佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Số 0085

PHẬT NÓI KINH

NHÂN DUYÊN CHẤM DỨT ĐẤU TRANH

Hán dịch: Tống Thí Hộ

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

---o0o---   

Tôi nghe như vầy:

Một thời Thế Tôn ở trong xóm làng của Xá Ma Ca Tử, vào hạ an cư. Các chúng Bí Sô ở cách Phật không xa cũng đều an cư.

Bấy giờ có Sa Môn tên là Tôn Na, cũng an cư vào hạ ở trong rừng Nhạ Lô Ca. Ở đó có ngoại đạo Ni tên là Đàn Nhạ Đề Tử, là người cực ác, bỗng nhiên mạng chung. Ni Càn Đà ấy có một người con muốn khởi đấu tranh với Sa Môn. Nói như vầy:

–Pháp luật của ta chỉ có ta tự biết, chẳng phải là chỗ ngươi biết được. Pháp luật của ngươi chỉ có ngươi tự biết, cũng chẳng phải là chỗ ta biết. Những pháp của ta tất cả đều như lư. Những pháp của ngươi đều phi lư. Pháp của ta là ḥa hợp, pháp của ngươi là không ḥa hợp. Những điều ngươi nói, lời trước dẫn trúng, lời sau liền sai. Lời sau có thể trúng th́ lời trước liền sai. Những lời ngươi nói đều chẳng có ư nghĩa và lợi ích. Không nắm bắt được. Tuy ngươi có nói rộng mấy cũng không thể giải thoát, cũng không thể biết thật nghĩa tối thượng được, nghĩa là những điều Sa Môn nói không giống với pháp của ta. Làm sao có thể khiến cho tâm ta giải thoát cho được?

Ni Càn Đà Tử cố nói lời này nhằm mục đích khởi sự phá hoại, muốn đấu tranh làm tổn giảm lực lượng, dùng duyên khổ năo để phá hoại pháp an lạc. Do nhân duyên ấy, đối với trong pháp thanh bạch của Sa Môn khởi lên nghiệp bất thiện, nhằm hưng khởi sự đấu tranh, phá hoại đủ thứ, sanh tâm ngă mạn, gọi đó là thắng người khác, mới nói:

–Những điều Sa Môn nói điều phi pháp luật, bất chơn chánh hiểu rơ, không thể xuất ly, đối với đạo Bồ Đề không thể đạt được. Thầy của ngươi chẳng phải là Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bấy giờ Sa Môn Tôn Na vào hạ đă măn, may y đă xong, liền rời khỏi xứ đó, mang y cầm bát thứ lớp mà đi, vào làng xóm của Xá Ma Ca Tử, đến rồi cất y bát, rửa chân, đi đến chỗ của Tôn Giả A Nan, đầu mặt dưới chân Tôn giả rồi đứng qua một bên. Khi ấy Tôn giả A Nan hỏi Sa Môn Tôn Na rằng :

–Này Tôn Na, ông an cư mùa hạ ở nơi nào? Lại do duyên ǵ mà lại đến đây?

 Tôn Na thưa rằng :

–Thưa Tôn giả, con ở trong rừng Nhạ Lô Ca, nơi ác xứ để an cư vào hạ. Ở đó ngoại đạo Ni Càn Đà Nhạ Đề Tử là người cực ác, bỗng nhiên mạng chung. Ni Càn Đà có một người con muốn khởi lên sự tranh đấu đối với Sa Môn... cho đến nó nói:

–Thầy của ngươi chẳng phải là Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh giác. Do nhơn duyên ấy con đến đây.

Ngài A Nan nói rằng :

–Này Tôn Na, ta biết việc này, v́ đức Phật Thế Tôn không ở trong chúng, cho nên mới có ngoại đạo hưng khởi sự đấu tranh. Bây giờ ông không được tranh đấu cùng họ, nếu khởi sự đấu tranh liền không có lợi ích cho nhiều người, lại khiến cho nhiều người sanh ra các phiền năo, cho đến các chúng thiên nhân đều chẳng có lợi ích, đều sanh khổ năo. Như những điều Tô Nan đă nói, chỉ có đức pháp Thế Tôn mới thấy biết tất cả. Nay ta cùng người đều đi đến chỗ đức Phật tŕnh bày hết việc này.

Tôn Na thưa rằng:

–Lành thay, thưa Tôn giả. Nếu được gặp Phật, con sẽ được nhiều lợi ích. Lại ở chỗ Phật có thể nghe được chánh pháp sâu xa.

Bấy giờ Tôn giả A Nan cùng sa môn Tôn Na đồng đi đến chỗ của Phật, khi đến lạy dưới chân đức Phật rồi đứng qua một bên. Khi ấy Tôn giả A Nan đến phía trước bạch đức Phật rằng:

–Thưa Thế Tôn, sa môn Tôn Na này an cư mùa hạ trong rừng Nhạ Lô Ca. Ở đó có ngoại đạo Ni Càn Đà Nhạ Đề Tử, là người cực ác, bỗng nhiên mạng chung. Ni Càn có một người con muốn khởi lên sự đấu tranh đối với sa môn... cho đến nó nói rằng: “Thầy của ngươi chẳng phải là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng Chánh giác”. Do nhơn duyên đó cho nên sa môn này mới đến nói với con. Thưa Thế Tôn, bấy giờ con bảo Tôn Na rằng: “V́ đức Phật Thế Tôn không ở trong chúng cho nên mới có ngoại đạo muốn hưng khởi đấu tranh. Vậy bây giờ ông không được tranh cải cùng họ. Nếu khởi sự đấu tranh liền không có lợi ích cho nhiều người, lại khiến cho nhiều người sanh ra khổ năo, cho đến các chúng trời, người đều không có lợi ích, đều sanh khổ năo”.

Đức Phật bảo Ngài A Nan:

-Ngươi thấy duyên ǵ mà nói “Đức Phật không ở trong chúng cho nên có bọn ngoại đạo khởi lên sự đấu tranh”?

Tôn giả A Nan thưa với Phật:

–Thưa Thế Tôn, vào một thời con thấy có hai Bí sô  được đức Phật khen ngợi là hai Bí sô khéo tŕ luật pháp, thực hành oai nghi theo thứ lớp ở một chỗ. Lúc ấy con thấy như vậy rồi, gọi họ lại nói rằng: “Này hai Bí sô, không nên hiện tướng oai nghi như vậy. Đức Phật không ở trong chúng, hoặc có ngoại đạo thấy tướng này rồi khởi lên sự đấu tranh. Nếu khởi lên sự đấu tranh liền khiến cho nhiều người...cho đến các chúng trời người đều không có lợi ích, đều sanh ra khổ năo”. Con nhớ lại duyên này nên mới nói với Sa môn Tôn Na như vậy.

Đức Phật bảo Tôn giả A Nan:

–Ư ngươi thế nào?

Tôn giả A Nan bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn, đối với việc này con không thể biết rơ.

Đức Phật bảo Tôn giả A Nan:

–Ta dùng tự trí biến thành chánh giác, ở trong khoảng giữa có rộng thuyết của pháp. Đó là Tứ niệm xứ, Tứ chánh đoạn, Tứ thần túc, Ngũ căn Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo. Những pháp như vậy ta đă tuyên thuyết, ta biết tất cả, ta thấy tất cả. Này A Nan, đa số các ngoại đạo đối với chúng Bí sô khởi lên sự đấu tranh này, ngươi có thể biết chăng?

Tôn giả A Nan bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn, con không thể biết được.

Đức Phật bảo Tôn giả A Nan:

–Đó là có Bí sô đối với giới có khi tăng, hoặc có khi giảm. Đối với oai nghi có khi tăng hoặc có khi giảm. Này A Nan, nếu giới và oai nghi mà có khi tăng giảm liền làm mất thường pháp, tùy theo chỗ sở hành mà có ngoại đạo thấy việc đó rồi liền khởi ra sự đấu tranh. Nếu sự đấu tranh khởi ra liền khiến cho nhiều người...cho đến các chúng trời, người chẳng có lợi ích, đều sanh khổ năo. V́ sao vậy? Này A Nan, các bọn ngoại đạo Ni Càn Đà chẳng phải là Nhất Thiết Trí, cũng chẳng phải là chơn thật đối với tất cả xứ, tất cả sở kiến đều chẳng thanh tịnh, cho nên họ thường ưa khởi ra sự đấu tranh. Này A Nan, nên biết các chúng bí sô khi khởi lên sự đấu tranh, do có các thứ căn bản đấu tranh.

Tôn giả A Nan bạch đức Phật:

–Lành thay, thưa Thế Tôn! Lành thay, thưa thiện thệ. Nay đă đúng lúc, cúi mong đức Phật tuyên thuyết về căn bản của sự đấu tranh, khiến cho các bí sô nghe rồi ghi nhớ, thọ tŕ, thường xa ĺa sự lỗi lầm.

Đức Phật bảo Tôn giả A Nan:

Các ngươi hăy lắng nghe, như lư tác ư, hăy khéo nhớ nghĩ. Nay ta sẽ nói cho. Này A Nan, nếu có bí sô khởi tâm phẫn nộ, do tâm phẫn nộ cho nên đối với sư Trưởng không sanh tâm cung kính, tôn trọng, cũng không thể tôn thờ, cúng dường. Do không cung kính Sư trưởng cho nên liền không thấy pháp. V́ không thấy pháp cho nên đối với trong chúng bí sô không quán sát chơn chánh. Do không quán sát chơn chánh cho nên khởi ra sự đấu tranh. Do đấu tranh khởi ra liền khiến cho nhiều người...cho đến chúng trời, người đều không có lợi ích, đều sanh ra khổ năo. Lại có Bí sô đối với trong và ngoài đều chấp cho là có, cho là thật, quán sát, chú ư, tích tập, vui mừng với các tác ư, tà ư cực ác, bộc phát ra tà động, buông ra tà vọng ngữ, dẫn khởi sự đấu tranh. Như vậy vọng niệm bất chánh tri, khởi ra sự không tương ứng...cho đến đối với duyên của sự đấu tranh không thể đoạn diệt được. Này A Nan, những việc như vậy là căn bản của sự đấu tranh, cho nên sanh ra các khổ năo. Nhân của khổ năo là do trước tiên khởi ra tâm phẩn nộ. Như vậy lại khởi ra sự che lấp, dối láo, dèm pha, ganh ghét, xan tham, không hổ, không thẹn, bất chánh tri và kiến thủ...và các ức niệm chấp trước tà vọng, do các ác nhân duyên như vậy, đối với Sư trưởng không khởi các tâm cung kính tôn trọng, cũng lại không thể tôn thờ sự cúng dường. Do không tôn kính Sư trưởng của ḿnh cho nên liền không thấy pháp. V́ không thấy pháp cho nên liền đối với chúng Bí sô không quan sát chơn chánh. Do không quan sát chơn chánh cho nên mới khởi ra sự tranh đấu.

Này A Nan, như điều ta nói, các duyên như vậy đều là căn bản của sự đấu tranh. Do nhân duyên này, nếu lúc đấu tranh khởi ra, có bảy pháp để diệt sự đấu tranh, như ta đă nói, này A Nan, Có các việc tranh đấu đă khởi sanh hay chưa khởi sanh đều có thể chấm dứt tiêu diệt. Những ǵ là bảy? Đó là: Hiện tiền tỳ ni, Ức niệm tỳ ni, Bất si tỳ ni, Tự ngôn trị, Đa nhân ngữ, Tri sở tác, Như thảo phú địa. Đó là bảy.

Thế nào gọi là Hiện tiền tỳ ni diệt tránh pháp? Này A Nan, cái gọi là một người v́ một người thuyết pháp tỳ ni, một người v́ hai người thuyết, một người v́ nhiều người thuyết, một người v́ đại chúng thuyết. Hiện tiền thành bốn. Hai người v́ một người thuyết pháp tỳ ni, hai người v́ một người thuyết, hai người v́ nhiều người thuyết, hai người v́ đại chúng thuyết. Hiện tiền thành bốn. Nhiều người v́ một người thuyết pháp tỳ ni, nhiều người v́ hai người thuyết, nhiều người v́ đại chúng thuyết. Hiện tiền thành bốn. Đại chúng v́ một người thuyết pháp tỳ ni, đại chúng v́ hai người thuyết, đại chúng v́ nhiều người thuyết, đại chúng v́ đại chúng thuyết. Hiện tiền thành bốn. Như vậy gọi là Hiện tiền tỳ ni diệt tránh pháp. Do pháp này nên khiến cho sự đấu tranh được chấm dứt, tiêu diệt.

Sao gọi là Ức niệm tỳ ni diệt tránh pháp? Này A Nan, đó là có Bí sô tùy theo sự phạm tội rồi nhưng không tự nhớ được. Các Bí sô khác nói rằng: “Ngươi phạm tội này phải nên nhớ lại, đối với đại chúng cầu xin đại chúng làm pháp Ức niệm tỳ ni”. Vị Bí sô ấy liền vào trong chúng cầu xin đại chúng làm pháp Ức niệm tỳ ni. Bấy giờ đại chúng như Đại sư dạy ban cho pháp Ức niệm tỳ ni. Vị Bí sô ấy đă xuất tội rồi, diệt trừ sự đấu tranh. Như vậy gọi là Ức niệm tỳ ni diệt tránh pháp. Nhờ pháp này nên khiến cho việc đấu tranh được tiêu diệt.

Sao gọi là Bất si tỳ ni diệt tránh pháp? Này A Nan, đó là nếu có Bí sô si cuồng tâm loạn do đau năo gây ra. Tuy được nghe nhiều nhưng không thể thuận hành với pháp đă nghe, trái lại nói tạp loạn, nói như vậy rồi bỏ chúng mà đi. Bí sô ấy về sau tâm lư được b́nh thường trở lại, các Bí sô khác nói rằng: “Người phạm tội này nên vào trong chúng cầu xin đại chúng làm pháp Bất si tỳ ni”. Bí sô ấy liền vào trong chúng cầu xin đại chúng làm pháp Bất si tỳ ni. Bấy giờ đại chúng như lời Đại sư dạy, ban cho vị ấy pháp Bất si tỳ ni. Vị Bí sô ấy được xuất tội rồi, diệt trừ sự đấu tranh. Như vậy gọi là Bất Si tỳ ni diệt tránh pháp. Nhờ pháp này nên có thể khiến cho sự đấu tranh được chấm dứt.

Sao gọi là Tự  ngôn trụ diệt tránh pháp? Này A Nan, đó là nếu có Bí sô không biết tội tướng, nói rằng: “Biết nhiều, hiểu nhiều, lại ở trong chúng phát ngôn như vầy: Tôn giả, tôi đối với mọi sự lợi dưỡng khó mà đạt được”. Các Bí sô khác bảo rằng: “Ngươi đối với tội tướng, không biết, không hiểu mà nói biết nhiều, hiểu rộng. Ngươi phạm tội này, nên đối chúng cầu xin đại chúng sám hối, tạ tội”. Vị Bí sô ấy liền vào trong chúng cầu xin đại chúng  thương xót rồi tự hối trách. Bấy giờ đại chúng như lời Đại sư dạy, ban cho pháp Tự ngôn trị. Vị Bí sô được xuất tội rồi, sự tranh đấu liền chấm dứt. Do nhờ pháp này có thể khiến cho sự đấu tranh được chấm dứt.

Sao gọi là Đa nhân ngữ diệt tránh pháp ? Này A Nan, đó là nếu hai Bí sô cùng ở một chỗ, sự đấu tranh bỗng nhiên khởi ra, buông ra nhiều lời đưa đến sự tranh luận dữ dội. Ai cũng chấp vào lời nói của ḿnh: có lời nói đúng pháp, có lời nói phi pháp, có lời nói đúng luật, có lời nói sai luật, có lời nói có tội, có lời nói không có tội. Khi có sự đấu tranh của hai Bí sô ấy chấm dứt th́ tốt, nếu không chấm dứt th́ hai vị Bí sô ấy phải ĺa trụ xứ của ḿnh, đến chỗ khác rồi c̣n khởi sự đấu tranh, ĺa chỗ này rồi, nếu có thể nữa đường mà chấm dứt sự đấu tranh là tốt, nếu không chấm dứt được, nhiều chúng Bí sô hợp lại để diệt sự đấu tranh. Có vị dùng kinh để phân biệt nói, có vị dùng luật để phân biệt nói, có vị dùng Ma Đát Lư Ca (Luận tạng) để phân biệt thuyết. Nhờ có nhiều người phân biệt thuyết, cho nên sự đấu tranh của hai bí sô được chấm dứt. Như vậy gọi là đa nhân ngữ diệt tránh pháp. Nhờ pháp này cho nên khiến sự tranh chấp được chấm dứt.

Sao gọi tri sở tác diệt tránh pháp? Này A Nan, đó là nếu Bí sô tùy theo sự phạm tội rồi tự biết đă phạm, hoặc nói cho người khác biết, hoặc không nói cho người khác biết, như người tự nhớ nghĩ rồi đi đến chỗ Tỳ kheo khác, cởi giày da ra, đứng trước Bí sô ấy, trạch vai áo, gối bên phải quỳ dưới đất, ba lần xưng tên họ rồi thưa rằng: “Tôi phạm tội ấy, không dám che dấu, đi đến tôn giả cầu xin sám hối. Cúi mong tôn giả hoan hỷ bố thí”. Bấy giờ vị tôn giả kia liền nhận sự sám hối đó. Vị Bí sô ấy được thanh tịnh rồi, tôn giả kia nói rằng : “ Ngươi thấy tội tướng này chăng?” .Bí sô đáp: “Tôi đă thấy tội tướng này”. Tôn giả lại nói “Ngươi nên như pháp mà phụng tŕ luật nghi”. Nói lên ba lần vậy. Đó gọi là Tri Sở tác diệt tránh tội. Nhờ pháp này cho nên khiến cho sự tranh chấp được chấm dứt.

 Sao gọi là Như Thảo phú địa diệt tránh pháp? Này A Nan, đó là các chúng Bí sô cùng ở tại một chỗ, cùng khởi lên sự đấu tranh, chia làm hai nhóm. Bấy giờ trong một nhóm. Những người lớn tuổi ở một chỗ với người lớn tuổi, người biết pháp  ở một chỗ với người biết pháp, thượng thủ ở một chỗ với thượng thủ. Ở trong nhóm đó có Bí sô v́ lợi dưỡng cho nên khởi ra sự đấu tranh. Khởi lên sự đấu tranh rồi, đối với trong chúng ḿnh nói như vậy: “Nhà bạch y ở xứ kia dễ được lợi dưỡng. Tôi ở trong đó như pháp luật mà thuyết”. Có Bí sô khác v́ do duyên này nên đối với tôi mới khởi ra tranh chấp. Này chư đại đức, nếu tôi v́ việc này mà phạm tội tranh chấp, mong các đại đức bỏ tội này cho tôi, cho đến tôi cố ư vào nhà bạch y, cũng đều xin sám hối trừ bỏ. V́ phạm tội Đột Kiết Ta, tôi từ nay về sau không làm việc này nữa, nếu có làm tôi sẽ đến các đại đức  cầu xin sám hối. Nếu tôi có làm th́ không dám che dấu”. Khi Bí sô này làm pháp sám hối này, mà nếu khi tự trong nhóm chỉ có một Bí sô không chấp nhận cho sám hối, vị Bí sô ấy liền vào nhóm khác, cởi bỏ dép da, trạch vai áo, theo thượng tọa kỳ hiên (lớn tuổi), thứ lớp hỏi thăm rồi trở lại đứng trước vị thượng tọa, quỳ gối bên phải, đứng chấp tay bèn bạch chúng rằng: “ Thưa chư đại đức, nhà bạch y ở chỗ kia để được lợi dưỡng, con ở trong đó như pháp luật mà thuyết. Có Bí sô khác v́ nhân duyên này nên khởi ra tranh tụng với con, con liền ở trong chúng như pháp mà xin sám hối. Bấy giờ ở trong chúng có một vị Bí sô không chấp nhận cho con sám hối, cho nên con đến dây cầu xin sám hối. Thưa đại đức, nếu con do việc này mà phạm tội tranh chấp, xin các đại đức xuất bỏ việc này cho con...cho đến con từ nhà bạch y đi ra, cũng đều xin sám hối, tiêu trừ tội phạm Đột Kiết La. Cho nên hôm nay đối trước các đại đức cầu xin sám hối. Những điều con làm không dám che dấu. Cúi xin chư đại đức hoan hỷ bố thí cho sự sám hối của con.

Bấy giờ đại chúng kia liền chấp nhận sự sám hối vị Bí sô kia được thanh tịnh rồi. Vị thượng tọa ấy nói rằng: “Ngươi thấy tội tướng này chăng?”. Bí sô đáp: “Con đă thấy tội tướng này.” Vị thượng tọa nói: “Ngươi nên như pháp phụng tŕ luật nghi”. Nói ba lần như vậy. Bấy giờ trong nhóm bên kia cũng như nhóm bên này: vị lớn tuổi ở một chỗ với vị lớn tuổi, vị biết pháp ở một chỗ với vị biết pháp, thượng thủ ở một chỗ với thượng thủ. Khi ấy ở trong nhóm có Bí sô v́ lợi dưỡng cho nên khởi ra sự tranh chấp. Đă khởi ra sự tranh chấp rồi, ở trong chúng ḿnh tự nói như vầy: “Ở nhà bạch y kia nể được lợi dưỡng. Con ở trong đó như pháp luật mà thuyết. Có Bí sô khác v́ nhân duyên này nên khởi ra sự tranh đấu. Như vậy cho đến lần thứ hai, thứ ba, hỏi-đáp những việc nhiều như đă nói ở trước.

Này A Nan, tất cả Bí sô biết tự ḿnh có phạm, qua lại tŕnh bày sám hối rồi, cùng nhau thăm hỏi, cung kính hỏi han, liền diệt trừ nhân duyên đấu tranh, đ́nh chỉ các lời tranh luận, không c̣n một chút pháp nào khởi lên phân biệt nữa, như vậy gọi là Như thảo phú địa diệt tránh pháp. Nhờ pháp này cho nên có thể khiến cho sự tranh chấp được chấp dứt.

Này A Nan, bảy pháp diệt tránh như vậy, các Bí sô, các ngươi phải nên ghi nhớ.

Lại nữa, này A Nan, có sáu thứ Hoà Kỉnh pháp các ngươi hăy lắng nghe, như lư tác ư, hăy khéo ghi nhớ, nay ta sẽ nói cho các ngươi. Những ǵ là sáu?

–Đó là thân nghiệp làm việc từ ḥa, thường ở chỗ Phật tịnh tu phạm hạnh, đối với các pháp tôn trọng kính lễ, như lư tu hành. Đối với các chúng Bí sô cùng ở ḥa hiệp. Đó gọi là pháp ḥa kính của thân nghiệp.

–Lại nữa, đối với ngữ nghiệp nói lời từ ḥa không nói lời đấu tranh chống trái. Đó gọi là pháp ḥa kính của ngữ nghiệp.

–Lại nữa, đối với ư nghiệp khởi ra ư nghĩ từ ḥa, không có chống trái. Đó gọi là pháp ḥa kính của ư nghiệp.

–Lại nữa, nếu được sự lợi ích của pháp và sự lợi dưỡng của thế gian đều thọ lănh như nhau. Hoặc có lúc ôm bát thứ lớp khất thực, tùy theo sự được đồ ăn uống các vật, phải thưa cho chúng biết, cùng chúng đồng thọ, chớ dấu dùng riêng. Nếu chúng đồng biết, tức đồng phạm hạnh. Đó gọi là pháp lợi ḥa kính.

–Lại nữa, đối với giới không phá, không đoạn, giới lực kiên cố, ĺa cấu uế, được thanh tịnh rồi biết thời, biết xứ, b́nh đẳng phổ biến, thọ nhận đồ ăn uống của tín thí cúng dường. Như vậy tịnh giới cùng nhau tu, cùng nhau hiểu biết, đồng tu phạm hạnh. Đó gọi là pháp giới ḥa kính.

-Lại nữa, nếu thấy đạo thánh trí đưa đến chứng ngộ xuất ly, cho đến tận cùng biên giới của sự khổ, đối với tướng như vậy, thấy như thật rồi cùng nhau làm việc, cùng nhau hiểu biết, cùng tu phạm hạnh. Đó gọi là pháp kiến ḥa kính.

Những pháp như vậy gọi là pháp Lục ḥa kính.

Này A Nan, như  trước ta đă nói về căn bản của sự đấu tranh. Hỡi các Bí sô, hăy nên đoạn trừ. Đối với bảy pháp diệt tránh cần phải biết rơ. Các việc tranh chấp hoặc đă khởi ra, đều khiến cho nó chấm dứt. Hăy cùng nhau tu pháp Lục ḥa kính. Này các Bí sô, nếu thực hành như vậy th́ dù ở Đông, Tây, Nam, Bắc, tùy đi đến đâu, hoặc đi, hoặc ở, đều khiến cho các Bí sô được an lạc, xa ĺa các sự tranh chấp. Cho đến sau khi ta nhập Niết Bàn cũng khiến cho các chúng Bí sô, dù ở nơi đâu cũng thường được an lạc như ta hiện tại ở đời thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh, chẳng khác ǵ cả.

PHẬT NÓI KINH

NHÂN DUYÊN CHẤM DỨT ĐẤU TRANH

 

 

 

back_to_top.png

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

 

google-site-verification=Iz-GZ95MYH-GJvh3OcJbtL1jFXP5nYmuItnb9Q24Bk0