* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ | KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ |HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Số 0045

PHẬT NÓI KINH VUA ĐẠI CHÁNH CÚ

Hán dịch:  Đời Tống Tây Thiên Tam Tạng Triều Tán Đại phu Thí Quang Lộc Khanh. Minh Giáo Đại Sư và Pháp Hiền.

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

--- o0o ---

QUYỂN THƯỢNG

 

Trang Chủ

Kinh Điển

Đại Tạng Kinh

Thần Chú

Hình Ảnh

Liên Lạc

 

Số 0045

PHẬT NÓI KINH VUA ĐẠI CHÁNH CÚ 2 Quyển
Quyển thượng
Quyển hạ

 

Tôi nghe như vầy : Một thời tôn giả Đồng tử Ca Diếp ở nước Câu Tát La, tuần tự du hành dừng chân ở trong vườn Lộc dă của rừng Thi Lợi Sa phía Bắc của đại thành Thi Lợi Sa.

Bấy giờ có vị vua tên là Đại Chánh Cú, đóng đô ở thành Thi Lợi Sa. Nhà vua trước đây không tin nhân quả thường nói như vầy : “Không có đời sau, cũng không có người tái sanh, không có hóa sanh”. Ông thường khởi ra đoạn kiến như vậy.

Khi ấy ở trong đại thành Tỳ Lợi Sa có các đại Bà la môn và trưởng giả chủ... cùng nhau bàn luận rằng : “Tại sao vị Sa môn Đồng tử Ca Diếp này đi đến phía bắc của thành này, ở trong vườn Lộc Dă, rừng cây Thi Lợi Sa ? Bấy giờ tôn giả Ca Diếp ở trong thành kia tiếng tăm đồn khắp, nhưng tất cả nhân dân ở trong thành ấy vốn trước đây đă nghe tôn giả Ca Diếp khéo nói pháp cốt yếu, thường nói nhiều nghĩa thâm diệu, ngài đă được an vui, thường hành đầu đà, ngài chính là bậc Ứng Cúng, chính là bậc đại A la hán. Nay ngài đă đến đây, chúng ta nên cùng nhau đến rừng kia để lễ bái, kính cẩn cúng dường”.

Bấy giờ các đại Bà la môn, trưởng giả ... ở trong thành đều ra khỏi phía bắc của thành, đi đến vườn Lộc Dă, rừng Thi Lợi Sa muốn được tham vấn. Khi ấy vua Đại Chánh Cú đứng ở trên lầu cao, từ xa trông thấy Bà la môn, trưởng giả ... ở trong thành đồng ra khỏi thành, đi đến phía bắc thành vào trong vườn Lộc dă, rừng Thi Lợi Sa. Nhà vua thấy rồi hỏi vị quan hầu : “Tại sao Bà la môn, trưởng giả ở trong thành đều cùng nhau ra khỏi thành vào trong vườn Lộc Dă, rừng Thi Lợi Sa ?”.

Quan hầu thưa : “Có một Sa môn tên là Đồng tử Ca Diếp đang du hóa đến phía bắc của đại thành này, an trú trong vườn Lộc Dă, rừng Thi Lợi Sa. Cho nên các Bà la môn, trưởng giả ... ở trong thành đều cùng nhau ra khỏi thành để lễ bái kính cẩn cúng dường.

Nhà vua nghe lời tâu rồi liền bảo quan hầu : “Ngươi hăy đến chỗ đó bảo cho chúng Bà la môn, trưởng giả ... kia hăy dừng lại một chút để chờ ta. Nay ta sẽ đến liền để cùng họ đồng đến chỗ trên để lễ bái, kính cẩn Sa môn Đồng tử Ca Diếp. V́ sao ? V́ theo ư ta sợ các Bà la môn, trưởng giả này bị Sa môn Đồng tử Ca Diếp dùng tà pháp để dẫn dắt. Vị này không căn cứ vào trí thức dối nói là “có người và có đời sau, lại có hóa sanh”.

Khi ấy vị quan hầu kia vâng lệnh của vua xong, đi đến chỗ Bà la môn, trưởng giả ... tuyên bố lệnh  của vua với những người ấy rằng : “Vua Đại Chánh Cú bảo các ngươi hăy dừng lại chốc lát vua sẽ đến liền để cùng đi với các ngươi đến lễ bái kính cẩn Sa môn Đồng tử Ca Diếp”. Mọi người vâng lệnh của vua không dám đi trước. Bấy giờ quan hầu truyền lệnh của vua xong, liền trở về  chỗ vua tâu lại sự việc trên rằng : “Vừa rồi thần phụng mạng đức vua đi đến chỗ các Bà la môn, trưởng giả đă truyền thánh chỉ đầy đủ rằng : “Vua bảo các Bà la môn, trưởng giả hăy dừng lại giây lát, nay vua sẽ đến liền để cùng các người đồng đến lễ bái Sa môn Đồng tử Ca Diếp”. Những người ấy đă vâng lệnh dừng lại không đi.

Bấy giờ vua Đại Chánh Cú chuẩn bị xe cộ ra khỏi cung thành cùng với chúng Bà la môn và trưởng giả đồng đi đến vườn Lộc Dă, rừng cây Thi Lợi Sa. Tâm vua kiêu mạn, cỡi xe đi đến chỗ không đi được mới xuống xe đi bộ vào trong vườn chỗ tôn giả đang ở. Khi ấy vua Đại Chánh Cú cùng chúng Bà la môn, trưởng giả đồng thấy tôn giả Đồng tử Ca Diếp. Ban đầu họ chưa có đức tin lớn với tôn giả cho nên họ không cung kính nhiều. Nhà vua và tôn giả cùng nhau hỏi thăm rồi lui về ngồi qua một bên. Bấy giờ các chúng Bà la môn, trưởng giả thấy nhà vua như vậy, họ cũng có chút trịnh trọng, đều cùng nhau chào hỏi, rồi đứng chung quanh.

Bấy giờ đại vương liền hỏi thẳng rằng : “Này tôn giả Ca Diếp ! Hăy lắng nghe tôi nói. Theo ư tôi th́ không có đời sau, cũng không có người tái sanh, cũng không có hóa sanh. Ư của tôi là như vậy, c̣n ư của tôn giả th́ thế nào ?”. Tôn giả Ca Diếp đáp : “Nếu vua muốn nghe ư nghĩa chơn chánh như vậy, trước hết phải thành tâm tin một cách chắc thật ta sẽ nói cho”.

Vua liền đáp : “Thưa vâng, tôi xin thọ giáo”. Bấy giờ tôn giả Ca Diếp bảo đại vương : “Nhà vua thấy mặt trời, mặt trăng là có hay không có ? Nó thuộc về đời này hay đời sau ? Lư ấy quá rơ ràng không nên ủy thác. Này đại vương, ngài thấy như thế nào và nghe như thế nào ?”.

Vua đáp : “Này Ca Diếp ! Sự thấy và sự nghe của tôi cũng giống như tôn giả là mặt trời, mặt trăng đó thuộc về đời này và cũng thuộc về đời sau nữa”. Tôn giả Ca Diếp lại hỏi : “Như điều đại vương trông thấy là cũng có ở đời sau nữa. Này đại vương, không nên chấp như quan điểm ở trước”. Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, như Sa môn, Bà la môn cho đến bậc Ứng cúng thế gian giải... nhờ trí tự thông rơ biết như thật đều biết chắc chắn rằng có nhân, có quả, có đời này, có đời sau. Này đại vương, không nên chấp về đoạn kiến như trước nữa”.

Khi ấy sự mê chấp của đại vương vẫn chưa tỉnh bảo tôn giả Ca Diếp rằng : “Nay ngài tại sao nói những lời như vậy ? Như ư của tôi th́ thật không có đời sau. Này Ca Diếp chớ lại gượng nói như vậy”. Tiếp theo tôn giả Ca Diếp đáp lại đại vương : “Thân của vua ngay lúc này là có hay không có ? Như thân này của vua mà có th́ tại sao lại đoạn kiến cho rằng không có đời sau ? Vậy phải có ví dụ ǵ để chứng minh cho lư này ?”.

Đại vương đáp : “Này tôn giả Ca Diếp, nay tôi có một ví dụ để chứng minh cho lư này là thân này có đời sau hay không”. Vua nói : “Này Ca Diếp, như người thân thuộc của tôi bị nhiễm tật bệnh triền miên đă lâu, gần lúc mạng chung bấy giờ tôi tới đó  để hỏi thăm và bảo rằng : “Bệnh ngươi rất nặng chắc chắn là không thoát khỏi. Nếu có chết đi hăy trở về báo cho ta biết. Ta nghe Sa môn và Bà la môn trước kia có nói rằng nếu người nào phá giới, tạo nghiệp ác, sau khi mạng chung phải đọa vào địa ngục. Nếu như các Sa môn, Bà la môn kia nói mà đúng th́ các ngươi là thân thuộc của ta, sau khi mạng chung chắc chắn phải đọa địa ngục. V́ sao ? V́ các thân thuộc của ta phá giới tạo tội, do đó nên biết chắc chắn phải rơi vào ác thú. Nếu ngươi ở ác thú hăy bảo sứ trở về hoặc chính ḿnh trở về báo cho ta biết rằng nay tôi ở trong địa ngục thọ lănh sự khổ cùng cực. Nếu ngươi trở về báo cho ta biết chắc chắn ta sẽ đến đó để cứu ngươi. Nhưng chỉ có người chết đi chớ chưa từng có người trở lại. Này Ca Diếp, như ư của tôi do ví dụ này nên biết chắc chắn không có đời sau”.

Tôn giả Ca Diếp đáp lại rằng : “Này đại vương, ví dụ này tuy rơ ràng nhưng chưa phải là lư thuyết chơn chánh. Nay tôi hỏi vua ví như có người vi phạm phép cấm của nhà vua bị ŕnh bắt được đem đến chỗ vua tâu rằng : “Người này vi phạm tội như vầy, không dám che dấu”. Nhà vua nghe tâu như vậy liền ra lệnh cho trưởng quan Hữu ty hăy đem tội nhân này trói quặt hai tay ra sau, siết vào thân nó thật kỹ rồi dẫn ra ngă tư đường, chỗ đông người tụ hội, đánh trống tuyên bố rằng nay tội nhân này phạm tội như vậy, hỡi những người ở bốn bên Đông, Tây, Nam, Bắc ở trong thành, theo lệnh của vua bảo cho các nơi biết rồi dẫn ra khỏi thành, cứ theo pháp mà xử trị. Như tội nhân này khi sắp đến pháp trường nói với người canh giữ rằng : “Xin hăy thương xót thả tôi ra một chút để tôi về nhà có đôi lời từ biệt với những người thân thuộc rồi tôi sẽ trở lại liền”. Này đại vương, đao phủ kia có dám thả người ấy ra một lát để y trở về nhà chăng ?”.

Vua đáp : “Không thả, thưa Ca Diếp. Giả sử người này có hết lời cầu khẩn th́ người đao phủ ấy cũng không dám thả ra. V́ sao vậy ? V́ phép vua đă bó buộc th́ không thể thả ra dù một phút”. Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, các thân thuộc của đại vương do v́ tạo tội nghiệp cho nên sau khi mạng chung phải đọa trong địa ngục, v́ tội nghiệp của họ nên măi măi phải thọ lănh sự khổ sở. Các tội nhân này nói với ngục tốt rằng : “Xin hăy tạm thời thả cho họ trở về nhân gian đến chỗ vua để cầu xin vua cứu khổ”. Này đại vương, vậy ngục tốt này có chịu thả tội nhân ấy ra không ?”. Vua đáp : “Không thả”.

Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, họ là người đồng ở thế gian mà không chịu tạm thời thả tội nhân ra huống chi bà con của ngài tạo đủ điều ác ở trong địa ngục. Này đại vương, đừng đem ví dụ này để ví cho không có đời sau. Sự chấp đoạn kiến này chẳng phải là chánh lư, cho nên biết rằng đă có đời hiện tại vậy phải có đời sau. Cho đến Sa môn Bà la môn, Ứng cúng, Thế gian giải nhờ trí tuệ tự thông, rơ biết sự thật. Vậy vua không nên chấp quan điểm như trước”. Vua lại đáp rằng : “Này tôn giả Ca Diếp, lời nói đó chẳng đúng, tâm của tôi chưa đồng ư, không thể lại nói rằng thật có đời sau”.

Tiếp theo tôn giả Ca Diếp bảo đại vương rằng : “Ư của vua như thế, vậy có ví dụ nào có thể chứng minh nữa chăng ?”. Vua đáp : “Nay tôi lại có một ví dụ về người thân có thể dùng để chứng minh. Này Ca Diếp, như người thân thuộc của tôi bị bệnh nặng sắp sửa mạng chung. Tôi đến dặn ḍ bảo người bệnh : “Tôi nghe Sa môn Bà la môn thường nói như vầy nếu người nào tŕ giới tu các thiện pháp, hoặc là bố thí mà tam luân (người cho, người nhận và vật được cho) thanh tịnh, thấy người khác được điều thù thắng, không sanh ḷng ganh tị. Người ấy khi mạng chung được sanh lên cơi trời. Nếu lời nói của Sa môn và Bà la môn ấy mà đúng th́ sau khi người mạng chung chắc chắn sanh về cơi trời. V́ sao ? Ta thấy ngươi thường đủ giới phẩm và tu thiện pháp, tam luân thanh tịnh khi thực hành bố thí người cho, người nhận và vật bố thí đều được thanh tịnh, đối với việc thù thắng của người khác vẫn không sanh ḷng ganh ghét. Do đó nên biết chắc chắn ngươi được sanh lên trời. Nếu được sanh lên trời ngươi hăy bảo sứ trở về, hoặc chính ngươi trở về để báo cho ta biết “nay tôi đă được sanh lên trời đó hưởng sự khoái lạc”. Này Ca Diếp, các người thân thuộc của tôi nếu thật đă sanh lên trời th́ chắc chắn phải về báo cho tôi biết. Chứ tại sao người thân thuộc của tôi chỉ thấy chết mất, không hề trở lại  báo cho tôi biết, do đó nên biết chắc chắn là không có đời sau”.

Tôn giả Ca Diếp bảo đại vương rằng : “Nay tôi cũng muốn nói một ví dụ để khiến cho vua được thấy thật có đời sau. Này đại vương, thí như có một hầm phân hôi thối không thể đến gần. Bấy giờ có một người lỡ rớt vào trong đó, hôi thối vô cùng nhưng nhờ phương tiện nên được thoát ra khỏi hầm xí. Khi thân đă ra khỏi hầm xí rồi liền dùng các thứ dầu thơm nấu nước tắm rửa, lại dùng hương bột để xoa vào thân. Khi thân kẻ ấy đă được thơm sạch, lại dùng y Ca Thi Ca  tuyệt đẹp mặc vào và các ngọc báu, tràng hoa để trang nghiêm thân thể, rồi người ấy ở trong nhà để thọ hưởng sự khoái lạc. Này đại vương, ư vua thế nào ? Như vậy người ấy có lại muốn vào hầm xí ở trước nữa chăng ?”. Vua nói : “Không bao giờ, thưa ca Diếp. Cái hầm phẩn hôi thối ấy người kia rất ghê tởm”.

Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, người kia sanh lên trời cũng lại như vậy. Đă được sanh lên trời rồi há lại muốn trở về lại nhân gian nữa sao ? Lại nữa này đại vương, ở nhân gian một trăm năm bằng ở Đao lợi thiên một ngày một đêm. Người thân của đại vương tu các pháp thiện đă sanh lên cơi trời ngày đêm thọ hưởng sự vui sướng, há lại c̣n nghĩ trở lại để báo cho vua “tôi sanh ở cơi trời, ngày đêm hưởng sự vui sướng”. Này đại vương, ngài cùng người trời thọ mạng dài ngắn có giống nhau chăng ?”. Vua nói : “Không giống, thưa Ca Diếp”.

Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, cơi trời, cơi người vốn tự cách biệt, không nên như kẻ ngu mong được trở về báo cho biết, sau đó mới có thể tin là có đời sau. Này đại vương, chỉ có Sa môn Bà la môn, Ứng cúng, Thế gian giải mới có thể thật biết có đời sau. Có thể dùng tự trí rơ biết một cách như thật, không nên lại có quan niệm là không có đời sau”. Nhà vua nói với tôn giả Ca Diếp : “Như tôn giả nói cũng chưa đủ để tôi tin. V́ sao ? Ngài nói ở nhân gian 100 năm bằng ở Đao lợi thiên một ngày một đêm, vậy có người nào đến nói với ngài là ở nhân gian một trăm năm bằng ở Đao lợi thiên một ngày một đêm vậy ?”

Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Như chỗ thấy của vua th́ giống như người mới sanh ra đă bị mù. V́ sao vậy ? Người mới sanh đă mù, tự ḿnh không thấy sắc tướng màu xanh, vàng, đỏ, trắng, vật vi tế, thô ác, dài ngắn bèn nói rằng “vốn không có sắc tướng xanh, vàng, đỏ, trắng, vi tế, thô ác như vậy”; lại nói “ta cũng không biết, ta cũng không thấy”. Người mới sanh ra đă mù ấy v́ đă không thấy mới chấp rằng vốn không có sắc tướng xanh, vàng, đỏ, trắng, cho đến dài ngắn... Này đại vương, đừng nên giống như người mới sanh đă mù kia chấp rằng không có sắc tướng”.

Nhà vua nói : “Này Ca Diếp, như ư của tôi nếu cơi trời kia mà thật có tôi liền nói có. C̣n nếu quả thật là không tại sao bảo tôi nói là thật có. Lại nữa này Ca diếp, ngươi không phải là người thiện. V́ sao ? Sự thấy của tôi vốn chơn chánh, tại sao lại ví tôi với người sanh ra đă mù kia ? Này Ca Diếp, những điều ngươi nói về sanh lên trời... quả thật tôi không tin. Nếu tin lời ấy th́ như ăn phải thuốc độc, như kiếm nhọn đâm vào thân, như leo lên núi mà ngă xuống, chỉ tự hại mạng ḿnh mà thôi. Những điều xấu ác như vậy tôi đều xa ĺa”.

Tiếp theo tôn giả Ca Diếp bảo đại vương : “Tôi nhớ đời xưa có một Bà la môn nhà cửa hết sức giàu có mà lại tuổi già chỉ có một người con trai tuổi mới mười sáu, mẹ nó đă chết. Bà la môn kia không thể ở cô độc, bèn tái giá. Thời gian chưa bao lâu th́ người thiếp này lại có thai. Người thiếp chưa kịp sanh sản th́ Bà la môn này mạng chung. Bấy giờ người con trai nói với bà kế mẫu rằng : “Tất cả những tài vật, vàng bạc châu báu cho đến tất cả những vật dụng trong nhà này đều thuộc về tôi, không có người nào khác có thể phân chia tài vật của tôi được”. Khi bà kế mẫu kia nghe người con trai nói xong liền bảo rằng : “Nay tôi đă mang di hài của cha cậu ở trong bụng. Hăy chờ nó lớn khôn th́ chia cho nó một nữa”. Khi ấy người con trai kia lại nói những lời trên với kế mẫu. Người kế mẫu suy nghĩ : “Thằng nhỏ này tuổi c̣n thơ ấu, tánh t́nh dại khờ. Tuy đă nói với nó hết lời nhưng nó vẫn chưa thể hiểu rơ”. Lại do ḷng tham tiếc cho nên muốn gấp thấy thân con trong bụng, dùng nhiều phương tiện để cho sanh nhanh. Do chưa đủ ngày tháng cho nên trở lại làm hư thai. Này đại vương, người đàn bà v́ ḷng tham lam tật đố cho nên trở lại làm hư bào thai của ḿnh. Này đại vương, nay ngài v́ ngu si nên mới khởi lên đoạn kiến ấy”.

Vua lại đáp rằng : “Này tôn giả Ca Diếp, chớ nói lời như ở trước “ai tŕ giới, tu thiện và thực hành bố thí, sau khi mạng chung được sanh lên trời, thọ mạng lâu dài, thường sống khoái lạc”. Tôi thật t́nh không tin như vậy. Nay tôi nếu tin vào lời Ca Diếp th́ đó là ăn thuốc độc, đó là bị gươm nhọn đâm vào thân, là rơi từ núi cao xuống, chỉ tự hại ḿnh mà thôi. Tại sao Ca Diếp vẫn đèo queo nói những lời như vậy ? Theo như ư của tôi chắc chắn không có người , không có đời sau, cũng không có hóa sanh”. Kế đó tôn giả Ca Diếp bảo đại vương rằng : “Há lại không c̣n ví dụ nào để chứng minh cho lời của ngài nữa sao ?”.

Vua đáp : “Này Ca Diếp, tôi lại có một ví dụ để chứng minh để chứng minh việc này, để biết là không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh. Này Ca Diếp, như bà con thân thuộc của tôi khi bị bệnh nặng, tôi liền đến đó an ủi, hỏi thăm. Khi người ấy chưa chết th́ c̣n nói chuyện với tôi về sự khổ năo của y, đến khi chết rồi th́ không có nói với tôi sự khổ năo nữa. Do đó có thể biết rằng chắc chắn không có đời sau, cũng không có hóa sanh”.

Tôn giả Ca Diếp bảo rằng : “Tôi nhớ ngày xưa có một tụ lạc, nhân dân trong đó không biết tiếng (tù và) ốc, cũng lại chưa từng nghe tiếng tù và bao giờ. Bỗng nhiên có một người từ ngoài đi đến dừng chân ở tụ lạc này. Người nầy thường cầm một vỏ ốc để làm công việc. Mỗi ngày cầm tù và lên, đi đến chỗ tượng thánh thổi lên để cúng dường, cúng dường xong trở về trú xứ. Bấy giờ tất cả nhân dân trong tụ lạc bỗng nhiên nghe tiếng tù và này thảy đều kinh hoàng, cùng nhau bảo rằng : “Đó là tiếng ǵ vậy ? Bọn chúng ta chưa hề nghe tiếng này”. Này đại vương, khi ấy tất cả nhân dân trong tụ lạc cùng đến chỗ tiếng tù và hỏi tù và kia : “Ngươi từ đâu đến, phải nói sự thật, nếu nói không đúng sự thật, chúng ta sẽ đập phá ngươi”. Tù và biết ư của chúng ta phải nói gấp lư do. Này đại vương, các dân chúng kia đối với h́nh tướng vỏ ốc và tiếng tù và, họ vốn chưa từng thấy, cũng chưa từng nghe, muốn bảo cái vỏ ốc đó hỏi đáp cùng họ. Vỏ ốc đă là vật vô t́nh há có thể trả lời được sao ? V́ sao vậy ? Nó cũng như đại vương muốn nói chuyện với người đă chết. Người đă chết rồi há có thể nói lại được sao ? Đại vương không nên chấp quan điểm như vậy, cho rằng không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh”.

Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Có Sa môn Bà la môn có đầy đủ thiên nhăn, dùng thiên nhăn thanh tịnh đều thấy rơ con người chết ở đây, sanh ở kia, thọ thân h́nh đẹp hay xấu, đoan chánh hay xú lậu, hoặc được sanh lên trời hay đọa vào ác thú. Này đại vương, những việc như vậy đều có thể chứng minh được cả. Vậy không nên nói không có đời sau, cũng không có hóa sanh”. Vua nói : “Này Ca Diếp, tuy ngài nói ví dụ như vậy nhưng tôi vẫn không tin. Theo quan điểm của tôi th́ chắc chắn không có người, cũng không có hóa sanh và không có đời sau”.

Tiếp theo tôn giả Ca Diếp bảo đại vương : “Nếu là như vậy, vua lại có ví dụ ǵ để chứng minh rằng không có người, cũng không có đời sau và không có hóa sanh chăng ?”. Vua đáp : “Thí như quan lại chấp pháp sửa trị con người, đến khi lên chức, tự ḿnh vi phạm những luật cấm, sau đó bị hạch hỏi, tấu tŕnh lên vua mọi việc. Vua đều biết rơ nên ra lệnh quan Pháp ti dẫn tội nhân đi, cứ y theo pháp luật mà xử đoán. Vua lại ra lệnh hăy trói hai tay tội nhân lại, đem đến pháp trường để trừng trị thật đau khổ. Hăy lấy dây trói lại, tùy theo tội nặng hay nhẹ mà lột da, xé thịt rồi treo ở một chỗ khác. Người ấy khi c̣n sống th́ biết khổ đau, nếu đă chết rồi th́ không c̣n hơi thở nữa. Lại nữa, kẻ tội nhân ấy lúc chưa chết th́ thân thể mềm mại, nhưng khi chết rồi th́ thân thể cứng đờ. Cho đến việc nhẹ lúc c̣n sống, nặng lúc đă chết khác nhau. Này tôn giả, do đó mà biết chắc chắn không có đời sau, cũng không có người, cũng lại không có sự hóa sanh chi cả”.

Tôn giả Ca Diếp lại bảo : “Này đại vương, ư ngài thế nào ? Ví như  cục sắt cũng có nhẹ nặng, mềm cứng khác nhau th́ sao ? Khi sắt nóng th́ h́nh thể nhẹ mà mềm. Sau đó để sắt nguội th́ h́nh thể nặng mà cứng. Này đại vương, loài hữu t́nh hay vô t́nh đều bẩm sanh từ tứ đại, do tứ đại ấy mà có sự hợp hay tán, do đó mà có sai khác mềm cứng, lạnh nóng vậy. Đừng nên đem lư này để so sánh với đời sau và sự hóa sanh ... Đại vương nên biết thật có Sa môn Bà la môn kia có đầy đủ thiên nhăn thấy các chúng sanh chết ở đây sanh ở kia, cho đến được đoan chánh hay bị xấu xí, hoặc sanh ở trên trời hay đọa vào đường ác, họ đều có thể chứng biết thật có đời sau và có hóa sanh”. Vua nói : “Thưa tôn giả, như lời ngài nói chưa đủ để vững tin. Theo ư tôi quả thật không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh”.

 

HẾT QUYỂN THƯỢNG.

PHẬT NÓI KINH VUA ĐẠI CHÁNH CÚ

QUYỂN HẠ

Tiếp theo tôn giả Ca Diếp bảo đại vương : “Vậy chớ ngài c̣n có ví dụ nào nữa để chứng minh là không có người và không có đời sau, cũng không có hóa sanh ?”. Vua đáp : “Tôi  lại có một ví dụ có thể chứng minh cho lư của tôi. Này tôn giả, ví như có người phạm tội rất nặng. Quan cận thần biết được liền tâu với vua nay có người này phạm tội rất nặng. Nhà vua biết được liền ra lệnh cho quan theo dơi bắt trói tội nhân, theo pháp luật mà xử trị. Quan Pháp ti vâng lệnh của vua liền dẫn tội nhân đi, trói chặt hai tay, bỏ vào trong cái vạc mà nấu, mà đốt. Vua lại ra lệnh hăy nấu cho thật nhừ, ḷi xương ra, rồi lấy cây ḍ trong cái vạc thật kỹ để t́m xem kẻ ấy có đời sau và hóa sanh ... ra vào không ? Quan pháp ti vâng lệnh tuyệt đối của vua, nấu tội nhân cho đến lúc thịt chín nhừ rồi t́m thật kỹ trong vạc. Cuối cùng không thấy có đời sau của con người và hóa sanh... ra vào chi cả. Cho đến lần lượt t́m kiếm nhiều lần vẫn chẳng thấy ǵ”. Vua nói : “Này tôn giả, do ví dụ đó mà biết quả thật không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh”.

Bấy giờ tôn giả Ca Diếp bảo với đại vương : “Này đại vương, thí như có người trong khi ngủ nghỉ mộng thấy một khu vườn tuyệt đẹp. Trong vườn có nhiều cây, hoa quả sầm uất, ao nước trong vắt. Người ấy ở trong giấc mộng hết sức ưa thích. Này đại vương, cái vườn ấy là có thật chăng ? Vă lại sự xem chơi, thưởng ngoạn và người ấy đi ra đi vào trong khu vườn ấy có thật chăng ?”. Vua đáp : “Không có thật, thưa Ca diếp. Như những điều thấy trong giấc mộng đều chẳng phải là chơn thật”.

Tôn giả Ca Diếp nói : “Cũng như sự chấp trước về đoạn kiến của đại vương cũng chẳng phải là chơn thật. Này đại vương, cần phải thật ḷng biết rơ là thật có người, có đời sau, có hóa sanh, cho đến thật có Sa môn Bà la môn có đầy đủ thiên nhăn thanh tịnh, vượt hơn thế gian, thấy các chúng sanh chết ở đây, sanh ở kia, đoan chánh hay xấu xí, hoặc được sanh lên trời hay bị đọa vào địa ngục. Đó là sự chơn thật không nên lại chấp đoạn kiến như ở trước”.

Vua nói : “Này tôn giả, tại sao ngài cứ luôn luôn nói những điều như vậy ? Theo ư tôi biết chắc chắn là không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh”. Kế đó tôn giả Ca Diếp nói với đại vương : “Ngài lại có ví dụ nào để chứng minh là không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh ?”.

Vua bảo : “Này tôn giả, tôi lại có một ví dụ để chứng minh cho lư của tôi. Thí như có người chấp hành việc của vua, nhưng tự v́ phạm những điều lệ. Quan cận thần tâu hết sự vi phạm ấy cho vua nghe. Vua biết tất cả sự việc, ra lệnh cho quan Pháp ti tra hỏi cho ra sự thật. Khi tội nhân đă nhận tội th́ hăy dùng h́nh phạt để  trị. Vua ra lệnh trước tiên là cắt da thịt, sau đó bứt gân, mạch, chặt xương, đập tủy để t́m kiếm (linh hồn) người ấy và kẻ hóa sanh. Quan Pháp ti vâng lệnh vua, cứ theo pháp luật mà thi hành, như lời vua bảo không dám trái lệnh, nhất nhất theo thứ lớp xẻ da, cắt thịt cho đến gân mạch, xương, tủy ở bên trong thân thể tội nhân để t́m kiếm (linh hồn) con người hóa sanh... Từ đầu đến cuối hoàn toàn không thấy có (linh hồn) của con người và hóa sanh ǵ cả. Này tôn giả, cứ lấy ví dụ này mà biết th́ quả thật không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh”.

Tôn giả Ca Diếp bảo : “Này đại vương, tôi nhớ thời xưa có một đạo nhân sống ở trong núi. Bấy giờ có một đoàn khác buôn đem theo nhiều xe cộ, chở nhiều của cải, đến gần am của đạo nhân dừng chân ngủ qua đêm rồi bỏ đi. Khi ấy vị đạo nhân kia vào lúc sáng sớm đi đến xem chỗ các người khách  buôn ngủ đêm qua, sợ c̣n bỏ sót tài vật ǵ chăng. Quả nhiên ở đó có thấy có một đứa bé mới bỏ bú, chưa biết ǵ cả, bị các khách buôn bỏ sót lại. Đạo nhân thương xót, sợ đứa bé kia đói khát mà chết, bèn đem về trong am nuôi dưỡng nó như người thân. Nhưng vị đạo nhân này là người thờ lửa, luôn luôn chuyên tâm bỏ thêm củi vào đống lửa, cho nên lửa trong nhà ông chưa bao giờ bị tắt. Cậu bé ấy ngày qua tháng lại, dần dần lớn khôn, tuổi đă được 15, 16 rồi. Đạo nhân suy nghĩ : “Cậu bé đă lớn khôn, ta hoàn toàn có thể giao phó công việc cho nó được”. Một ngày nọ, đạo nhân v́ có việc nên phải vào thành, tạm thời phải đi xa am của ông. Ông bảo cậu bé : “Ta có công việc nên tạm thời phải xa am. Lửa trong am hăy như ta mỗi ngày bỏ thêm củi liên tục vào đừng để cho nó tắt”. Nói xong ông liền ra đi. Đạo nhân đă đi khỏi, cậu bé dại khờ nên ham chơi, do ham chơi cho nên quên thờ lửa, v́ không bỏ củi liên tục vào đống lửa nên làm lửa tắt. Bấy giờ cậu bé thấy lửa đă tắt liền lượm hết củi chất vào ḷ rồi cầu nguyện rằng : “Này lửa hăy mau xuất hiện. Nếu lửa không xuất hiện ta sẽ hủy hoại ngươi”.

Cậu bé ấy đă khổ sở cầu xin nhưng cuối cùng lửa vẫn không cháy. Do lửa không cháy cho nên nó lại phát ra lời nói ác rằng : “Nếu lửa không xuất hiện, ta sẽ đánh ngươi”. Khi ấy cậu bé mong có lửa mà lửa vẫn không hiện, nên trong ḷng rất lo sợ là nếu đạo nhân trở về, chắc chắn sẽ đánh ta. Nó đứng ở một chỗ để suy nghĩ đến lửa.

Công việc đă xong xuôi, đạo nhân lại trở về trong am, thấy cậu bé ngồi im lặng, ông liền biết là lửa đă tắt. Ông bảo thằng bé : “Người ham phóng dật đến nỗi để lửa tắt sao ?”. Đồng tử thưa : “Con vừa quên một chút th́ lửa đă tắt rồi. Sau khi lửa tắt, con chất củi vào trong ḷ, con dùng lời thiện lời ác để cầu đảo nhưng lửa vẫn không xuất hiện”. Đạo nhân nói : “Ngươi thật là ngu si, nếu lửa đă tắt muốn có lửa là phải đốt lửa. Ta chưa từng nghe ai nói là cứ chất củi vào trong ḷ lạnh mà có lửa xuất hiện bao giờ. Giả sử ngươi cứ chất thật nhiều củi ở trong ḷ rồi dùng nhiều phương tiện (để mong có lửa) th́ chỉ tự ḿnh chuốc lấy khổ sở chứ không thể làm vậy mà có lửa được”. Này đại vương, cũng như đứa bé, sau khi lửa tắt rồi, t́m lửa trong tro th́ sự ngu mê, sự không tỉnh ngộ của đại vương cũng vậy. Đối với cái thây chết mà t́m cầu con người (thần thức) và kẻ hóa sanh, rồi vọng chấp cho là không có thần thức nên khởi ra đoạn kiến”.

Vua nói : “Này tôn giả, chớ nói lời như vậy. Nếu tôi theo lời ngài mà nói rằng có đời sau chắc chắn tôi sẽ bị người ta dị nghị. V́ sao vậy ? Nay đây mọi người sẽ nói như vầy “Từ xưa nhà vua vốn không tin nhân quả, thường nói lời như vầy không có đời sau, không có thần hồn, cũng không có hóa sanh”. Ngày nay nhà vua lại bị Ca Diếp cảm hóa”.

Tôn giả Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, tôi nhớ thuở trước có hai người thương chủ, họ đều có tiền tài châu báu hơn cả một nước. Về sau có một lúc họ giao ước kết nghĩa làm bạn với nhau đồng đi đến một nước khác, đem hàng hóa để buôn bán cầu lợi. Hai người thương chủ ấy mỗi người tập họp một số thương nhân để làm bạn lữ. Bấy giờ mọi người đều chuẩn bị xe cộ, bố trí xe ngựa cùng một ngày th́ lên đường. Đi đến đoạn đường phía trước cách nước đă xa, ở gần nơi gian nan hiểm trở. Một người thương chủ th́ biết rơ con đường này ở phía trước có sự nguy hiểm, bảo thương chủ kia rằng : “Nay ngươi biết không con đường ở phía trước rất nguy hiểm, không có người, không có khói lửa chi cả. Vậy tất cả thương nhân phải chuẩn bị cho đầy đủ vật dụng”.

Hai thương chủ đă luận bàn xong, một thương chủ đi trước, nghĩ : “Đoàn ḿnh ít người nên nhu cầu cũng ít. Tất cả vật dụng, lúa ḿ, đồ ẩm thực cho đến củi để đốt cũng đều vứt đi sạch”. Kế tiếp đi đến trước bỗng gặp một người đi ngược chiều, thân h́nh to lớn, da đen, hai mắt đỏ ngầu, đầu tóc bờm chờm, áo quần rách rưới, cỡi trên một chiếc xe lừa kéo, h́nh dáng như con quỷ. Thương chủ hỏi người ấy : “Này nhân giả, con đường phía trước có đồ ăn thức uống và củi đốt ... chứ ?” Người kia trả lời : “Con đường ở phía trước có rất nhiều đồ ẩm thực, củi đốt các thứ không thiếu thứ ǵ. Những thứ ấy ngươi có chở trên xe th́ hăy nên vứt tất cả đi, chỉ làm cho nặng nề làm chậm chạp bước đường trước mặt mà thôi”. Khi ấy thương chủ nghe lời nói ấy rồi, bảo các thương nhân : “Tất cả chúng ta đều nghe nói rằng đồ ăn, thức uống các thứ ở con đường phía trước chẳng thiếu thứ ǵ. Đâu cần mang những thứ ấy trên xe ngựa cho vướng bận”.

V́ thương chủ và các đồng bạn đều là những người không có trí tuệ, liền vứt bỏ những vật dụng cần thiết rồi đi. Họ đi ngày thứ nhất cho đến mặt trời lặn chỉ gặp toàn là đồng không mông quạnh, không gặp người hay khói lửa chi cả, nh́n bốn bên đều trống vắng chẳng có ǵ để cung cấp, đồ ăn thức uống bị thiếu hụt, tất cả đều bị đói khát. Họ chịu sự đói khổ suốt đêm, rồi lại ráng đi tới nữa. Bước sang ngày thứ hai cũng đi tới tối chỉ toàn là đồng vắng chẳng thấy ǵ cả. Các khách buôn cùng nhau luận bàn : “Cái người chúng ta gặp ở trước đây, xem xét tướng mạo nhất định biết nó là con quỷ rồi. V́ chúng ta không có trí tuệ mới tin lời nó như vậy. Do thứ yêu tinh dối gạt, chúng ta đến nỗi này. Cho đến ngày thứ ba cả người lẫn ngựa đều thiếu lương thực và nước uống nên không thể đi được nữa. Họ nh́n nhau chẳng nói lời nào, chỉ chờ chết mà thôi. C̣n vị thương chủ kia qua ngày hôm sau mới lên đường, cũng gặp người ở trước ngược đường mà đến, mới hỏi : “Con đường ở phía trước có đồ ẩm thực và các thứ cần thiết không ?”. Người ấy cũng như trước, mỗi mỗi đều nói láo là đồ nhu cầu ẩm thực chẳng thiếu thứ ǵ, cần ǵ chở các thứ ấy trên xe, trên ngựa làm ǵ cho nặng. Các ngươi nên biết hăy vứt bỏ các thứ ấy đi”.

Người thương chủ sau là bậc thông minh trí tuệ, hễ làm điều ǵ trước hết ông đều suy nghĩ cẩn thận. Ông vốn biết con đường này có vùng đồng không mông quạnh to lớn rất nguy hiểm, qua vùng đất nguy hiểm này đâu thể đi mau. Ông lại quán sát người nói chuyện với ông sắc mặt khác thường, hành vi thô ác, nên ông sợ đây có thể là yêu tinh nói láo không nên tin tưởng. Ông cùng các thương nhân luận bàn với nhau xong rồi tiến hành. Đến ngày thứ ba bỗng thấy trên đường thương chủ và các thương nhân ở trước bị đói khát cùng quẩn. Hỏi lư do tại sao th́ đó cũng chính là do gặp con yêu tinh xấu ác ấy và nghe lời dối gạt của nó. Các thương nhân cùng nhau luận bàn, liền đem phần lương thực của ḿnh chia xẻ cho đoàn trước để cứu giúp họ, để các thương nhân kia đồng vượt qua được con đường hiểm trở.

Này đại vương, một vị thương chủ kia v́ ngu si nên mới tin lời yêu tinh dối gạt, đi đến con đường hiểm mà thọ lănh sự khổ năo cùng cực. Này đại vương, do ngu si cho nên mới chấp đoạn kiến chắc chắn ngài sẽ măi măi phải chịu khổ năo cùng cực.

Khi ấy đại vương nghe lời nói ấy rồi bảo tôn giả rằng : “Thôi đừng dẫn ví dụ nữa, tâm tôi không có hồi tỉnh đâu. V́ sao như vậy ? V́ sợ người trong nước gọi tôi là người bất định. Họ bảo : “Đại vương Chánh Cú thường nói như vậy thật không có người, không có hóa sanh cũng không có đời sau. Nay trở lại bị Ca Diếp cảm hóa”. Do đó cho nên tôi nay không thể thay đổi quan điểm ở trước của tôi”.

Bấy giờ tôn giả Ca Diếp lại bảo vua : “Xưa có hai người có chút ít tài sản. Họ kết bạn với nhau để kinh doanh. Tiền bạc của cải kiếm được tuy khác nhau nhưng nếu có lợi hăy báo cho nhau biết. Kư kết giao kèo đă xong, Chọn ngày mà thi hành. Khoảng mấy ngày đường, họ liền đến một nước khác, đất ở đó có rất nhiều cây gai, bỏ tiêàn ra mua sẽ có lăi. Hai người bàn luận đă xong liền bỏ tiền ra để mua. Họ cột lại gọn gàng rồi gánh mà đi. Họ nói với nhau rằng : “Đến nước khác hễ có lợi th́ bán”. Họ đến phía trước vào một nước khác, họ thấy chỉ gai được lời gấp bội, có thể bỏ cây gai để lấy chỉ gai này. Một người có trí t́m người bán cây gai để mua chỉ gai. C̣n người kia không có trí nói với bạn đồng hành : “Tôi không thể đổi cây gai để lấy chỉ gai. V́ sao ? V́ cây gai mà tôi gánh, tôi đă ra công cột rất chặt, gánh từ xa đến đây cho nên thật t́nh tôi không thể đổi nó để lấy thứ khác được”. Ngày hôm đó, hai người đều gánh hàng hóa của ḿnh. Họ tiếp tục đi tới, lại đến một nước có rất nhiều sợi tơ có lợi hơn chỉ gai. Người có trí liền bán chỉ gai để lấy sợi tơ, c̣n người không trí lại nói như trên :”Tôi không thể đổi cây gai để lấy sợi tơ cho có lợi”. Hai người mang hàng hóa của ḿnh lại đi đến trước. Vào một nước có vải lụa rất rẻ, có lợi hơn tơ rất nhiều. Người có trí thấy lợi gấp bội, liền đổi tơ để lấy vải lụa. C̣n người không có trí v́ tiếc cây gai đă mang từ xa đến nên không chịu đổi. Hai người mang hàng hóa của ḿnh lại đi đến trước vào một trong nước (chỉ có khanh trị) bạc th́ ít mà giá trị hơn lụa rất nhiều, nếu đổi lụa lấy bạc th́ lợi gấp trăm lần. Người có trí th́ bán lụa mua bạc thu được lợi gấp trăm lần. C̣n người không có trí th́ cho rằng : “Tuy gai này không đáng giá là bao nhưng v́ tiếc công cho nên không chịu đổi”. Người có trí lại nghe người ta nói ở nước kia chỉ sản xuất vàng, tuyệt đối không có bạc, liền bảo với bạn rằng chúng ta hăy đến nước kia. Chẳng bao lâu họ đến nước kia. Khi ấy người có trí liền bán bạc để mua vàng ṛng. Khi mua được vàng rồi, anh ta ngắm nghía nó vui mừng. Anh tự kể rằng : “Ngày xưa ta bỏ nhà v́ tiền của có quá ít. Ban đầu ta mua cây gai cho là đă có lợi lớn, nhưng không ngờ đến nay gặp được vàng ṛng, thế gian quư trọng nó không có ǵ bằng. Ta sẽ đem nó về quê nhà, ta sẽ giàu to”. Anh liền gọi bạn : “Thời gian đă lâu rồi, vậy chúng ta hăy cùng nhau về nước ḿnh, tùy theo của cải của ḿnh mà cứu giúp cho bà con quyến thuộc”. Khi ấy người gánh cây gai bảo với bạn đồng hành rằng : “Tôi đă mua cây gai này những mong được lợi lớn, nào ngờ đến đây mới hay chẳng lợi bao nhiêu. Nay anh muốn trở về tôi đâu dám cản. Vậy ta hăy gồng gánh cùng nhau trở về nhà. Nếu gặp giá cao tùy chỗ sẽ bán”. Luận bàn xong rồi chọn ngày trở về đường cũ. Khi về gần đến nước, những người thân tộc được tin cả nhà đều ra ngoài thành để đón tiếp. Họ sung sướng vô cùng đều trở về nhà. Nhà có người được vàng, khi cha mẹ vợ con hỏi được lợi ǵ. Gia chủ đáp được vàng, chúng ta có thể giàu có, cho đến người trong thân quyến cũng đều được trợ cấp. C̣n người gánh gai th́ người nhà cũng hỏi : “Từ lúc kinh doanh anh được lợi ǵ ?”. Người ấy đáp chỉ được cây gai này chớ chẳng được vật ǵ khác. Cả nhà nghe xong buồn rầu áo năo, bảo người ấy rằng : “Như sự kinh doanh của ngươi th́ toàn thể gia quyến của chúng ta vẫn cứ bần khổ măi mà thôi”.

Này đại vương, người gánh cây gai ấy do tánh cố chấp ngu mê, tuy thấy vàng thiệt mà vẫn không chịu đổi cho đến nỗi thân quyến cứ măi măi chịu khổ năo. Cũng giống như đại vương không tự hay biết mà chấp đoạn kiến, cứ măi măi chịu lấy khổ đau, về sau hối hận cũng không kịp nữa.

Nhà vua nghe lời ấy rồi nói với tôn giả rằng : “Ư của tôi không thay đổi là có lư do. Bởi người trong nước này đều biết quan điểm của tôi rồi. Nếu tôi bỏ quan điểm của ḿnh th́ người trong nước cùng nhau bàn luận : “Đại vương Chánh Cú thường nói không có người, không có đời sau, cũng không có hóa sanh. Ngày nay trở lại bị Ca Diếp cảm hóa”. Tôi nhất định không thể chịu sự sĩ nhục này”.

Tôn giả Ca Diếp bảo : “Này đại vương, tôi nhớ ngày xưa có một người không biết luật lệ, nuôi các con heo kiếm lợi để sinh sống. Anh ta bỗng một hôm đến xứ khác, thấy phân thối rất nhiều, liền hốt lấy, đội trên đầu, muốn mang về nhà cho heo ăn. Bất thần nữa đường gặp trời mưa, nước phân chảy thối cả người, trong ḷng liền hối hận. Này đại vương, người không biết luật ấy bị mọi người khinh chê, chờ cho thân thể bị hôi thối rồi mới chịu hồi tâm. Vua là người ở địa vị tôn quư trở lại coi trọng những lời nói phù phiếm rồi chuyên chấp chặt trong tâm mà không xả bỏ đoạn kiến”. Bấy giờ tôn giả Ca Diếp lại nói : “Này đại vương, trước đây tôi đă khéo nói các thí dụ muốn làm cho đại vương xả bỏ đoạn kiến, biết có đời sau và đặt niềm tin nơi Tam bảo. Vọng chấp của đại vương là cố chống đối lại tôi. Nay tôi lại v́ đại vương nói thêm một ví dụ nữa. Nếu ngài tin được th́ hăy lắng nghe, thọ tŕ kỹ, khéo nhớ nghĩ”. Vua nói : “Này tôn giả, xin ngài hăy nói cho tôi nghe”.

Bấy giờ tôn giả Ca Diếp nói với đại vương rằng : “Tôi nhớ thuở xưa có một con heo tên là Đại Phúc. Khi ấy Đại Phúc dẫn một bầy heo đi vào núi sâu. Khi vào trong núi bỗng gặp con sư tử. Sư tử thấy con heo bảo với nó : “Ta là vua các loài thú, ngươi mau tránh đường cho ta đi”. Con Đại Phúc đáp : “Nay ta tránh đường cho ngươi đi, việc này không thể được”.

Sư tử nói : “Vậy hăy chiến đấu với ta chứ không được trái lệnh”. Heo nói : “Chờ ta một chút để ta mặc áo giáp”. Khi ấy con sư tử nói : “Tên người là ǵ. Ngươi đâu có phải là ḍng dơi cao thượng mà dám chiến đấu với ta như vậy ? Hăy mặc áo giáp đi và tùy ư ngươi”. Khi ấy con Đại Phúc đi vào trong hầm phân, lăn phân đầy ḿnh rồi trở lại trước mặt con sư tử nói : “Ta chiến đấu với ngươi”. Bấy giờ con sư tử bảo con Đại Phúc : “Ta là vua trong loài thú, thường bắt các con hươu nai để ăn thịt. C̣n đối với các con vật ốm yếu th́ ta tha không ăn. Huống chi thân ngươi dơ nhớp, hôi thối. Nếu ta chiến đấu cùng ngươi chỉ làm nhiễm ô cho ta mà thôi”. Bấy giờ sư tử nói với con Đại Phúc bằng bài kệ :

Thân người vốn bất tịnh.

Nay lại càng hôi thối.

Ư ngươi muốn chiến đấu.

Chỉ làm ta hôi thối.

Tôn giả Ca Diếp lại bảo đại vương : “Kiến chấp  của nhà vua giống như con heo đ̣i chiến đấu với con sư tử vậy. Ta như con sư tử trước tiên v́ ngươi mà ta bận tâm”. Bấy giờ vua Chánh Cú nghe tôn giả Ca Diếp nói lời ấy xong, trong thâm tâm xấu hổ, hối hận nói với Ca Diếp rằng : “Thưa tôn giả, ngay từ lúc đầu nghe tôn giả ví dụ mặt trời, mặt trăng, tôi liền tín phục. Nhưng chỉ v́ muốn nghe về sự biện tài trí tuệ của tôn giả cho nên tôi mới tráo trở để nghe ngài tuyên nói. Cúi mong tôn giả xét sự thành tâm của tôi, biết sự tín phục của tôi. Tôi xin thề nguyện quy y tôn giả Ca Diếp”.

Tôn giả Ca Diếp trả lời : “Chớ có quy y tôi. Chỗ tôi quy y đó là Phật, Pháp, Tăng. Vua hăy theo đó mà quy y”. Vua lại nói : “Theo lời dạy của tôn giả tôi xin quy y Phật, Pháp, Tăng thọ giới cận sự. Từ nay về sau thề không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối và không c̣n uống rượu nữa cho đến lúc mạng chung xin giữ tịnh giới của Phật”.

Bấy giờ đại vương đă thọ nhận sự hóa đạo xong, thành tâm hướng về đức Phật thọ ba tự quy, vĩnh viễn phụng hành năm giới, cùng Bà la môn, trưởng giả ... hoan hỷ hân hoan lễ bái rồi lui ra.

HẾT QUYỂN HẠ.

 

 

 back_to_top.png

[ TRANG CHỦ | KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ |HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]