佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

KINH TRƯỜNG A HÀM

Hán dịch: Phật Đà Da Xá & Trúc Phật Niệm

 Việt dịch: Thích Tuệ Sỹ

-o0o-

14. THÍCH ĐỀ-HOÀN NHẤN VẦN

 

Số 0001

KINH TRƯỜNG A HÀM

Hán bộ 22 quyển

Phẩm Lệ

Phần I

01. Kinh Đại Bản

02. Kinh Du Hành

03. Kinh Điển Tôn

04. Kinh Xà-Ni-Sa

Phần II

05. Kinh Tiểu Duyên

06. Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành

07. Kinh Tệ-Tú

08. Kinh Tán-Đà-Na

09. Kinh Chúng Tập

10. Kinh Thập Thượng

11. Kinh Tăng Nhất

12. Kinh Tam Tụ

13. Kinh Đại Duyên Phương Tiện

14. Kinh Thích Đề Hoàn Nhân Vấn

15. A-Nậu-Di

16. Kinh Thiện Sanh

17. Kinh Thanh Tịnh

18. Kinh Tự Hoan Hỉ

19. Kinh Đại Hội

Phần III

20. Kinh A-Ma-Trú

21. Kinh Phạm Động

22. Kinh Chủng Đức

23. Kinh Cửu-La-Đàn-Đầu

24. Kinh Kiên Cố

25. Kinh Lơa H́nh Phạm Trí

26. Kinh Tam Minh

27. Kinh Sa-Môn-Qủa

28. Kinh Bố-Tra-Bà-Lâu

29. Kinh Lộ Già

Phần IV

30a. Kinh Thế Kư

Phẩm 01: Kinh Diệm Phù Đề

Phẩm 02: Kinh Uất-Đan-Viết

Phẩm 03: Kinh Chuyến Luân Thánh Vương

Phẩm 04: Kinh Địa Ngục

Phẩm 05: Kinh Long Điểu

Phẩm 06: Kinh A-Tu-Luân

30b. Kinh Thế Kư

Phẩm 07. Kinh Tứ Thiên Vương

Phẩm 08: Kinh Đao-Lợi Thiên

Phẩm 09: Kinh Tam Tai

Phẩm 10: Kinh Chiến Đấu

Phẩm 11: Kinh Ba Trung Kiếp

Phẩm 12: Kinh Thế Bản Duyên

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại nước Ma-kiệt-đà, trong hang Nhân-đà-bà-la, núi Tỳ-la, phía Bắc thôn Am-bà-la.

Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân phát khởi thiện tâm vi diệu, muốn đến thăm Phật: “Nay ta hăy đi đến chỗ Thế Tôn”.

Khi ấy, chư Thiên Đao-lợi hay rằng Thích Đề-hoàn Nhân phát khởi thiện tâm vi diệu muốn đi đến đến chỗ Phật, bèn t́m gặp Đế Thích, tâu rằng:

“Lành thay, Đế Thích! Ngài phát khởi thiện tâm vi diệu muốn đến Như Lai. Chúng tôi cũng rất vui sướng nếu được theo hầu ngài đi đến chỗ Thế Tôn”.”

Thích Đề-hoàn Nhân liền nói với thần chấp nhạc là Ban-giá-dực rằng:

“Ta nay muốn đi đến chỗ Thế Tôn. Ngươi có thể đi theo. Chư Thiên Đao-lợi này cũng muốn theo ta đến chỗ Phật”.”

Đáp: “Thưa vâng”.

Rồi Ban-giá-dực cầm cây đàn lưu ly, ở trong chúng, trước mặt Đế Thích, gảăy đàn cúng dường.

Rồi Thích Đề-hoàn Nhân, chư Thiên Đao-lợi, cùng Ban-giá-dực, bỗng nhiên biến mất khỏi PPháp đường. Trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay họ đến phía Bắc nước Ma-kiệt-đà, trong núi Tỳ-đà.

Bấy giờ Thế Tôn nhập hỏa diệm tam muộitam-muội, khiến cho cả núi Tỳ-đà đồng một màu lửa. Khi ấy, người trong nước thấy vậy, bảo nhau rằng:

“Núi Tỳ-đà này đồng một màu lửa. Phải chăng là do thần lực của chư Thiên?”

Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân nói với Ban-giá-dực rằng:

“Đức Như Lai, Chí Chân, rất khó được gặp. Nhưng nay có thể rũ ḷng đi xuống chỗ thanh vắng này, lặng lẽ không tiếng động, làm bạn với muông thú. Chỗ này thường có các Đại Thiên thần thị vệ Thế Tôn. Ngươi hăy đi trước tấu đàn lưu ly để làm vui ḷng Thế Tôn. Ta cùng chư Thiên sẽ đến sau”.”

Đáp: “Kính vâng”.

Tức th́ cầm đàn lưu ly đến Phật trước. Cách Phật không xa, ông tấu đàn lưu ly và hát lên bài kệ rằng:

Bạt-đà ơi, kính lễ phụ thân nàng.

Cha nàng đẹp rực rỡ,

Sinh ra nàng cát tường

Tâm ta rất thương yêu.

Vốn do nhân duyên nhỏ,

Dục tâm sinh trong đó;

Càng ngày càng lớn thêm.

Như cúng dường La La-hán ;

Thích tử chuyên Tứ thiền,

Thường ưa chốn thanh vắng,

Chánh ư cầu cam lồ;

Tâm niệm ta cũng vậy.

Năng Nhân phát đạo tâm,

Tất muốn thành Chánh giác;

Như tôi nay cũng vậy,

Ước hội họp với nàng.

Tâm tôi đă đắm đuối,

Yêu thương không dứt được;

Muốn bỏ, không thể bỏ,

Như voi bị móc câu.

Như nóng gặp gió mát;

Như khát gặp suối lạnh;

Như người nhập Niết-bàn;

Như nước rưới tắt lửa;

Như bệnh, gặp lương y;

Đói, gặp thức ăn ngon,

No đủ, khoái lạc sanh;

Như La- hán trú Pháp.

Như voi bị kềm chặt,

Mà vẫn chưa khứng phục,

Bươn chạy, khó chế ngự,

Buông lung chẳng chịu dừng.

Cũng như ao trong mát,

Mặt nước phủ đầy hoa;

Voi mệt, nóng, vào tắm,

Toàn thân cảm mát rượi.

Trước, sau, tôi bố thí,

Cúng dường các La- hán;

Phước báo có trong đời;

Thảy mong được cùng nàng.

Nàng chết, tôi cùng chết;

Không nàng, sống làm ǵ?

Chẳng thà tôi chết đi,

C̣n hơn sống không nàng.

Chúa tể trời Đao-lợi,

Thích chúa, cho tôi nguyện.

Tôi ngợi ca đủ lễ.

Xin người suy xét kỹ.

Khi ấy, Thế Tôn từ tam-muội dậy, nói với Ban-giá-dực rằng:

“Lành thay, lành thay, Ban-giá-dực, ngươi đă có thể bằng âm thanh thanh tịnh cùng với đàn lưu ly mà tán thán Như Lai. Tiếng của đàn và giọng của ngươi không dài, không ngắn, buồn và thương uyển chuyển, làm rung động ḷng người. Cây đàn mà ngươi tấu hàm đủ các ư nghĩa. Nó được nói là sự trói buộc của dục và cũng được nói là phạm hạnh, cũng được nói là Sa-môn, cũng được nói là Niết-bàn”.”

Khi ấy Ban-giá-dực bạch Phật rằng:

“Con nhớ lại, thuở xưa khi Thế Tôn vừa mới thành đạo dưới gốc cây A-du-ba-đà ni-câu-luật, bên ḍng sông Ni-liên-thiền, thôn Uất-bệ-la ; lúc ấy có người con trai của Thiên đại tướng là Thi-hán-đà và con gái của Chấp nhạc Thiên vương đang cùng ở một chỗ, chỉ tổ chức những cuộc vui chơi. Con khi ấy thấy được tâm tư họ, bèn làm một bài tụng. Bài tụng ấy nói đến sự trói buộc của dục; và cũng nói đến phạm hạnh, cũng nói Sa-môn, cũng nói Niết-bàn. Vị Thiên nữ kia khi nghe bài kệ của con, đưa mắt lên cười và nói với con rằng: Ban-giá-dực, tôi chưa hề thấy Như Lai. Tôi ở trên Pháp đường của trời Đao-lợi đă từng nghe chư Thiên xưng tán Như Lai, có công đức như vậy, năng lực như vậy. Ông hằng có ḷng thành tín, thân cận Như Lai. Nay tôi muốn cùng ông làm bạn. Thế Tôn, con lúc ấy có nói với nàng một lời, rồi sau đó không hề nói với nàng nữa”.”

Lúc bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhân suy nghĩ như vầy: “Ban-giá-dực này đă làm vui ḷng Thế Tôn rồi, nay ta hăy nghĩ đến người ấy”. Rồi Thiên Đế Thích tức th́ nghĩ đến người ấy. Lúc ấy Ban-giá-dực lại có ư nghĩ như vầy: “Thiên Đế Thích đang nghĩ đến ta”. Tức th́ cầm cây đàn lưu ly đi đến chỗ Đế Thích. Đế Thích bảo rằng:

“Ngươi mang danh ta cùng ư của trời Đao-lợi đến thăm hỏi Thế Tôn: Đi đứng có nhẹ nhàng không? Lui tới có khỏe mạnh không?”

Ban-giá-dực vâng lời chỉ giáo của Đế Thích, đi đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch Thế Tôn rằng:

“Thích Đề-hoàn Nhân và chư Thiên Đao-lợi sai con đến thăm Thế Tôn, hỏi Ngài đi đứng có nhẹ nhàng không? Lui tới có khỏe mạnh không?”

Thế Tôn trả lời:

“Mong Đế Thích của ngươi và chư Thiên Đao-lợi thọ mạng lâu dài, khoái lạc, không bệnh. Sở dĩ như vậy là v́ chư Thiên, Người đời, A-tu-luân và các chúng sanh khác đều ham sống lâu, an lạc, không bệnh hoạn”.”

Bấy giờ Đế Thích lại suy nghĩ: “Chúng ta nên đến lễ viếng Thế Tôn”. Tức th́ cùng với chư Thiên Đao-lợi đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng sang một bên. Khi ấy, Đế Thích bạch Phật rằng:

“Không biết nay con có thể ngồi cách Thế Tôn bao xa?”

Phật bảo Đế Thích:

“Thiên chúng các ngươi nhiều. Nhưng ai gần Ta th́ ngồi”.”

Khi ấy, hang Nhân-đà-la mà Thế Tôn đang ở tự nhiên trở nên rộng răi, không bị ngăn ngại. Bấy giờ Đế Thích cùng chư Thiên Đao-lợi và Ban-giá-dực đều lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên. Đế Thích bạch Phật:

“Một thời, Phật ở tại nhà một người Bà-la-môn ở nước Xá-vệ. Lúc bấy giờ Thế Tôn nhập hỏa diệm tam muộitam-muội. Con khi ấy nhân có chút việc, cưỡi xe báu ngàn căm, đi đến chỗ Tỳ-lâu-lặc Thiên vương. Bay ngang không trung, trông thấy một Thiên nữ chắp tay đứng trước Thế Tôn. Con liền nói với Thiên nữ ấy rằng: Khi Thế Tôn ra khỏi tam muộitam-muội, nàng hăy xưng tên ta mà thăm hỏi Thế Tôn, đi đứng có nhẹ nhàng không, lui tới có khỏe mạnh không? Không biết Thiên nữ ấy sau đó có chuyển đạt tâm tư ấy giùm con không?”

Phật nói:

“Ta có nhớ. Thiên nữ ấy sau đó có xưng tên ngươi mà thăm hỏi Ta. Ta ra khỏi thiền định mà c̣n nghe tiếng xe của ngươi”.”

Đế Thích bạch Phật:

“Thuở xưa, nhân có chút duyên sự, con cùng chư Thiên Đao-lợi tập họp tại Pháp đường. Các vị Thiên thần cố cựu khi ấy đều nói rằng: Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, th́ Thiên chúng gia tăng, mà chúng A-tu-la giảm thiểu. Nay con chính tự thân gặp Thế Tôn, tự thân biết, tự thân chứng nghiệm, rằng Như Lai xuất hiện ở đời th́ các Thiên chúng gia tăng, mà chúng A-tu-la giảm thiểu.

“Có Cù-di Thích nữ này, theo Thế Tôn tu hành phạm hạnh, thân hoại mạng chung, sanh lên cung trời Đao-lợi, làm con của con. Chư Thiên Đao-lợi đều khen: Cù-di con cả của trời có công đức lớn, có uy lực lớn.

Lại có ba Tỳ-kheo khác theo Thế Tôn tịnh tu phạm hạnh, thân hoại mạng chung, sanh trong hàng các thần chấp nhạc thấp kém, hằng ngày đến để con sai khiến. Cù-di thấy vậy, làm bài kệ chọc tức rằng:

Ông là đệ tử Phật;

Khi tôi là tại gia,

Cúng dường ông cơm áo,

Lễ bái rất cung kính.

Các ông là những ai?

Tự thân được Phật dạy.

Lời dạy Đấng Tịnh Nhăn,

Mà ông không suy xét.

Ta xưa lễ kính ông,

Nghe Phật pháp vô thượng,

Sinh trời Tam thập tam,

Làm con trời Đế Thích.

Các ông sao không xét,

Công đức mà tôi có.

Trước vốn là thân gái,

Nay là con Đế Thích.

Trước vốn cùng các ông

Đồng tu nơi phạm hạnh;

Nay riêng sinh chỗ thấp kém,

Để cho tôi sai khiến.

Xưa ông hành vi xấu,

Nên nay chịiụu báo này.

Riêng sinh chỗ ti tiện,

Để cho tôi sai khiến.

Sinh chỗ bất tịnh này,

Bị người khác xúc phạm.

Nghe vậy, hăy nhàm chán

Chỗ đáng nhàm tởm này.

Từ nay hăy siêng năng,

Chớ để làm tôi người .

Hai ông siêng tinh tấn,

Tư duy pháp Như Lai.

Xả bỏ điều mê luyến,

Hăy quán, dục bất tịnh,

Dục trói, không chân thật,

Chỉ lừa dối thế gian.

Như voi bứt xiềng xích,

Siêu việt trời Đao-lợi.

Đế Thích, trời Đao-lợi,

Tập pháp trên giảng đường.

Kia với sức dũng mănh,

Siêu việt trời Đao-lợi.

Thích khen chưa từng có.

Chư Thiên cũng thấy qua.

Đấy con nhà họ Thích,

Siêu việt trời Đao-lợi.

Đă chán dục trói buộc;

Cù-di nói như vậy.

Nước Ma-kiệt có Phật,

Hiệu là Thích-ca Văn.

Người kia vốn thất ư;

Nay phục hồi chánh niệm.

Một trong số ba người,

Vẫn làm thần Chấp nhạc.

Hai người thấy Đạo đế,

Siêu việt trời Đao-lợi.

Pháp Thế Tôn đă dạy,

Đệ tử không hoài nghi.

Cũng đồng thời nghe pháp;

Hai người hơn người kia.

Tự ḿnh thấy thù thắng,

Đều sinh trời Quang âm.

Con quan sát họ rồi,

Nên nay đến chỗ Phật.

Đế Thích bạch Phật:

“Kính mong Thế Tôn bỏ chút thời gian, giải quyết cho con một điều nghi ngờ”.”

Phật nói:

“Ngươi cứ hỏi, Ta sẽ giải thích cho từng điều một”.”

Bấy giờ Đế Thích liền bạch Phật rằng:

“Chư Thiên, người thế gian, Càn-đạp-ḥa, A-tu-la cùng các chúng sanh khác, tất cả tương ưng với kết phược ǵ mà cho đến thù địch nhau, dao gậy nhắm vào nhau?”

Phật nói với Đế Thích:

“Sự phát sanh của oán kết đều do tham lam, tật đố. V́ vậy, chư Thiên, người thế gian, cùng các chúng sanh khác dùng dao gậy nhắm vào nhau”.”

Đế Thích liền bạch Phật:

“Thật vậy, bạch Thế Tôn. Oán kết sanh do bởi tham lam, tật đố; khiến cho chư Thiên, người đời, A-tu-la và các chúng sanh khác, sử dụng dao gậy đối với nhau. Con nay nghe lời Phật dạy, lưới nghi đă được dứt bỏ, không c̣n nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu sự phát sanh của tham lam tật đố do đdâu mà khởi lên; do bởi nhân duyên ǵ; cái ǵ làm nguyên thủ, từ cái ǵ mà có, do cái ǵ mà không?”

Phật bảo Đế Thích:

“Sự phát sanh của tham lam, tật đố, tất cả đều do bởi yêu và ghét ; yêu ghét là nhân; yêu ghét là nguyên thủ; từ đó mà có, từ đó mà không “.”

Bấy giờ, Đế Thích liền bạch Phật:

“Thật vậy, Thế Tôn! Tham lam, tật đố phát sanh do bởi yêu ghét; yêu ghét là nhân; yêu ghét làm duyên; yêu ghét làm nguyên thủ; từ đó mà có, từ đó mà không. Con nay nghe lời Phật dạy, mê hoặc đă được dứt bỏ, không c̣n nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu yêu ghét do đâu mà sanh; do bởi nhân ǵ, duyên ǵ; cái ǵ làm nguyên thủ; từ cái ǵ mà có, do cái ǵ mà không?”

Phật bảo Đế Thích:

“Yêu ghét phát sanh ở nơi dục ;; do nhân là dục, do duyên là dục; dục là nguyên thủ, từ đó mà có; không cái này th́ không”.”

Đế Thích liền bạch Phật:

“Thật vậy, Thế Tôn, yêu ghét phát sanh ở nơi dục; do nhân là dục, do duyên là dục; dục là nguyên thủ, từ đó mà có; không cái này th́ không. Con nay nghe lời Phật dạy, mê hoặc đă được dứt bỏ, không c̣n nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu dục này do dâu mà sanh; do bởi nhân ǵ, duyên ǵ; cái ǵ làm nguyên thủ, do cái ǵ mà có, do cái ǵ mà không?”

Phật bảo Đế Thích:

“Ái do tưởng sanh ;; do nhân là tưởng, duyên là tưởng; tưởng làm nguyên thủ, từ đó mà có; cái đó không th́ không”.”

Đế Thích liền bạch Phật:

“Thật vậy, Thế Tôn, ái do tưởng sanh; do nhân là tưởng, do duyên là tưởng; tưởng là nguyên thủ, từ đó mà có; không cái này th́ không. Con nay nghe lời Phật dạy, mê hoặc đă được dứt bỏ, không c̣n nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu tưởng do đâu mà sanh; do bởi nhân ǵ, duyên ǵ; cái ǵ làm nguyên thủ, do cái ǵ mà có, do cái ǵ mà không?”

Phật bảo Đế Thích:

“Tưởng phát sanh do nơi điệu hư ; nhân điệu hư, duyên điệu hư; điệu hư làm nguyên thủ, từ đó mà có, cái đó không th́ không.

“Này Đế Thích, nếu không có điệu hư th́í không có tưởng. Không có tưởng th́ không có dục. Không có dục th́ không có yêu ghét. Không có yêu ghét th́ không có tham lam tật đố. Nếu không có tham lam tật đó th́ tất cả chúng sanh không tàn hại lẫn nhau.

“Này Đế Thích, chỉ duyên điệu hư làm gốc; nhân điệu hư, duyên điệu hư; điệu hư làm nguyên thủ, từ đó có tưởng. Từ tưởng có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét có tham lam tật đố. Do tham lam tật đố, chúng sanh tàn hại lẫn nhau”.”

Đế Thích bạch Phật:

“Thật vậy, Thế Tôn, do điệu hư mà có tưởng; nhân điệu hư, duyên điệu hư; điệu hư làm nguyên thủ, từ đó có tưởng. Từ tưởng có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét có tham lam tật đố. Do tham lam tật đố, chúng sanh tàn hại lẫn nhau. Nếu vốn không có điệu hư th́ không có tưởng. Không có tưởng th́ không có dục. Không có dục th́ không có yêu ghét. Không có yêu ghét th́ không có tham lam tật đố. Nếu không có tham lam tật đố th́ tất cả chúng sanh không tàn hại lẫn nhau. Nhưng tưởng do điệu hư sanh; nhân điệu hư, duyên điệu hư; điệu hư làm nguyên thủ, từ đó có tưởng. Từ tưởng có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét có tham lam tật đố. Do tham lam tật đố, chúng sanh tàn hại lẫn nhau. Con nay nghe những điều Phật dạy, mê hoặc đă trừ, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa.”

Rồi Đế Thích bạch Phật:

“Hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên con đường diệt trừ điệu hư chăng? Hay không ở trên con đường diệt trừ điệu hư?"?”

Phật nói:

“Không phải hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên con đường diệt trừ điệu hư. Sở dĩ như vậy, này Đế Thích, v́ thế gian có nhiều chủng loại giới khác nhau. Mỗi chúng sanh y trên giới của ḿnh, ôm giữ chặt cứng, không thể dứt bỏ; cho rằng điều của ḿnh là thật, ngoài ra là dối. V́ vậy, Đế Thích, không phải hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên con đường diệt trừ điệu hư”..”

Đế Thích liền bạch Phật:

“Thật vậy, Thế Tôn, thế gian có nhiều chủng loại giới khác nhau. Mỗi chúng sanh y trên giới của ḿnh, ôm giữ chặt cứng, không thể dứt bỏ; cho rằng điều của ḿnh là thật, ngoài ra là dối. V́ vậy, không phải hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên con đường diệt trừ điệu hư. Con nay nghe những điều Phật dạy, mê hoặc đă trừ, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa.”

Đế Thích lại bạch Phật:

“Trong chừng mực nào là con đường diệt trừ điệu hư?”

Phật bảo Đế Thích:

“Điệu hư có ba; một là miệng, hai là tưởng, ba là cầu. Những ǵ do miệng người nói, hại ḿnh, hại người, hại cả hai; xả bỏ lời nói ấy. Như những ǵ được nói không hại ḿnh, không hại người, không hại cả hai; Tỳ-kheo biết thời, đúng như những điều được nói, chuyên niệm không tán loạn. Tưởng cũng hại ḿnh, hại người, hại cả hai; xả bỏ tưởng ấy. Đúng như những ǵ được tưởng mà không hại ḿnh, không hại người, không hại cả hai; Tỳ-kheo biết thời, đúng như những điều được tưởng, chuyên niệm không tán loạn. Đế Thích, cầu cũng hại ḿnh, hại người, hại cả hai; sau khi xả bỏ cầu ấy, đúng những ǵ được t́m cầu, không hại ḿnh, không hại người, không hại cả hai, Tỳ-kheo biết thời đúng như những ǵ được t́m cầu chuyên niệm không tán loạn”.”

Bấy giờ, Đế Thích bạch Phật:

“Con nghe những điều Phật dạy, không c̣n hồ nghi nữa”.”

Lại hỏi:

“Trong chừng mực nào th́ gọi là Xả tâm của Hiền thánh?”

Phật nói với Đế Thích:

“Xả tâm có ba: một là hỷ thân, hai là ưu thân, ba là xả thân. Đế Thích; hỷ thân kia hại ḿnh, hại người, hại cả hai. Sau khi xả bỏ hỷ ấy, như điều được hoan hỷ, không hại ḿnh, không hại người, không hại cả hai; Tỳ-kheo biết thời, chuyên niệm không tán loạn, liền được gọi là thọ giới Cụ túc. Đế Thích, ưu thân kia hại ḿnh, hại người, hại cả hai. Sau khi xả bỏ ưu ấy, như điều ưu tư, không hại ḿnh, không hại người, không hại cả hai, Tỳ-kheo biết thời, chuyên niệm không tán loạn, liền được gọi là thọ giới Cụ túc. Lại nữa, Đế Thích, xả thân kia hại ḿnh, hại người, hại cả hai. Sau khi xả bỏ xả thân ấy, như điều được xả, không hại ḿnh, không hại người, không hại cả hai, Tỳ-kheo biết thời, chuyên niệm không tán loạn, liền được gọi là thọ giới Cụ túc”.”

Đế Thích bạch Phật:

“Con nghe những điều Phật dạy, không c̣n hồ nghi nữa”.”

Lại bạch Phật:

“Trong chừng mực nào th́ được gọi là sự đầy đủ các căn của bậc Hiền thánh??”

Phật bảo Đế Thích:

“Con mắt biết sắc, Ta nói có hai: đáng thân và không đáng thân. Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm ư biết pháp, Ta nói có hai: đáng thân và không đáng thân”.”

Đế Thích bạch Phật:

“Thế Tôn, Như Lai nói vắn tắt mà không phân biệt rộng răi. Theo chỗ hiểu biết đầy đủ của con th́ như thế này: Mắt biết sắc, Ta nói có hai: đáng thân và không đáng thân. Tai nghe tiếng, mũi ngửữi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư biết pháp, Ta nói có hai: đáng thân và không đáng thân. Thế Tôn, như con mắt quán sát sắc, mà pháp thiện tổn giảm, pháp bất thiện tăng. Mắt thấy sắc như thế, Ta nói không đáng thân. Tai nghe tiếng, mũi ngửữi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư biết pháp, mà pháp thiện tổn giảm, pháp bất thiện tăng trưởng, Ta nói không đáng thân. Như mắt biết sắc mà pháp thiện tăng trưởng, pháp bất thiện giảm; sự biết sắc của mắt như vậy, Ta nói đáng thân. Tai nghe tiếng, mũi ngửữi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư biết pháp, mà pháp thiện tăng trưởng, pháp bất thiện tổn giảm, Ta nói đáng thân”.”

Phật bảo Đế Thích:

“Lành thay, lành thay, đó gọi là sự đầy đủ các căn của Hiền thánh”.”

Đế Thích bạch Phật:

“Con nghe những điều Phật nói, không c̣n hồ nghi nữa.”

Lại bạch Phật:

“Trong chừng mực nào Tỳ-kheo được nói là cứu cánh, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh an ổn, cứu cánh vô dư?”

Phật bảo Đế Thích:

“Thân bị khổ bởi ái đă diệt tận, là cứu cánh, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh an ổn, cứu cánh vô dư.”.”

Đế Thích bạch Phật:

“Những mối hoài nghi mà con ôm ấp lâu dài nay đă được Như Lai mở bày, không c̣n ǵ nghi ngờ nữa”.”

Phật nói với Đế Thích:

“Trước đây ngươi có bao giờ đi đến các Sa-môn, Bà-la-môn hỏi ư nghĩa này chưa?”

Đế Thích bạch Phật:

“Con nhớ lại, thuở xưa, con đă từng đến Sa-môn, Bà-la-môn để hỏi nghĩa này. Xưa, có một thời, chúng con tập họp tại giảng đường, cùng các Thiên chúng bàn luận: Như Lai sẽ ra xuất hiện ở đời chăng? Chưa xuất hiện ở đời chăng? Rồi chúng con cùng suy t́m, không thấy có Như Lai xuất hiện ở đời. Mỗi vị trở về cung điện của ḿnh, hưởng thụ ngũ dục. Thế Tôn, về sau, con lại thấy các Đại Thiên thần sau khi tự thỏa măn với ngũ dục, dần dần từng vị mạng chung. Lúc ấy, bạch Thế Tôn, con rất kinh sợ, lông tóc dựng đứng. Khi gặp các Sa-môn, Bà-la-môn sống nơi thanh vắng, ĺa bỏ gia đ́nh, ĺa bỏ dục lạc, con bèn t́m đến hỏi họ rằng: Thế nào là cứu cánh? Con hỏi ư nghĩa ấy, nhưng họ không thể trả lời. Đă không thể trả lời, họ hỏi ngược lại con: Ông là ai? Con liền đáp: Tôi là Thích Đề-hoàn Nhân. Kia lại hỏi: Ông là Thích nào?Con đáp: Tôi là Thiên Đế Thích. Trong ḷng có mối nghi nên đến hỏi. Rồi con và vị ấy theo chỗ thấy biết của ḿnh cùng giải thích ư nghĩa. Kia nghe con nói, kia lại nhận làm đệ tử của con. Nay con là đệ tử Phật, chứng đắc Tu-đà-hoàn đạo, không c̣n đọa cơi dữ; tái sanh tối đa bảy lần tất thành đạo quả. Cúi mong Thế Tôn thọ kư con là Tư-đà-hàm”.”

Nói xong, Đế Thích lại làm bài tụng:

Do kia nhiễm uế tưởng ,

Khiến con sanh nghi ngờ.

Cùng chư Thiên, lâu dài

Suy t́m đến Như Lai.

Gặp những người xuất gia

Thường ở nơi thanh vắng,

Tưởng là Phật Thế Tôn,

Con đến cúi đầu lễ.

Con đến và hỏi họ

“Thế nào là cứu cánh?”

Hỏi, nhưng không thể đáp,

Đường tu đi về đâu.

Ngày nay đĐấng Vô Đẳng,

Mà con đợi từ lâu,

Đă quán sát, thực hành,

Tâm đă chánh tư duy.

Đấng Tịnh Nhăn đă biết

Sở hành của tâm con

Và nghiệp tu lâu dài,

Cúi mong thọ kư con.

Quy mạng Đấng Chí Tôn,

Đấng siêu việt tam giới,

Đă bứt gai ân ái.

Kính lễ Đấng Nhật Quang.

Phật bảo Đế Thích:

“Ngươi có nhớ trước đây khi ngươi có hỷ lạc, cảm nghiệm lạc chăng? “?”

Đế Thích đáp:

“Đúng vậy, Thế Tôn. Con nhớ hỷ lạc, cảm nghiệm lạc mà con có trước đây. Thế Tôn, xưa có lần con đánh nhau với A-tu-la. Khi đó con chiến thắng, A-tu-la bại trận. Con trở về với sự hoan hỷ, cảm nghiệm lạc. Nhưng hoan hỷ ấy, cảm nghiệm lạc ấy duy chỉ là hỷ lạc của dao gậy uế ác, là hỷ lạc của đấu tranh. Nay hỷ lạc, cảm nghiệm lạc mà con có được ở nơi Phật không phải là hỷ lạc của dao gậy, của đấu tranh”.”

Phật hỏi Đế Thích:

“Hỷ lạc, cảm nghiệm lạc mà ngươi có hiện nay, trong đó muốn t́m cầu những kết quả công đức ǵ?”

Bấy giờ, Đế Thích bạch Phật:

“Con ở trong hỷ lạc, cảm nghiệm lạc, muốn t́m cầu năm kết quả công đức. Những ǵ là năm? “Rồi Đế Thích liền đọc bài kệ:

Nếu sau này con chết,

Xả bỏ tuổi thọ trời,

Đầu thai không lo lắng,

Khiến tâm con hoan hỷ.

Phật độ người chưa độ;

Hay nói đạo chân chánh;

Ở trong pháp Chánh giác,

Con cần tu phạm hạnh.

Sống với thân trí tuệ,

Tâm tự thấy chân đế;

Chứng đạt điều cần chứng,

Do thế sẽ giải thoát .

Nhưng phải siêng tu hành,

Tu tập chơn trí Phật.

Dù chưa chứng đạo quả;

Công đức vẫn hơn trời.

Các cơi trời thần diệu,

A-ca-ni, vân vân;

Cho đến thân cuối cùng,

Con sẽ sanh nơi ấy.

Nay con ở nơi này,

Được thân trời thanh tịnh;

Lại được tuổi thọ tăng;

Tịnh nhăn, con tự biết.

Nói bài kệ xong, Đế Thích bạch Phật:

“Con ở trong hỷ lạc, cảm nghiệm lạc, mà được năm kết quả công đức như vậy”.”

Bấy giờ Đế Thích nói với chư Thiên Đao-lợi:

“Các ngươi ở trên trời Đao-lợi đă cung kính hành lễ trước Phạm đồng tử. Nay trước Phật lại cũng hành lễ cung kính như vậy, há không tốt đẹp sao?”

Nói xong, phút chốc Phạm đồng tử bỗng xuất hiện giữa hư không, đứng bên trên các Thiên chúng, hướng về phía Đế Thích mà đọc bài kệ rằng:

Thiên vương hành thanh tịnh,

Nhiều lợi ích chúng sanh;

Ma-kiệt, Chúa Đế Thích,

Hỏi Như Lai ư nghĩa.

Bấy giờ, Phạm đồng tử sau khi nói kệ, bỗng nhiên biến mất. Khi ấy Đế Thích rời chỗ ngồi đứng dậy, lễ dưới chân Thế Tôn, đi quanh Phật ba ṿng, rồi lui về. Chư Thiên Đao-lợi cùng Ban-giá-dực cũng lễ dưới chân Phật rồi lui về.

Thiên Đế Thích đi trước một đỗi, quay lại nói với Ban-giá-dực:

“Lành thay, lành thay! Ngươi đă đi trước đến gảăy đàn trước Phật cho vui vẻ, sau đó ta mới cùng chư Thiên Đao-lợi đến sau. Ta nay bổ ngươi vào địa vị của cha ngươi, làm thượng thủ trong các Càn-đạp-ḥa và sẽ gảă Bạt-đ con gái của vua Càn-đạp-ḥa cho ngươi làm vợ”.”

Khi Thế Tôn nói pháp này, tám vạn bốn ngàn chư Thiên xa ĺa trần cấu, con mắt Chánh pháp phát sanh đối với các pháp.

Bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhân, chư Thiên Đao-lợi và Ban-giá-dực sau khi nghe những điều Phật dạy hoan hỷ phụng hành.

-o0o-

 

previous.png   back_to_top.png   next.png

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

google-site-verification=Iz-GZ95MYH-GJvh3OcJbtL1jFXP5nYmuItnb9Q24Bk0