma không biết công đức của ḿnh, nào là tạo tự độ Tăng, bố thí cúng dường, v́ thế nhà vua bèn tự giới thiệu: "Ở đây ở đó, trẫm đă xây dựng rất nhiều chùa chiền, trong chùa có rất nhiều vị xuất gia, họ xuất gia đều do trẫm tài bồi thành tựu cho, trẫm lại phát tâm rộng lớn bố thí cúng dường. Trẫm làm Hoàng đế không giống như những Hoàng đế khác, trẫm là vị Hoàng đế chuyên làm việc tốt, chuyên làm việc công đức. Ngài xem trẫm có bao nhiêu là công đức?"

Quư vị xem! Nhà vua không nghĩ đến việc cầu pháp liễu sanh tử, mà chỉ muốn khoe khoang công đức của ḿnh. Giống như một vị cư sĩ kia, đi đâu cũng khoe rằng: "Quư vị có biết tôi là ai không? Tôi là người hộ tŕ Phật giáo rất đắc lực, rất mạnh mẽ, tất cả tiền bạc của tôi đều cúng dường Tam Bảo hết rồi." Kỳ thực ông ta sử dụng vào những cuộc vui chơi vô ích nhiều gấp trăm ngàn lần cúng dường Tam Bảo, nhưng lại không nói ra, mà chỉ nói ḿnh cúng dường Tam Bảo, ngay cả tiền du hư cũng nói là cúng dường Tam Bảo. Ôi! Quư vị thấy có điên đảo hay không? Đây là sự thật, có người tiêu xài bao nhiêu tiền bạc vào những cuộc ăn chơi bài bạc rượu chè th́ không nói, nhưng nếu chỉ cúng dường Tam Bảo một đồng liền đi khắp nơi rêu rao. Những người này chắc chắn là đệ tử của Lương Vơ Đế.

Tổ sư Đạt Ma nghe Lương Vơ Đế tự giới thiệu, tự khoe công đức, tự khoe ḿnh, say đắm vào trong tự ngă như thế, nhưng Tổ sư Đạt Ma là vị thánh nhân, Ngài không nói những lời nịnh bợ! Nếu là người b́nh thường vừa nghe nhà vua nói như thế, liền vội vàng nói: "Bệ hạ có công đức lắm đó! Công đức của bệ hạ độc nhất vô nhị, trên đời này không có người thứ hai." Nhưng Đạt Ma là vị Tổ Sư, Ngài làm sao mà có dụng ư xấu ch́u theo ư người được? Cho nên liền nói: "Không có công đức, thực không có công đức nào cả!"

Thứ sử Vi Cừ nói: "Đệ tử chúng con không hiểu được ư này, kính mong Thượng nhân v́ chúng con giải thuyết."

Sư nói: Thiệt không có công đức. Chớ nghi lời của Thánh nhơn đời trước. Vơ Đế ḷng tà, không biết chánh pháp. Cất chùa độ tăng, đăi chay làm phước, ấy gọi là cầu phước. Không thể lấy phước mà kể là công đức được. Công đức ở trong Pháp thân, chớ chẳng phải ở chỗ tu phước."

Giảng:

Lục Tổ Đại sư trả lời: "Thật không có công đức, các ông không nên hoài nghi lời của Tổ sư Đạt Ma. Lương Vơ Đế tâm tà không chánh, chỉ biết háo danh hám tiếng, không hiểu chánh pháp. Cho nên những cái gọi là tạo tự độ Tăng, bố thí Trai Tăng, đó chỉ là gieo trồng phước điền, không thể đem phước nói là công đức. Công đức thuộc về Pháp thân, cho nên tu phước không phải là công đức."

Sư lại nói: Thấy tánh là công, giữ ḷng b́nh đẳng là đức. Niệm niệm tâm không ngưng trệ, thường thấy Bổn tánh, diệu dụng chơn thật, ấy gọi là công đức. Bên trong giữ ḷng khiêm hạ là công, bên ngoài hành động theo lễ là đức. Tánh ḿnh lập ra muôn pháp là công, tâm thể ĺa niệm là đức. Chẳng ĺa tánh ḿnh là công, ứng dụng không nhiễm trần là đức. Muốn t́m cái công đức Pháp thân, th́ phải y theo đây mà tu hành. Thế mới là thiệt có công đức.

Giảng:

Lục Tổ Đại sư lại nói:

–Công đức là ǵ? Kiến tánh là công, thấy tự tánh bổn lai của ḿnh, thấy diệu tánh quang minh vốn có của ḿnh. Nếu quư vị có công phu, th́ có thể kiến tánh. Ví như ngồi thiền, ban đầu miễn cưỡng sau đó trở thành tự nhiên, lúc vừa mới ngồi thiền cảm thấy chân đau lưng nhức, nhưng lúc quư vị hàng phục, chiến thắng được cái chân nhức này, khi chân không c̣n đau nhức nữa, đó chính là công phu, chân vẫn c̣n đau th́ không có công. Kiến tánh là ǵ? Tức là nh́n thấy bổn lai diện mục của ḿnh, nhưng đ̣i hỏi quư vị phải tự ḿnh t́m kiếm, tôi không thể nói với quư vị được. Nếu tôi nói cho quư vị nghe, đó vẫn là cái đắc từ bên ngoài. Quư vị cần phải tự tánh tự ngộ mới có thể được, nhưng sau đó cần phải do Thiện tri thức ấn chứng quư vị mới được, chớ không thể tự phong ḿnh là quốc vương, là Bồ Tát. Giống như một kẻ hippy lúc trước đến đây, hút thuốc phiện làm cho đầu óc quay cuồng, rồi nói ḿnh là Bồ Tát, thật ra đó chính là ma quỷ.

B́nh đẳng chính là không có tâm ích kỷ tự lợi, tất cả đều là b́nh đẳng, chí công vô tư, đối với bất cứ người nào cũng không ích kỷ, tự tư tự lợi, mà là b́nh đẳng, chí công vô tư đối đăi tất cả chúng sanh. Nếu quư vị có thể chí công vô tư, liền có đức hạnh. Nếu quư vị niệm niệm không ngưng trệ, không chấp trước, th́ có thể thường thường thấy được bổn tánh. Giống như Lục Tổ Đại sư nói: "Nào dè tánh ḿnh vốn thanh tịnh, nào dè tánh ḿnh vốn không sanh diệt, nào dè tánh ḿnh vốn tự đầy đủ, nào dè tánh ḿnh vốn không động diêu, nào dè tánh ḿnh năng sanh muôn pháp." Đó cũng chính là diệu dụng chân thực, chính là công đức. Quư vị không t́m kiếm nơi ḿnh mà lại giong ruổi t́m cầu bên ngoài, nói tôi đă tạo rất nhiều chùa, độ rất nhiều Tăng Ni, bố thí cho vô số người nghèo, cúng dường Tam Bảo Chư Tăng. Đó đều là truy cầu bên ngoài. Bên ngoài là phước, mà không phải là công đức, lúc tự ḿnh công đức viên măn, th́ có thể cùng Phật không sai khác.

Tâm của quư vị khiêm tốn không tự măn, đó chính là công, mà không phải nói: "Các vị xem tôi giỏi hơn bất cứ người nào, các vị xem tôi có bản lănh như thế, các vị xem tôi tinh thông Phật pháp hơn kẻ khác." Nếu không có thể khiêm tốn nhún nhường th́ không có công. Cho nên chúng ta đối với mọi người, lời nói ra cần phải ḥa nhă một chút, không giống như cây gậy, nói lời ra giống như đánh bể đầu người ta, một câu nói c̣n tác hại hơn so với việc lấy gậy sắt đánh người, nếu năng khiêm nhường th́ sẽ không có xảy ra việc tổn thương ḥa khí như vậy.

Tâm các vị nên khiêm tốn, nh́n thấy người khác đều tốt hơn ḿnh, không nên tự măn, cho nên nói "Măn chiêu tổn, khiêm thọ ích (Tự măn sẽ chuốt lấy tổn hại, khiêm nhường sẽ nhận được sự lợi ích)." Giống như một tách trà rót đầy rồi mà vẫn cứ rót th́ sẽ tràn ra ngoài, không có ích lợi ǵ, đó gọi là măn chiêu tổn. Khiêm thọ ích, khiêm chính là lịch sự lễ độ, th́ sẽ được lợi ích. Không nên nói: "Các vị xem, tôi là lớn nhất, là số một, là thông minh tuyệt đỉnh." Phật pháp không sợ quư vị không hiểu rơ, mà sợ quư vị không thực hành. Không hiểu rơ không quan trọng, nhưng không thực hành th́ không có ích lợi ǵ, cho nên bên ngoài thực hành lễ phép chính là đức.

Tự tánh có thể kiến lập tất cả vạn pháp, tất cả vạn pháp đều từ tự tánh kiến lập, đó chính là công. Bổn thể tự tâm của ông rời xa vọng niệm tà niệm, đó chính là đức. Ông thường hồi quang phản chiếu, nh́n thấy tự tánh thường sanh trí huệ Bát nhă, đó chính là công. Ông dùng trí huệ Bát nhă ứng dụng vô phương, biến hóa vô cùng, và không có chỗ chấp trước, không làm những việc ô nhiễm, đó là đức. V́ Pháp thân là do công đức thành tựu. Ông có công đức, Pháp thân liền thành tựu, nếu như ông muốn kiến lập công đức và Pháp thân th́ cần phải y theo lời của tôi mà làm, đó mới là công đức chân chánh.

Người tu công đức, th́ ḷng chẳng nên khinh dễ người, mà phải cung kính khắp cả mọi người và muôn vật. Nếu ḷng thường khinh dễ người, th́ ngô ngă (cái của ta và ta) chẳng dứt, tức là ḿnh không có công. Tánh ḿnh giả dối, không chơn thật, tức là ḿnh không có đức. Bởi ngô ngă tự đại, nên thường khinh dễ hết thảy.

Giảng:

Người muốn tu công đức, tâm không nên khinh thường người khác. Bất luận là người hay là súc sanh, chỉ cần là chúng sanh th́ không nên khinh thường kiêu mạn, giống như Bồ Tát Thường Bất Khinh nh́n thấy ai cũng khấu đầu lễ bái và nói: "Tôi không dám khinh thường các ông, các ông đều thành Phật." Cho nên chính Ngài cũng thành Phật. Bồ Tát Thường Bất Khinh chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đó chính là Ngài hành Bồ Tát đạo trong kiếp quá khứ.

Lại nữa, cần phải cung kính tất cả chúng sanh. Nếu tâm thường khinh người, tật đố kẻ khác, sợ người khác giỏi hơn ḿnh, sợ người khác thông minh hơn ta, cái ta và của ta ( tức ngô ngă) không đoạn trừ, đánh giá ḿnh quá cao, giống như đă giảng trên đây: "Các vị xem tôi vĩ đại không, hiện nay không có chế độ quân chủ, nếu có, th́ nhất định chức vị Hoàng đế phải do tôi làm, các vị không có phần, v́ tôi thông minh hơn các vị, tôi có thể chi phối các vị, mà các vị không thể chi phối tôi," cho nên thường có cái ngô ngă tồn tại. Cái ta và cái của ta không đoạn trừ, không có cái của ta th́ cũng có cái ta, hai cái này buông bỏ không được th́ không có công, chính v́ ḿnh quá tự măn.

Lại nữa, chính v́ ḿnh cũng không chân thực tu hành, cho nên tự tánh cũng hư vọng không chân thực. Bởi ḿnh vốn không chơn thực, nên đến rốt cùng chính ḿnh là thực hay giả đều không biết, đó gọi là tự tánh hư vọng. Không thực chính là tự ḿnh không tin tưởng ḿnh, giống như tôi khuyên bảo quư vị không nên uống rượu tại sao quư vị vẫn cứ uống? Tự ḿnh không biết phải làm như thế nào, c̣n lại tạo nên tật xấu, đó gọi là tự tánh hư vọng. Ḿnh không nhận thức chính ḿnh – Tại sao lại như vậy? Chính v́ ḿnh không có đức hạnh, v́ thiếu đức hạnh. Tại sao lại thiếu đức? V́ ngô ngă tự đại, đánh giá ḿnh quá cao. Thậm chí đem ḿnh sánh với Phật, giống như nói:"Vị Pháp sư tên đó đó… đă khai ngộ, tôi và ông ta th́ giống nhau." Anh ta không nói anh ta khai ngộ, mà nói Pháp sư đó khai ngộ, nhưng anh ta và Pháp sư khai ngộ đó lại giống nhau, đó cũng chính là tự giới thiệu ḿnh đă khai ngộ rồi, đó chính là ngô ngă tự đại, tuyệt đối không có công đức.

Chư Thiện tri thức! Niệm niệm không gián đoạn là công, ḷng giữ công b́nh chánh trực là đức. Tự tu tự tánh là công, tự tu tự thân là đức.

Chư Thiện tri thức! Công đức phải thấy trong tánh ḿnh, chớ chẳng phải t́m ở chỗ cúng dường và bố thí. Bởi vậy phước đức với công đức là khác nhau. Vua Vơ Đế không biết Chơn lư, chớ chẳng phải Tổ Sư ta lầm.

Giảng:

Quư vị Thiện tri thức! Cái ǵ là công? Tức niệm niệm của ḿnh chánh niệm không gián đoạn, niệm niệm tu hành không ngừng nghỉ lâu ngày sẽ có công, cho nên nói ban đầu miễn cưỡng lâu ngày trở thành tự nhiên; tâm ḿnh thường hành b́nh đẳng chánh trực, mà không có tất cả tướng cong quẹo, chính là đức. Quư vị tự tu tự tánh của chính ḿnh, tức là lúc chưa kiến tánh cần phải tự ḿnh tu tánh. Tu tánh tức là không sanh phiền năo, ai đánh ḿnh th́ xem như đập vào tường vách, ai chửi th́ xem người đó đang ca hát hoặc cho rằng họ đang nói tiếng ngoại quốc, giống như người ngữa mặt lên trời nhổ nước miếng, nước miếng rơi xuống mặt người đó. Người đó chửi quư vị, quư vị không để ư đến, th́ cũng giống như người đó tự mắng ḿnh vậy. Có người nói:

–Nếu đánh tôi, thân tôi đau nhức th́ làm sao không đánh trả lại?

Cũng giống như ban đêm không có đèn, đụng đầu vào bức tường th́ quư vị có đánh cho bức tường vài đấm không? Nếu đánh vài cái vào bức tường, th́ ngược lại làm cho tay ông đau nhức thêm. Quư vị cần nên không để ư đến nó, giống như Bồ Tát Di Lặc nói:

"Già khờ mặc áo vá,

Cơm lạt bụng no nê,

Vá áo để che lạnh,

Vạn sự tùy duyên liễu.

Có người mắng Già khờ,

Già khờ chỉ nói tốt.

Có người đánh Già khờ,

Già khờ tự té xuống.

Nhổ đàm mặt Già khờ,

Cứ để nó tự khô.

Già cũng không phí sức,

Ông cũng không phiền năo.

Ba la mật như thế,

Chính là diệu trung bảo.

Nếu hiểu nghĩa lư này,

Lo ǵ không đạo đắc."

Thật tuyệt! Nhưng mà không dễ dàng làm được, diệu trung bảo này không thể dễ dàng đạt đến.

Tự tu tánh th́ không nổi giận, tự tu thân th́ không làm việc xấu, không có dục tâm, tham tâm, sân tâm, si tâm, không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, đó là tu thân và cũng chính là đức.

Quư vị Thiện tri thức! Công đức phải tự kiếm trên thân của ḿnh, chớ không phải giong ruổi bên ngoài t́m cầu, không phải bố thí cúng dường Tam Bảo liền nói ông có công đức. Đó không có công đức, mà chỉ có phước. Cho nên phước đức vaø công đức có sự sai khác. Phước đức là do ông tạo phước nghiệp và tương lai sẽ thọ phước báo, mà công đức là ông lập tức nhận lấy, đương thời liền được lợi ích. Lương Vơ Đế không hiểu chân lư, chớ không phải Tổ sư Đạt Ma của chúng ta giảng không đúng đạo lư, nói không có công đức. Lúc đó Tổ sư Đạt Ma vốn muốn cứu độ Lương Vơ Đế, nhưng v́ Vơ Đế quá tự cao tự đại, cho rằng ḿnh là Hoàng đế, đă có vô lượng công đức. Tổ sư Đạt Ma muốn phá chấp trước này của nhà vua, bèn nói nhà vua không có công đức. Lương Vơ Đế nghe như vậy trong tâm không vui, không c̣n xem trọng Tổ sư Đạt Ma. Dù Tổ sư Đạt Ma có giảng ǵ đi nữa, nhà vua cũng không nghe, cho nên Tổ sư Đạt Ma bỏ đi. Quả nhiên sau đó không lâu, Lương Vơ Đế bị đói chết. Nếu nói nhà vua có công đức th́ tại sao lại bị chết đói? Tổ sư Đạt Ma muốn cứu văn nghiệp tội, không để nhà vua chết đói, khiến cho nhà vua sanh tâm giác ngộ, nhưng đáng tiếc Lương Vơ Đế ngô ngă quá lớn, cho nên Tổ sư Đạt Ma không thể cứu nhà vua được.

Thứ sử lại hỏi: "Đệ tử thường thấy quư Thầy và người tục, niệm Phật A Di Đà, nguyện văng sanh về Tây phương, xin giải rơ cho biết các người ấy được văng sanh về Tây phương chăng? Xin Ngài phá chỗ nghi nầy."

Giảng:

Thứ sử Vi Cừ lại hỏi:

–Đệ tử chúng con thường thấy người xuất gia và người tại gia, niệm danh hiệu Đức Phật Vô Lượng Quang, Phật Vô Lượng Thọ, phát nguyện văng sanh về Thế giới Cực Lạc Tây phương. Nay con thỉnh Ḥa Thượng v́ chúng con mà giảng nói, có thể văng sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương không? Con cúi mong Ḥa Thượng v́ chúng con phá tan nỗi nghi ngờ mê hoặc này.

Thứ sử Vi Cừ thưa hỏi vấn đề này, không phải chính ông ta không hiểu rơ, mà là v́ có một số người không hiểu rơ pháp môn này, họ lấy pháp môn Niệm Phật hủy báng Thiền tông, nói những người tu thiền ăn no xong liền ngồi ở đó, rốt cuộc là dụng công ǵ? Chỉ dụng công làm biếng mà thôi, không bằng niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà có thể văng sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương tốt hơn, người niệm Phật thường hủy báng người tọa thiền như thế.

Mà người tọa thiền cũng công kích lại: các ông niệm Nam Mô A Di Đà Phật cầu sanh về Thế giới Cực Lạc Tây phương, vậy th́ khi không có Phật A Di Đà, người ta lại niệm Phật nào đây?

Như thế niệm Phật cùng với tham thiền hủy báng công kích lẫn nhau, khiến người ta không biết cái nào là đúng. V́ có nhân duyên như thế cho nên Thứ sử Vi Cừ thưa hỏi Lục Tổ Đại sư.

Sư nói: "Sử quân hăy nghe cho kỷ, Huệ Năng giải cho. Đức Thế Tôn lúc ở thành Xá Vệ, nói kinh về chỗ tiếp dẫn vào cơi Tây phương, rơ ràng cơi ấy cách đây chẳng xa. Nếu luận về h́nh tướng và số dặm, th́ có mười muôn tám ngàn, tức là chỉ mười điều ác và tám điều tà trong thân. Thế mới nói là xa. Nói xa là v́ người hạ căn, nói gần là v́ người thượng trí.

Giảng:

Xá Vệ Quốc là tiếng Phạn, Tàu dịch là Phong Đức, v́ người ở đó có sự phong phú về ngũ dục tài bảo. Có đầy đủ ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, mà người ta lại có đức đa văn giải thoát, đa văn tức học nhiều mà không chấp trước. Tại thành Phong Đức, Đức Phật thuyết pháp dẫn độ, giáo hóa chúng sanh văng sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương. Kinh văn nói rất rơ ràng: "Thế giới Cực Lạc cách chỗ này không xa. Nếu theo h́nh tướng mà nói có mười vạn tám ngàn." Kinh A Di Đaø vốn thuyết mười vạn ức Phật độ mà không phải là mười vạn tám ngàn, nhưng Lục Tổ Đại sư v́ để đối trị biên kiến của người đương thời cho nên nói mười vạn tám ngàn. Mười vạn ức Phật độ không chỉ mười vạn tám ngàn dặm mà là rất nhiều rất nhiều. Nếu giảng về tự tánh chính là thập ác bát tà. Thập ác tức ba điều ác của thân: sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Ba điều ác của ư: tham tâm, sân tâm, si tâm (tà kiến). Bốn điều ác của khẩu, là những điều ác tệ nhất, tức ỷ ngữ: nói lời ô trọc không thanh tịnh, chuyên nói về vấn đề nam nữ; vọng ngôn: nói láo, đặt điều; ác khẩu: tức chửi mắng người; lưỡng thiệt: chuyên môn bới móc, ly gián, nói chuyện thị phi.

Bát tà chính là tám điều ngược lại với Bát Chánh Đạo, tức là tà kiến, tà ngữ, tà tư duy, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn (c̣n gọi là tà phương tiện), tà niệm, tà định. Thập ác bát tà chính là con đường mười vạn tám ngàn dặm. Nói Thế giới Cực Lạc Tây phương ở xa là v́ người hạ căn thuyết. Nói thập ác bát tà cách tự tánh chúng ta không xa, đó là thuyết cho người có trí huệ.

Người có hai hạng, pháp không có hai thứ. Tánh ngộ mê có khác nhau, chỗ kiến giải có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu văng sanh về cơi Tây phương, người ngộ tự tịnh tâm ḿnh. Sở dĩ Phật nói: "Tâm ḿnh tịnh, tức là cơi Phật tịnh."

Giảng:

Người có hai loại, đây không phải chỉ người da vàng và da trắng, mà chỉ người có trí huệ và người ngu si. Nhưng pháp không có hai loại, bất luận người ngu hay người trí đều tu pháp này, cho nên nói pháp vô lưỡng ban.

Mê và ngộ th́ không giống nhau, nhưng kiến giải có chậm có nhanh. Người mê niệm Phật cầu sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương, mà người có trí huệ khai ngộ th́ tự tịnh kỳ ư, cho nên nói lúc tâm thanh tịnh đó chính là Thế giới Cực Lạc. Nếu quư vị thấu hiểu th́ Thế giới Cực Lạc ngay trước mắt, không phải là mười vạn Phật độ xa như vậy. Nếu quư vị không hiểu th́ không biết có bao nhiêu ngàn ức Phật độ xa xôi diệu vợi, cho nên nói: Lúc mê ngàn quyển thiếu, ngộ rồi một chữ quá dư thừa. Lúc mê nghiên cứu quyển kinh này lại nghiên cứu quyển kinh kia, nhưng cũng không rơ ràng sáng suốt, nếu đă chân chánh giác ngộ rồi, không cần nói nghiên cứu hết thảy kinh điển, thậm chí một chữ cũng là dư thừa. Nhưng điều này cần phải chân chánh hiểu rơ mới được, không nên chưa hiểu mà nói đă hiểu, nói tôi không cần xem Kinh, niệm Phật. Kỳ thực, đó là thứ làm biếng, làm bậy. Có người nói với tôi:

–Tôi lúc trước xem rất nhiều sách, đó là sai lầm, nay tôi sách ǵ cũng không thèm xem.

Trong lời nói đó biểu thị ông ta đă thành Phật, cho nên cái ǵ cũng không cần nữa – Đây thật ngu si đến cực điểm! Căn bổn cái ǵ cũng không hiểu mà mạo nhận đă hiểu, giống như "lấy nước lạnh pha trà, là việc làm vô ích," dùng nước lạnh pha trà th́ làm sao ra trà được. Cho nên những người kỳ khôi, quái rở (weird, strange) trên thế gian này thật là nhiều.

Sử quân, người Đông phương mà tâm tịnh, th́ không có tội. C̣n tuy là người Tây phương mà tâm chẳng tịnh, th́ cũng có tội. Người Đông phương tạo tội, niệm Phật cầu văng sanh về Tây phương. C̣n người Tây phương tạo tội, niệm Phật cầu văng sanh về xứ nào?

Giảng:

Ư của Lục Tổ Đại sư trong đoạn này là: Bất luận quư vị ở Đông phương hay Tây phương, đều không nên tạo ác nghiệp. Nếu quư vị tạo nghiệp th́ một phương cũng không thể văng sanh, mà sẽ sanh đến ngạ quỷ phương, súc sanh phương, địa ngục phương. Cho nên nếu quư vị tu niệm Phật mà muốn văng sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương, cũng phải tu thiện. Tu thiền tông cũng cần phải tu thiện; không tu thiện, không làm công đức th́ không thể thành tựu đạo hạnh của quư vị.

Lục Tổ Đại sư nói với Thứ sử Vi Cừ:

–Sử quân! người Đông phương chỉ cần tâm thanh tịnh, tức không có tạp niệm, ḷng ích kỷ, tự tư tự lợi, tâm tật đố chướng ngại, tham tâm, sân tâm, si tâm, nếu không có tà niệm chính là không có tội lỗi.

Tuy người ở Thế giới Cực Lạc Tây phương, nếu tâm không thanh tịnh th́ người đó cũng có tội. Nhưng đây là ví dụ, mọi người không nên cho rằng Lục Tổ Đại sư nói người Tây phương nếu tâm không thanh tịnh cũng có tội. Cần biết người ở Thế giới Cực Lạc Tây phương không giống với người ở Thế giới Ta-bà chúng ta. Họ không cần phải tịnh kỳ ư, v́ tâm của họ vốn là tịnh, không có tham, sân, si, không có ba đường ác, cho nên đoạn này chỉ là ví dụ, không nên lấy Lục Tổ Đàn Kinh làm căn cứ, nói tâm người Tây phương cũng không tịnh, mà cần phải biết, tâm người Tây phương không có sự sai khác giữa tịnh và bất tịnh.

Lục Tổ Đại sư lại đưa ra một ví dụ:

–Các ông nếu chấp trước người Đông phương nhất định phải niệm Phật cầu sanh Tây phương, vậy th́ người Tây phương tạo tội niệm Phật, lại cầu sanh vào cơi nào đây?

Đây chỉ là ví dụ, v́ người Tây phương không bao giờ tạo nghiệp tội, chẳng qua Lục Tổ Đại sư v́ muốn phá chấp trước của người, cho nên cố ư giảng như vậy. Nếu quư vị ở Đông phương niệm Phật, muốn văng sanh Tây phương, điều trước tiên cần phải không có tội lỗi. Nếu quư vị có tội, th́ không chỉ Tây phương, mà một phương cũng không thể đến được, và phương đến của quư vị chính là địa ngục. Cho nên Lục Tổ Đại sư nói người Đông phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây phương, người Tây phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh cơi nào? Chẳng lẽ đi đến Thế giới Cực Lạc? Do vậy không nên chấp trước như thế.

Người phàm mê muội, chẳng tỏ tánh ḿnh, không biết cơi Tịnh độ trong thân, nên mới phát nguyện Đông nguyện Tây. C̣n người giác ngộ dầu ở chỗ nào, tâm địa cũng một mực thanh tịnh tự nhiên. Cho nên Phật nói: Vô luận ở đâu tâm hằng an lạc.

Sử quân, nếu tâm địa ḿnh trọn lành, th́ cơi Tây phương cách đây chẳng xa. Bằng ḿnh cưu mang cái tâm chẳng lành mà niệm Phật cầu văng sanh, th́ ắt khó đến cơi ấy.

Nay khuyên các Thiện tri thức, trước trừ mười điều ác, tức là đi tới mười muôn, sau dứt tám điều tà, ấy là qua khỏi tám ngàn. Niệm niệm thấy tánh, thường làm việc công b́nh, th́ đến cơi ấy mau như khảy móng tay, liền thấy Phật Di Đà.

Giảng:

Phàm phu tục tử không biết tu tự tánh, không biết tự ḿnh trước tiên phải tự tịnh kỳ tâm, chính là tịnh độ, cho nên phát nguyện cầu sanh Đông phương, cầu sanh Tây phương. Nhưng người khai ngộ ở bất cứ nơi nào cũng đều giống nhau, người này tùy chỗ trú ngụ mà an ổn, ở chỗ nào cũng không có ḷng phân biệt. Cho nên Đức Phật thường nói: "Tùy sở trụ xứ hằng an lạc."

Sử quân à! Nếu tâm địa không có chỗ nào không thiện, chỉ sung măn ḷng từ thiện th́ Tây phương cách chỗ này không xa. Nếu ông ôm ấp tâm không thiện, thường làm những việc không tốt, dù có niệm Phật cầu văng sanh cũng không đến đó được.

Nay ân cần khuyên nhắc các vị Thiện tri thức, trước tiên cần phải đoạn trừ thập ác, đó chính là đi mười vạn dặm đường. Sau đó trừ bát tà đó chính là vượt qua tám ngàn dặm đường. Nếu ông niệm niệm nh́n thấy bổn tánh của chính ḿnh, thường làm việc công b́nh chính trực, vậy th́ đến Thế giới Cực Lạc Tây phương nhanh như khảy móng tay, liền lập tức nh́n thấy Đức Phật A Di Đà.

Sử quân, nếu làm mười điều thiện, th́ cần ǵ phát nguyện văng sanh! C̣n nếu chẳng dứt ḷng cưu mang mười điều ác, th́ Phật nào tới rước ḿnh! Nếu hiểu rơ vô sanh đốn pháp, th́ trong một sát-na ắt thấy cơi Tây phương. Bằng chẳng hiểu rơ pháp ấy, mà cứ niệm Phật cầu văng sanh, th́ đường xa vời vợi, thế nào mà đi đặng tới cơi ấy! Để Huệ Năng nầy dời cơi Tây phương trong một sát-na cho các ngươi liền thấy trước mắt, các ngươi muốn thấy chăng?"

Chúng nhơn đều đảnh lễ đáp rằng: "Nếu thấy cơi ấy, th́ cần ǵ phải nguyện sanh! Xin Ḥa Thượng từ bi hiện cơi Tây phương cho mọi người được thấy."

Giảng:

Sử quân! Ông tu thập thiện, cần ǵ phải nguyện văng sanh? Quư vị xem, người ta không dám tu thập thiện, nói: "Tôi vừa làm việc thiện liền có ma chướng." Nhưng ngược lại họ không sợ rằng làm ác sẽ có ma chướng, v́ làm ác chính là ma làm, nhưng họ lại không sợ làm ác. Ôi! con người điên đảo như thế!

Nếu ông không đoạn trừ tâm thập ác, th́ thân ông đầy dẫy nghiệp tội, từ đầu đến chân, mỗi gốc chân lông đều chứa đựng nghiệp tội, th́ làm sao ông có thể đến Tây phương được? Phật nào mà đến rước ông? Ông làm điều tốt dù không cầu văng sanh Tây phương cũng sẽ được văng sanh. Nếu ông làm điều xấu xa tội lỗi, mà cầu văng sanh Tây phương th́ cũng không được văng sanh. V́ ông có tội nghiệp trói buộc ông, tuy nói đới nghiệp văng sanh, đó chỉ là nói như vậy mà thôi, ông cần phải tự tịnh kỳ ư mới có thể được. Cho nên nói Phật nào đến rước ông là kẻ tội lỗi chỉ biết làm việc xấu xa? Nếu ông hiểu rơ pháp môn đốn ngộ tự tánh vô sanh, th́ ông nh́n thấy Thế giới Cực Lạc Tây phương rất nhanh. Nếu ông không ngộ tự tâm, lại không làm điều thiện mà chỉ có niệm Nam Mô A Di Đà Phật cầu văng sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương th́ lộ tŕnh xa vời thăm thẳm không có cách nào đến được.

Huệ Năng tôi (Lục Tổ Đại sư tự xưng) cùng với quư vị trong khoảnh khắc sát na, dời Tây phương đến chỗ này khiến cho mỗi người đều có thể nh́n thấy Thế giới Cực Lạc Tây phương, các ông có muốn xem không?

Mọi người vừa nghe nói có thể nh́n thấy Thế giới Cực Lạc Tây phương, đều sanh ḷng tham, v́ thế liền khấu đầu đảnh lễ nói: "Nếu ở đây có thể thấy, vậy th́ chúng con đâu cần phải phát nguyện văng sanh Thế giới Cực Lạc Tây phương? Chúng con nay cúi mong Ḥa Thượng phát đại từ bi, khiến cho Thế giới Cực Lạc Tây phương xuất hiện, cho chúng con mọi người đều được thấy."

Sư nói: "Đại chúng! Người ở thế gian, sắc thân của ḿnh là cái thành; con mắt, lỗ tai, cái mũi, cái lưỡi là các cửa. Ngoài có năm cửa, trong có cửa ư. Tâm là cơi, tánh là vua. Vua ở tại cơi tâm. Tánh ở th́ vua ở, tánh đi th́ vua mất. Tánh ở th́ thân tâm tồn tại, tánh đi th́ thân tâm hoại hư. Muốn thấy Phật, phải ngó vào trong tánh ḿnh mà t́m, đừng ngó ra ngoài thân mà kiếm.

Giảng:

Lục Tổ Đại sư nói muốn đem Thế giới Cực Lạc dời đến trước mặt mọi người. Hôm qua tôi cũng hứa đem Thế giới Cực Lạc dời đến Phật Giáo Giảng Đường (Buddhist Lecture Hall ở San Francisco, nơi Ḥa Thượng giảng kinh), nhưng di chuyển tốn rất nhiều thủ tục và phiền phức cho nên hôm nay chúng ta dùng nguyên liệu tại chỗ, tức là sẽ không dời Thế giới Cực Lạc, mà đem thân của chúng ta biến thành Thế giới Cực Lạc. Đây là điều hay nhất!

Lục Tổ Đại sư nói:

–Quư vị Thiện tri thức! Sắc thân của các ông chính là Thế giới Cực Lạc, tâm ông tịnh th́ Phật độ tịnh, Phật độ tịnh chính là an lạc. Tâm tịnh th́ không có một pháp ô nhiễm, dù ở trong ô nhiễm cũng sẽ biến thành thanh tịnh, không bị pháp ô nhiễm xoay chuyển, cho nên nói sắc thân của ḿnh là thành.

"Ngoài có năm cửa, trong có cửa ư": Ngoài có năm cửa là chỉ cho nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Trong có cửa ư, bên trong có ư niệm, nó có lúc đóng lúc mở, giống như ư có lúc suy tưởng, có lúc không. Tâm người ví như đất chính là vàng ṛng của Thế giới Cực Lạc làm đất; tánh là quốc vương, tức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà trụ ở trong tâm của ḿnh, lúc tánh hiểu rơ, ông biết tự tánh th́ tồn tại, là như như bất động, thường thường sáng suốt hiểu rơ (như như bất động, liễu liễu thường minh), đó cũng giống như vua đang ở. Lúc tánh rời khỏi, vua cũng không c̣n. Ông có thể minh tâm kiến tánh, đó chính là A Di Đà Phật hiện tiền. Lúc tự tánh ở trên thân, thân tâm cũng tồn tại; nếu tự tánh rời khỏi, thân tâm cũng hoại. Cần phải biết Phật là tự tánh tu, tự tâm là Phật, tự tánh là Phật, cần phải ở trên tự tánh dụng công phu mới có thể thành Phật, mà không nên t́m cầu ở bên ngoài. Tự tánh chính là Phật tánh, Phật tánh cũng chính là tự tánh, Phật tánh và tự tánh không hai, không sai khác. Cho nên muốn thành Phật th́ cần phải ở trong tự tánh dụng công phu, chính là tự tịnh kỳ ư, tự tịnh kỳ tâm, cần phải đoạn trừ tất cả tập khí tật xấu. Nếu không đoạn trừ thập ác bát tà và các tật xấu của ḿnh, th́ không thể nào, cho nên nói không nên t́m cầu ở ngoài thân.

Tánh ḿnh mê tức là chúng sanh, tánh ḿnh giác tức là Phật. Ḷng từ bi tức là Quán Âm, ḷng hỷ xả tức là Thế Chí, ḷng năng tịnh (thường trong sạch) tức là Thích Ca, ḷng b́nh trực (b́nh đẳng chánh trực) tức là Di Đà.

Ḷng nhơn ngă là núi Tu Di, ḷng tà vạy là nước biển, ḷng phiền năo là sóng trào, ḷng độc hại là rồng dữ, ḷng dối giả là quỷ thần, ḷng trần lao là rùa, trạnh, ḷng tham sân là địa ngục, ḷng ngu si là súc sanh.

Giảng:

Nếu quư vị không hiểu tự tánh của ḿnh, mê mất đi tự tánh, quên đi tự tánh của ḿnh, đó chính là chúng sanh. Nếu tự tánh giác ngộ, giác ngộ rằng không làm tất cả điều ác mà làm tất cả điều lành (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành), cho nên đoạn ác tu thiện, đó chính là Phật. Năng thực hành pháp từ bi, sung măn ḷng từ bi, đó chính là học theo Bồ Tát Quán Thế Âm. Có lần một đồ đệ nói với tôi: "Từ bi đối với con thật là điều mới mẻ lạ kỳ, lúc trước con không biết thế nào là ư nghĩa của từ bi." Tôi nghĩ, không những đồ đệ của tôi không hiểu rơ, mà rất nhiều người Tây phương khác cũng rất xa lạ đối với từ bi. Tại sao vậy? V́ họ không chú ư đến từ bi, cho nên dù đối diện mà cũng không nhận ra Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu muốn nhận ra Bồ Tát Quán Thế Âm th́ cần phải thực hành pháp từ bi, v́ Từ có thể ban vui cho tất cả chúng sinh, Bi có thể diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài. Từ Bi làm cho người an lạc, cái vui này là niềm vui chân chánh mà không phải là những cái vui của thế gian như đánh bài, cá ngựa, khiêu vũ v.v.. Chân chánh giác ngộ sẽ không c̣n làm những việc muội mê sai lầm, đó mới là sự an lạc chân chánh, cho nên nói: "Đoạn trừ vô minh tức là hiển hiện Pháp tánh."

V́ sao gọi là Bồ Tát Đại Thế Chí? Chính là hỷ xả, hoan hỷ bố thí. Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm – Tứ vô lượng tâm. Nếu quư vị có thể từ bi hỷ xả chính là học theo hạnh của Ngài Bồ Tát Đại Thế Chí.

Nếu quư vị có thể tự tịnh kỳ ư, tự tịnh kỳ tâm, phản bổn hoàn nguyên trở về tánh Như Lai Tạng, thấy diệu tánh minh tâm, chân minh giác tánh, đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đó cũng là năng nhân tịch mặc.

Nếu quư vị có thể công b́nh chánh trực, không có một chút riêng tư, đối với ai cũng đều dùng tâm từ bi b́nh đẳng, đó chính là gương hạnh của Đức Phật A Di Đà. Đây đều là ví dụ, quư vị không nên cho rằng b́nh trực chính là Đức Phật A Di Đà. Không nên sanh ḷng chấp trước; nghe Kinh nghe Pháp sợ nhất là sanh ḷng chấp trước, chớ nên nói: "Tôi nghe Thầy giảng công b́nh chính trực chính laø Đức Phật A Di Đà," nếu vậy th́ quư vị đă xem nhẹ Đức Phật A Di Đà. Nếu tâm quư vị có thể b́nh đẳng chính trực, ấy chính là công hạnh của Đức Phật A Di Đà.

Quư vị nói:

–Đó chính là lời của Lục Tổ giảng, tại sao không thể tin được?

–Lục Tổ giảng lúc nào, tại sao tôi không nghe?

Ḷng nhơn ngă là Tu Di: có nhân có ngă liền có núi Tu Di. Người có tướng của người, ngă có tướng của ngă; người có cái bộ dạng của người, ngă có cái dáng điệu của ngă. Cái bộ dạng này c̣n cao hơn núi Tu Di. Tu Di dịch là Diệu Cao, Diệu Cao nghĩa là không biết nó cao bao nhiêu, v́ nó quá diệu, cho nên người cống cao ngă mạn chính là Tu Di. B́nh đẳng chính trực ở trên và Tu Di ở đây đều là ví dụ. Đó là bảo quư vị ở tự tánh ḿnh thấy Đức Phật A Di Đà, ở tự tánh ḿnh thấy tất cả tật xấu.

Ḷng tà vạy là nước biển, ḷng phiền năo là sóng trào: Tà tâm của ông giống như nước biển lớn. Ông có phiền năo chính là biển sanh sóng. Sóng nhỏ th́ rất bằng phẳng an tịnh không có thanh âm, sóng lớn dâng cao mười trượng th́ có thể cuốn thuyền lớn vào tận đáy biển. Giống như đại phiền năo của người th́ có thể che phủ cả ánh sáng trí huệ, cho nên chúng ta cần phải cẩn thận, không nên sanh phiền năo.

Ḷng độc hại là rồng dữ: có sóng th́ sẽ phát sanh nguy hiểm, đó chính là độc hại. Ḷng độc hại chính là độc long, cho nên ác long ở long cung lúc muốn mời khách, liền nổi sóng lớn, mời tất cả mọi người trên thuyền đến long cung ăn tiệc, uống long tửu.

Ḷng dối giả là quỷ thần: người phàm phu nói,

–Tôi không tin có quỷ, tôi không tin có Thần, v́ không nh́n thấy.

Căn bản là không cần thấy, v́ nó chính là hư vọng mà! Quư vị thấy nó để làm cái ǵ? Dù có nh́n thấy cũng là hư vọng. Quỷ th́ không thể dùng tay nắm bắt, quư vị nh́n thấy dường như có h́nh tướng, mà dùng tay nắm bắt nó, th́ đích xác nó ở đó nhưng không nắm bắt được nó, v́ nó chỉ là cái ảnh, là hư vọng, không phải thực tại.

Tôi sẽù nói cho quư vị, thế nào là có thể biết ḿnh thấy quỷ hay thấy Thần: quỷ màu đen, ảnh đen, v́ nó thuộc về âm. Thần màu trắng, thuộc dương. Lúc quư vị nh́n thấy th́ có h́nh tượng, nhưng nh́n th́ có thể thấy, mà nắm lấy th́ không được, v́ chúng đều là hư vọng.

Ḷng trần lao là rùa, trạnh. Ḷng tham sân là địa ngục: trần lao trong tự tánh của chúng ta chính là rùa, trạnh. Tôi giảng Kinh cho quư vị lâu như vậy mà chưa nói cho quư vị biết tham sân là địa ngục, đây không phải nói tham sân là địa ngục, mà nói lúc quư vị có tham tâm, có sân tâm th́ nhất định sẽ đọa địa ngục, v́ nay đă trồng hột giống địa ngục – tham tâm, sân tâm – th́ tương lai nhất định sẽ đọa địa ngục.

Ḷng ngu si là súc sanh: Lúc giảng Kinh, có khi tôi nói, "người đó ngu như heo." Có người nói heo rất thông minh, nó chỉ biết ăn và ngủ, ngoài ra không làm ǵ cả. Nói nó không làm ǵ cả chính là thông minh, cho nên có người muốn học theo heo, suốt ngày từ sáng đến tối ăn xong lại ngủ, ngủ xong lại ăn, đến lúc mập liền bị người ta giết ăn thịt.

Cho nên nói ngu si là súc sanh, quư vị nghĩ xem một đời của súc sanh có ư nghĩa ǵ? Tuy không có ư nghĩa nhưng nó cũng muốn sống, lúc giết nó, nó cũng kêu eng-ét: "Tôi không muốn chết!" Tuy nó cầu xin như thế nhưng v́ người ta không hiểu ngôn ngữ của nó cho nên không biết. Nếu quư vị có thể hiểu được ngôn ngữ của loài heo, th́ sẽ sanh ḷng từ bi mà không giết nó nữa.

Chư Thiện tri thức! Thường làm mười điều thiện th́ Thiên đường liền đến. Dứt ḷng nhơn ngă th́ núi Tu Di sập ngay, bỏ ḷng tà vạy th́ nước biển khô cạn, trừ ḷng phiền năo th́ sóng lặng êm, quên ḷng độc hại th́ rồng dữ ắt tuyệt. Tâm địa ḿnh chính là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài soi sáu cửa trong sạch, có thể phá được các cơi trời Lục dục. Trong soi tánh ḿnh, làm cho ba độc liền dứt, cả thảy các tội địa ngục đồng tiêu diệt một lần. Trong ngoài sáng thấu, chẳng khác ǵ cơi Tây phương. Nếu chẳng chịu tu như thế, th́ làm sao đến cơi kia được!"

Giảng:

Quư vị Thiện tri thức! Nếu quư vị thường hành thập thiện đạo, quư vị có thể đến Thiên đường, năng trừ ngă kiến nhân kiến, núi Tu Di sẽ sụp đổ, đoạn trừ tâm tà tri tà kiến, nước biển cũng khô kiệt. Lúc không c̣n phiền năo, sóng cũng tiêu diệt. Đoạn trước tôi có giảng rằng: "Những cơn sóng nhỏ giống như từng niệm từng niệm vi tế trong tâm người." Quư vị không cảm thấy tâm ḿnh có sóng, nhưng trên thực tế có sóng tồn tại. Mà sóng lớn chính là phiền năo, và sóng nhỏ là những thứ vô minh vi tế. Trong tâm của quư vị giống như sóng nước, chính là niệm trước vừa diệt, niệm sau lại đến. Nếu quư vị không muốn có sóng th́ phải đoạn trừ vô minh. Có vô minh th́ có tam độc: tham sân si. Tại sao quư vị có tham tâm? Chính là v́ vô minh sai sử các quư vị. Nó nói: "Tôi muốn món đồ đó, hăy mau kiếm cho tôi." Tham tâm liền kiếm cho nó. Tài và sắc cũng giống như vậy. Nếu không được, nó liền nổi nóng, giống như một đồ đệ của tôi nói: "Tôi muốn cái ǵ th́ phải được cái đó, tại sao tôi lại không được?" Đây do vô minh gây ra, nên nổi lên ḷng tức giận sân si mà sanh sóng. Sóng nhỏ c̣n chưa sao, lúc nổi sóng lớn, th́ như long vương muốn mở tiệc mời quư vị làm khách.

Quên đi tâm độc hại, không hại người th́ ngư long trong ḷng cũng không c̣n. V́ rồng sẽ phun khí độc, người bị trúng độc này sẽ bị chết liền.

Tâm địa của ḿnh chính là giác tánh Như Lai, phóng đại quang minh sanh đại trí huệ, tức ngoài chiếu lục môn thanh tịnh – nhăn thấy sắc không bị sắc trần xoay chuyển, tai nghe tiếng không bị thanh trần xoay chuyển, mũi ngửi mùi thơm không bị hương trần xoay chuyển, lưỡi nếm vị không bị vị trần xoay chuyển, thân giác xúc không bị xúc trần xoay chuyển, ư duyên pháp không bị pháp trần xoay chuyển. Lúc sáu cửa lục căn thanh tịnh, th́ có thể phá lục dục Chư thiên – Tứ thiên vương thiên, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên. Kỳ thực, lục dục Chư thiên chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư của quư vị. Lúc lục căn đều thanh tịnh, lục dục Chư thiên liền bị phá trừ, v́ chủng tử và nhân của lục dục Chư thiên chính là ở trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Mắt thích sắc đẹp, liền sanh lên trời, v́ thiên nữ rất đẹp. Tai nghe sắc nghĩ rằng nếu tôi được sanh lên trời th́ ngày ngày được nghe âm nhạc, âm nhạc của trời th́ du dương êm ái hơn đàn ghi-ta, đàn vĩ cầm, mandolins của dương gian. Lúc tai của quư vị không bị thanh trần xoay chuyển, th́ phá Lục dục thiên, cho đến tỷ, thiệt, thân, ư cũng đều như vậy.

Có người hỏi:

–Lúc Lục dục thiên không c̣n th́ địa cầu có bị hoại hay không?

–Ngay hư không cũng không c̣n, làm sao có địa cầu?

Lại hỏi:

–Vậy th́ tôi ở đâu!

–Ở trong hư không là tốt nhất rồi! Không cần trở lại nữa.

Tự tánh hồi quang phản chiếu, khiến quư vị phát hiện, giác ngộ giác tánh Như Lai, th́ tam độc – tham sân si – tiêu diệt, mọi tội nghiệp ở địa ngục cũng tiêu diệt theo. Tiêu diệt như thế nào? V́ quư vị không có tam độc, không có vô minh, th́ hết thảy tội chướng đồng thời tiêu diệt, lúc đó liền giác ngộ tánh tội vốn không. Nhưng điều đầu tiên cần phải phá vô minh mới có thể "không." Trong tâm quang minh, bên ngoài cũng quang minh, trong ngoài không c̣n chướng ngại, đó chính là Thế giới Cực Lạc Tây phương, Thế giới Cực Lạc không có tam ác đạo, không có bất cứ chướng ngại nào. Nay quư vị có thể nội ngoại minh triệt, tam độc tiêu diệt, tam chướng đoạn trừ, chính là Thế giới Cực Lạc vậy. Cho nên tôi nói không cần phải phí công làm thủ tục dời Thế giới Cực Lạc Tây phương đến đây, trước mắt chính là Thế giới Cực Lạc Tây phương. Nhưng nếu quư vị không tu hành như thế, th́ làm sao đến bờ bên kia được? Cách xa như thế, dù có ngồi hỏa tiễn đến mặt trăng cũng phải mất mấy ngày mới đến, hà huống Thế giới Cực Lạc Tây phương phải trải qua mười vạn ức Phật độ, không chỉ xa hơn mặt trăng trăm ngàn vạn vạn lần mà c̣n xa hơn thế nữa, làm sao đi đến được? Cho nên điều quan trọng là phải tự tịnh kỳ ư.

Đại chúng nghe nói, thấy tánh rơ ràng. Tất cả đều làm lễ, khen thiệt hay, và xướng lên rằng: "Nguyện khắp chúng sanh trong Pháp giới nghe rồi, liền được tỏ hiểu."

Giảng:

Đại chúng nghe Lục Tổ Đại sư thuyết như vậy, mọi người đều hiểu rơ, vốn là thân thể của chính ḿnh mà ḿnh không biết dùng, tự ḿnh không nhận thức được bản thân ḿnh chính là Thế giới Cực Lạc. Lúc đó mọi người đều kiến tánh, cho nên cùng khấu đầu đảnh lễ, và tán thán rằng: "Hay thay! Hay thay! Thật là từ trước đến nay chưa bao giờ được nghe Phật pháp tuyệt diệu như thế, đây thật không thể nghĩ bàn." Mọi người nói: "Chúng con nguyện khắp pháp giới chúng sanh, ai nghe đến pháp này, liền đồng thời khai ngộ, cùng đồng chứng quả."

Sư nói: Chư Thiện tri thức! Muốn tu hành th́ ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở chùa. Ở nhà mà thường tu hành, th́ cũng như người Đông phương có ḷng lành. Ở chùa mà chẳng tu, th́ cũng như người Tây phương có ḷng dữ, nếu ḷng trong sạch, th́ tánh ḿnh tức là Tây phương vậy."

Vi Thứ sử lại hỏi: Ở nhà tu hành như thế nào, xin Đại sư chỉ dạy."

Sư nói: "Ta nói cho đại chúng một bài kệ Vô Tướng. Nếu y theo đó mà tu, th́ cũng như thường ở cùng ta một chỗ không khác. Bằng chẳng tu theo đó mà thế phát xuất gia, th́ đối với Đạo nào có ích ǵ!"

Giảng:

Lục Tổ Đại sư lại nói:

–Quư vị Thiện tri thức! Nếu muốn tu hành, tại gia cũng được, không nhất định phải ở Chùa.

Tại sao Lục Tổ Đại sư thuyết như thế? V́ Ngài hiện thân thuyết pháp, trước khi Ngài xuất gia, cùng ở chung với đám người thợ săn mười lăm năm, trong thời gian này Ngài đều dụng công tu hành, v́ thế Ngài nói không cần ở Chùa.

Người tại gia có thể tu hành, giống như người Đông phương có tâm lành. Xuất gia mà không tu hành cũng giống như người Tây phương tâm ác. Đây chỉ là ví dụ, không nên cho rằng người Tây phương tâm ác. Quư vị thanh tịnh tâm ḿnh (tự tịnh kỳ ư), đó chính là tịnh độ tự tánh.

Thứ sử Vi Cừ lại hỏi: "Người tại gia làm sao tu hành ? Cúi mong Ḥa Thượng dạy bảo cho con?"

Đại sư nói: "Tôi nay nói cho các ông nghe bài kệ Vô Tướng, các ông nương theo phương pháp này tu hành th́ thường thường ở bên cạnh tôi không sai khác. Nếu các ông không y theo bài kệ này tu hành, th́ dù cho xuất gia thế phát, đối với đạo có lợi ích ǵ?" Cho nên nói: "Đạo cần phải thực hành, không hành làm sao dụng đạo? Đức cần phải làm, không làm th́ sao có đức?" Cần phải y theo phương pháp này tu hành mới có điều ích lợi.

Tụng rằng:

Tâm b́nh hà lao tŕ giới,

Hạnh trực hà dụng tu thiền!

Ân tắc hiếu dưỡng phụ mẫu,

Nghĩa tắc thượng hạ tương lân,

Nhượng tắc tôn ti ḥa mục,

Nhẫn tắc chúng ác vô huyên.

Nhược năng toản mộc xuất hỏa,

Ứ nê định sinh hồng liên.

Khổ khẩu đích thị lương dược,

Nghịch nhĩ tất thị trung ngôn.

Cải quá tất sanh trí huệ,

Hộ đoản tâm nội phi hiền.

Nhật dụng thường hành nhiêu ích,

Thành đạo phi do thí tiền.

Bồ đề chỉ hướng tâm mích,

Hà lao hướng ngoại cầu huyền!

Thính thuyết y thử tu hành,

Thiên đường chỉ tại mục tiền.

 

Ḷng b́nh đẳng đâu cần giữ giới,

Làm việc ngay há phải tu thiền!

Ân, song thân hiếu dưỡng cần chuyên,

Nghĩa, huynh đệ dưới trên tương ái,

Nhượng, ḥa mục tôn ti đối đăi,

Nhẫn, muôn điều ác hại chớ gây.

Nếu bền tu như lấy lửa cọ cây,

Nơi bùn lấm nở đầy sen đỏ.

Đắng miệng ấy thuốc trừ bịnh khổ,

Nghịch tai là lời độ chánh trung.

Sửa lỗi lầm trí huệ phát sung,

Binh tội quấy tâm tùng đọa ác.

Năng làm phước, giúp người lợi lạc,

Đạo nào do thí bạc mà thành!

Vốn Bồ đề cầu ở tâm thanh,

Ngoài mộng ảo, muội manh nhọc kiếm.

Nghe nói pháp, ḷng vâng tu niệm,

Cơi Thiên đường mầu nhiệm thấy liền.

Giảng:

Ḷng b́nh đẳng đâu cần giữ giới: B́nh chính là không có tham sân si. Tại sao quư vị cần phải tŕ giới, v́ có tam độc tham sân si. Nếu năng tŕ giới luật, th́ không bị tam độc làm hại. Nếu tâm b́nh, chính là trong tâm không có sóng, không có sóng chính là không có vô minh. Không có vô minh, th́ cần ǵ phải cực khổ tŕ giới.

Làm việc ngay há phải tu thiền:Hành vi công b́nh chính trực, đó chính là thiền, thiền cũng chính là dạy quư vị trừ đi tất cả tập khí tật xấu. Có người nói: "Tâm b́nh không cần tŕ giới, vậy tôi không tŕ giới nữa," nhưng tâm của quư vị đă b́nh hay chưa? Quư vị không kể tâm ḿnh b́nh hay chưa, liền không tŕ giới. Tâm của quư vị cần phải b́nh mới có thể không tŕ giới, nếu tâm không b́nh th́ làm sao có thể không tŕ giới? Nếu dối gạt người nói tâm tôi đă b́nh rồi, nhưng khi làm việc ǵ th́ không công b́nh, lại tự tư, tự lợi, ích kỷ, tật đố chướng ngại, loại người này tâm làm sao có thể b́nh được.

Ân, song thân hiếu dưỡng cần chuyên: Nói đến báo ân th́ cần phải hiếu dưỡng Cha Mẹ, v́ ân sanh thành dưỡng dục của Cha Mẹ như trời cao biển rộng, cho nên phải hết ḷng hiếu thảo thờ kính cung dưỡng Cha Mẹ.

Nghĩa, huynh đệ dưới trên tương ái:Như Cha Mẹ thương con cái, đó chính là ḷng từ bi lân mẫn, thuộc về nghĩa.

Nhượng, ḥa mục tôn ti đối đăi: Cùng nhau khiêm tốn nhường nhịn th́ trên dưới ḥa hiệp, nh́n thấy kẻ tôn quư người hạ tiện đều b́nh đẳng như nhau, ḥa ḥa hiệp hiệp th́ không có tranh chấp phát sanh.

Nhẫn, muôn điều ác hại chớ gây: Nhẫn chính là không nên ở sau lưng nói xấu người, hoặc là nói việc riêng của người, không nên chuyên môn đi phá hoại người, tật đố chướng ngại người, không nên phao những tin đồn bậy bạ xuyên tạc phá hoại sự tịnh tu và danh dự của người. Người cần phải che giấu điều ác, biểu dương điều thiện; không nên che giấu điều thiện, biểu dương điều ác, như vậy th́ tất cả được ḥa b́nh an ổn.

Nếu bền tu như lấy lửa cọ cây, Nơi bùn lấm nở đầy sen đỏ: Trung Quốc xưa kia muốn lấy lửa phải cọ xát gỗ mới lấy được lửa, và bùn sanh hoa sen đó là nói quư vị không cần phải xuất gia, nếu có thể đoạn trừ dục tâm, tại gia cũng có thể thành tựu như người xuất gia.

Đắng miệng ấy thuốc trừ bịnh khổ, Nghịch tai là lời độ chánh trung: Nếu có người khuyên bảo quư vị, chỉ ra chỗ sai lầm của quư vị, đó chính là Thiện tri thức của ḿnh. Giống như quư vị mắc bệnh, thuốc uống tuy đắng, nhưng lại lợi ích cho bệnh của quư vị. Cho nên nói "Đắng miệng là thuốc hay, nghịch tai nhất định là lời trung thật." Giống như Sư phụ thường chỉ trích sai lầm của đồ đệ: "Con không nên làm biếng! Không nên tham ngủ!" Nhưng với điều này, người đời lại nói: "Tại sao lại để ư việc của tôi?" Nhất là người Mỹ, tự do quen rồi, không muốn nghe người khác chỉ huy, lúc nào cũng duy ngă độc tôn, nói: "Bất luận tôi xấu hay tốt, tôi cũng không muốn nghe người ta, tôi chỉ nghe chính ḿnh, dù tôi là khúc gỗ, ngu ngốc không hiểu biết, tôi cũng muốn nghe chính ḿnh, tôi muốn độc lập." Tôi biết đây là tư tưởng của người Mỹ, không muốn nghe những lời trái tai.

Sửa lỗi lầm trí huệ pháp sung, Binh tội quấy tâm tùng đọa ác: Nếu quư vị có thể sửa đổi sai lầm, th́ nhất định sanh trí huệ, nếu không sửa đổi đó chính là ngu si. Nếu quư vị cứ một mực bào chữa cho cái sai của ḿnh, có tật xấu, mà sợ người nói, lại tự ḿnh làm luật sư cho chính ḿnh, dù người khác có chỉ ra tật xấu của ḿnh, quư vị cũng không thừa nhận. Loại đồ đệ này tôi gặp nhiều rồi, nó cho rằng có thể dối gạt được tôi.

"Năng làm phước, giúp người lợi lạc, Đạo nào do thí bạc mà thành! Vốn Bồ đề cầu ở tâm thanh, Ngoài mộng ảo, muội manh nhọc kiếm. Nghe nói pháp, ḷng vâng tu niệm, Cơi Thiên đường mầu nhiệm thấy liền.": Việc làm thường ngày cần phải có lợi ích cho chúng sanh, cần giúp đỡ, lợi ích cho người, không nên chỉ đối tốt với chính ḿnh, cần phải biết thành Phật không phải nói tôi bố thí bao nhiêu vạn đồng, mua ông Phật lại làm, mà cần tự quư vị tu hành mới được. Bồ đề giác tánh, giác đạo cần phải t́m trong nội tâm, quư vị làm sao có thể hướng bên ngoài đi t́m cầu sự huyền diệu được? Nếu quư vị nghe lời này rồi, y giáo tu hành, th́ Thiên đường ở ngay trước mặt.

Sư lại nói: "Chư Thiện tri thức! Cả thảy phải y theo bài kệ nầy mà tu hành và tự thấy tánh ḿnh, th́ chắc thành Phật đạo. Pháp chẳng đợi chờ, các người giải tán, ta về Tào Khê. Nếu có điều chi nghi ngờ, hăy đến đó mà hỏi."

Bấy giờ Vi Thứ sử cùng các thiện nam tín nữ tại hội, tâm tánh đều được mở mang tỏ sáng. Cả thảy đồng cung kính và vâng làm theo lời dạy.

Giảng:

Lục Tổ Đại sư lại nói:

–Quư vị Thiện tri thức! Các ông cần phải ghi nhớ, thường y theo bài kệ này tu hành, mọi người cần phải nhận thức bổn tâm, thấy được bổn tánh, năng minh tâm kiến tánh mới có thể trực chỉ thành Phật đạo. Pháp môn này th́ không ai có thể thay thế cho ai, ai cũng không thể đợi ai. Các ông cần biết: ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, tự ḿnh ăn cơm tự ḿnh no, tự ḿnh sanh tử tự ḿnh liễu. Các ông cần phải tự ḿnh dụng công. Mọi người nay trở về nhà tự ḿnh dụng công, tu hành, tự tịnh kỳ tâm. Tôi nay trở về Chùa Nam Hoa ở Tào Khê. Các ông nếu có thắc mắc ǵ th́ có thể đến đó hỏi tôi.

Lúc đó Thứ sử Vi Cừ cùng với các quan viên, thiện nam tín nữ, mỗi người đều khai ngộ, tín thọ phụng hành.

Quư vị không nên để ư họ khai ngộ như thế nào, mà quư vị nên phải nghĩ ra cách để cho ḿnh được khai ngộ mới đúng!

o0o

 

previous.png   back_to_top.png   next.png

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]