佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

TÔNG CHỈ PHÁI LÂM TẾ

Sa-môn Huệ Hồng ở am Minh Bạch soạn

Việt dịch: Đồng Tiến-Chuc Hiền

Thứ năm, 22 Tháng 12 2011 08:52

Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu dạy chúng rằng:

Bậc thánh xưa nói: Một câu có đủ Tam huyền[1], trong mỗi Huyền cần đầy đủ Tam yếu. Thế nào là câu Tam huyền, Tam yếu? Hăy mau chóng lănh hội, mỗi mỗi tự suy ngẫm đă được thỏa ñaùng hay chưa? Các bậc cổ đức đi hành cước[2], khi nghe một nhân duyên[3] mà chưa tỏ ngộ th́ ăn không ngon, ngủ không yên, khẩn cấp giải quyết. Đâu thể cho là việc nhỏ? V́ thế Đức Phật xuất hiện ở thế gian là v́ một Đại sự nhân duyên[4]. Xét ra những bậc cổ đức từ xưa đến nay, hành cước không phải để du sơn, ngoạn thủy; không phải để ngắm những cảnh xa hoa ở đô thị; không phải v́ miếng cơm, manh áo mà đều v́ chưa tỏ ngộ tâm Thánh. Sở dĩ họ dong ruổi hành cước là v́ giải quyết những chỗ sâu kín, xiển dương giáo pháp, thưa hỏi bậc tiền bối, gần gũi bậc cao đức; v́ giữ ǵn đèn Phật tâm, nối tiếp giống Phật tổ, hưng thịnh gịng Thánh, tiếp dẫn người sau, tự lợi lợi người mà không quên hành nghi của chư tổ. Như ngày nay có ai thương lượng chăng? Nếu có, hăy bước ra cùng đại chúng thương lượng!

Vị tăng hỏi: Thế nào là câu tiếp dẫn người sơ cơ?

Đáp: Ông là vị tăng hành cước.

Lại hỏi: Thế nào là câu phân biệt nạp tăng?

Đáp: Mặt trời mọc ở hướng tây vào giờ măo.

Hỏi tiếp: Thế nào là câu Chính lệnh hành[5]?

Đáp: Ngh́n dặm mang đến để tŕnh mặt mũi xưa nay.

Hỏi: Thế nào là câu thành lập trời đất?

Đáp: Lúa Bắc-cu-lô châu, người ăn th́ không giận cũng không vui.

Sư nói: Chỉ đem bốn chuyển ngữ[6] này mà nghiệm nạp tăng trong thiên hạ. Cho nên, vừa thấy ông đưa ra th́ đă biết rồi.

Tăng hỏi: Thế nào là chỗ dụng công của người học?

Đáp: Gia Châu đánh pho tượng lớn.

Hỏi: Thế nào là chỗ chuyển thân của người học?

Đáp: Thiểm Phủ tắm trâu sắt.

Hỏi: Thế nào là chỗ thân thiết của người học?

Đáp: Tây Hà vờn sư tử.

Sư nói: Nếu người nào lănh hội ba câu này th́ đă phân biệt được Tam huyền. Lại c̣n có Tam yếu, cần phải biết rơ, không nên bỏ qua. Sư tụng kệ:

Tam huyền Tam yếu thật khó phân

Được ư quên lời đạo dễ gần

Một câu thấu suốt trùm vạn tượng

Tiết trùng dương[7]đến cúc tươi nhuần.

Lănh hội chăng? Nếu lănh hội được th́ không phải là nạp tăng nóng tính. C̣n về nhân duyên Tam huyền, Ông lănh hội được chăng? Chỉ cần lănh hội được ư chỉ của người xưa th́ tự tâm sáng tỏ, lại được biến thông cùng khắp, tự tại thọ dụng vô cùng, đó gọi là tự thọ dụng thân Phật, không cần người khác dạy mà cũng biết kế sống nhà ḿnh[8]. Do đó ngài Nam Tuyền nói: “Vương lăo sư[9] hơn 80 tuổi mới hiểu kế sống”

Tăng hỏi tiếp: Người xưa 80 tuổi mới hiểu kế sống, nhưng chưa biết tạo kế sống ǵ?

Đáp: Hai con trâu đực, hai sừng không cong.

Lại nói: Nếu muốn tỏ ngộ việc này, chỉ cần đạt chỉ thú Tam huyền, lúc ấy thọ dụng tự tại, nhà ḿnh khóai lạc, sung sướng một đời. Bậc đại trượng phu chớ tự cô phụ, gặp việc không thông, không ích lợi ǵ cho người. Ta nói cho ông và mọi người nghe:

Huyền thứ nhất:

Pháp giới rộng vô biên,

Sum la và vạn tượng

Đều hiện đủ trong gương.

Huyền thứ hai:

Thích-ca hỏi A-nan,

A-nan theo việc đáp,

B́nh bát thể vuông tṛn.

Huyền thứ ba:

Chỉ hiện trước vua xưa,

Ngoài tứ cú bách phi[10],

Lư Thị [11]hỏi Phong Can[12].

Sư nói: “Đây là bài tụng về Tam huyền. C̣n thế nào là ư thú Tam huyền? Dầu cho ông phân biệt rơ ràng đi nữa, cùng chỉ hiểu một cách sai lầm, không căn cứ. Ta từng gần gũi ḥa thượng và đă nghe dạy: “Ví như dùng lời hư dối, lừa gạt người khác, có ngày ăn gậy sắt, chớ bảo rằng ta không nói trước”.

Lại nhân việc hái hoa cúc, Sư bảo chúng rằng: “Hoa vàng khắp đất, nhụy ngọc rợp trời, mặt trời trên không, càn khôn sáng rực, mây giăng làm mưa, lộ kết thành sương, không làm tổn vật, hại nghĩa. Thử nói một câu được không? Nếu nói không được, tức trong mắt có bụi, cần phải lấy ra mới được.” Do đó, ngài Phong Huyệt nói: “ Nếu lập một trần, đất nước hưng thịnh, kẻ quê mùa lo buồn. Không lập một trần, đất nước suy vong, kẻ quê mùa an vui”.

Ngay đây tỏ ngộ th́ xà-lê không có phần, toàn là phần của lăo tăng. Ngay đây mà tỏ ngộ th́  lăo tăng chính là xà-lê. Lăo tăng với xà-lê cũng có thể khai ngộ người trong thiên hạ, cũng có thể che mắt người trong thiên hạ. Ông muốn biết lăo tăng và xà-lê ở đâu chăng? Sư vỗ đùi nói rằng: “Đây là Xà-lê! Đây là lăo tăng”. Lại hỏi các Thượng tọa: “Lăo tăng và xà-lê giống hay khác. Nếu nói giống th́ thượng tọa tự là thượng tọa, lăo tăng tự là lăo tăng. Nếu nói là khác, th́ lăo tăng chính là xà-lê”. Nếu ngay đây mà hiểu được th́ trong một câu có Tam huyền, Tam yếu, Chủ khách rơ ràng, việc b́nh sinh giải quyết xong, hoàn tất việc tham cứu. Cho nên, Vĩnh Gia Huyền Giác nói: “Xương tan thịt nát cũng đền, thấu rơ được một câu, vượt tất cả”.

Lại nói hai vị Thủ tọa ở hai nhà tăng, một hôm gặp nhau cùng hét. Vị Tăng hỏi Lâm Tế: “Có chủ, có khách không?” Đáp: “Chủ khách rơ ràng”. Sư làm kệ rằng:

Hai vị Thủ tọa đều tác gia

Trong đây đạo lư có phân ra.

Chủ khách rơ ràng như gương sáng

Tông sư mắt nhặm thấy không hoa[13].

Cư sĩ Vô Tận nói với tôi rằng: “Phần Dương[14] là đích tôn năm đời của Lâm Tế, người học trong thiên hạ đều tôn sùng, xem đề cương th́ rất sâu rộng, nhưng chỉ bàn về Tam huyền, Tam yếu. Ngày nay pháp phái này đều cho Tam huyền, Tam yếu là lời lập ra cho một giai đoạn, không có ích cho đạo, nhưng đối với các pháp không sinh dị kiến. Tất cả b́nh thường, chính là hợp ư tổ xưa nay. Lời ấy đúng chăng?” Tôi nói: “Cư sĩ nghe lời ấy, rơ ràng đă thấu hiểu, sao lại nghi ngờ cương yếu Phần Dương?”

Cư sĩ lại nói: “Tôi vẫn c̣n nghi mà chưa giải quyết được”.

Tôi bảo: “Đó chính là lư do lập ra Tam huyền Tam yếu. Nói trong một câu có đủ Tam huyền, trong một huyền có đủ Tam yếu. Có Huyền có Yếu chính là pháp tràng thanh lương tịch diệt ở trong biển nhiệt năo của tất cả chúng sinh. Dựng pháp tràng này th́ như bôi chất độc lên trống rồi đánh th́ những người nghe đều chết; người ở xa th́ chết sau. Nếu như người không bị nghiệp hoạnh tử[15] th́ dù nghe cũng không chết. Lâm Tế lúc c̣n tại thế, các vị Hưng Hóa Tôn Tưởng, Tam Thánh Huệ Nhiên, Bảo Thọ, thượng tọa Định vừa nghe liền chết. Sau hơn trăm năm có người nghe ngộ ư chỉ ấy, tức là người chết sau. Nhưng các pháp phái cho rằng không ích ǵ cho đạo, là nói người không bị hoạnh tử. Tông phong của Tổ như vách cao vạn trượng, con cháu sợ, nên thích đi con đường bằng phẳng b́nh dị. Đó là Phật pháp suy đồi. Như sĩ đại phu tự xưng là học tṛ của Khổng Tử mà chê phần Hệ từ[16] của kinh Dịch th́ đứa bé ba tuổi sẽ cười cho! Lâm Tế chỉ nói trong một câu đủ Tam huyền, trong một Huyền đủ Tam yếu, có Huyền có Yếu mà thôi. Ban đầu th́ chưa thấy được Huyền trong câu, Huyền trong ư, Huyền trong thể, nên Tháp chủ lầm lẫn ba câu của Huyền Sa là Tam huyền. Nên chỉ phân Tam huyền mà bỏ sót Tam yếu. Trong tùng lâm [17]vẫn để như thế mà không cho là sai, thật đáng buồn! Huyền Sa nói: “Chơn thường lưu chú là pháp b́nh đẳng, chỉ là dùng lời bác lời, dùng lư đuổi lư. V́ vậy, rơ trước mà không rơ sau. Bởi lượng phần chứng Pháp thân chưa có câu siêu việt, nên chết dưới câu ấy. Nếu như biết lượng siêu việt th́ không bị tâm ma sai sử, nắm chắc trong tay, xoay chuyển tự tại. Đó gọi là thông đại đạo, vượt ra ngoài cái thấy b́nh thường. Đây là câu thứ nhất, người xưa gọi đó là Huyền trong câu. “Xoay cơ chuyển vị, sinh sát tự tại, nắm buông tự nhiên, vào sinh ra tử, làm lợi ích cho tất cả mọi người, thoát xa cảnh sắc dục, ái kiến”. Đây là câu thứ hai, xưa gọi đó là Huyền trong ư. Rơ suốt được trời đất, trùm khắp pháp giới. Một thể tánh chơn thường diệu dụng hiện tiền, ứng hóa không cùng, toàn dụng mà toàn chẳng dụng, toàn sinh mà toàn chẳng sinh, tạm gọi là cửa Từ định[18]”. Đây là câu thứ ba, người xưa gọi là Huyền trong thể.

Phù Sơn Viễn công cũng nói: “Huyền trong ư chẳng phải là ư của ư thức”. Người xưa thật không đáng nói, Viễn Công cũng c̣n mê lầm. Tôi không thể không tŕnh bày, cư sĩ Vô Tận gật đầu đồng ư.

Cư sĩ nói: “Có lần tôi thấy sư từ biệt chúng  nói rằng: ‘Tăng đất Ngô tên Giản Tŕnh có đại tri kiến; Chân Điểm Hung[19] đích thân thấy được Từ Minh; Dương Kỳ và Đạo Ngô khi tiếp người, phần nhiều đều nêu Thập trí đồng chơn’. Xin được nghe thuyết  này!”.

Tôi nói: “Thập trí đồng chơn và Tam huyền, Tam yếu đồng một yếu chỉ”. Ngài Phần Dương nói: “Người thuyết pháp cần đầy đủ Thập trí đồng chân. Nếu không đầy đủ th́ không phân biệt được tà chính, không rơ được Thánh phàm, không thể làm con mắt cho trời người để quyết đoán đúng sai, giống như con chim làm sao có thể bay lên bầu trời khi bị găy cánh; tên làm sao có thể bắn trúng đích khi cung bị đứt dây? Dây chắc, cánh khỏe th́ bầu trời và đích đều thấu suốt. Thế nào là Thập trí đồng chân? Ta nêu ra cho các thượng tọa[20] biết: một là Đồng nhất chất trí, hai là Đồng đại sự trí, ba là Tổng đồng tham trí, bốn là Đồng chân trí trí, năm là Đồng biến phổ trí, sáu là Đồng cụ túc trí, bảy là Đồng đắc thất trí, tám là Đồng sinh sát trí, chín là Đồng âm hống trí, mười là Đồng đắc nhập trí”. Lại nói: “ Đồng đắc nhập với ai? Đồng âm hống với người nào? Thế nào là Đồng sinh sát? Vật ǵ Đồng đắc thất? Cái ǵ Đồng cụ túc? Cái ǵ là Đồng biến phổ? Người nào Đồng chân trí? Ai có thể Tổng đồng tham? Cái ǵ Đồng đại sự? Vật nào Đồng nhất chất?”. Có ai nêu ra được không? Nếu nêu ra được th́ ta không tiếc tâm từ bi. Nếu như không nêu ra được th́ các ông chưa có con mắt tham học, cần mau chóng đạt được, phải biết đúng sai, thấy được mặt mũi hiện tại.”

Ngày nay, hầu hết các tùng lâm đều sợ pháp môn này, không muốn nghe. V́ sao phải nói đến? Chư phương[21] chỉ thích những kiến giải b́nh thường, chấp chặt vào đó, không chịu buông, chỉ muốn truyền trao mà không tin có liễu ngộ. Giá như ngài Phần Dương sống lại, đích thân phân tích th́ họ cũng cho là sai. Thuở xưa, ngài A-nan kinh hành vào ban đêm, nghe đồng tử tụng bài kệ:

Nếu người sống trăm tuổi

Không thấy được con hạc

Chẳng bằng sống một ngày

Mà được thấy con hạc.

A-nan liền dạy đồng tử nên đọc là: Thấy rơ Phật pháp chớ chẳng phải thấy được con hạc. Đồng tử trở về thưa với thầy của ḿnh. Thầy cười và nói: “A-nan già nên lú lẫn rồi, con phải xem lời ta là đúng”. Nói chỉ thú Tam huyền, Thập trí cho người học bây giờ th́ khác ǵ việc này?

Khi ấy, cư sĩ Vô Tận than rằng: “Như vậy, chỉ thú này há chẳng phải là phương tiện sao?”. Ta liền làm kệ:

Thập trí đồng chân toàn diện mục

Trong đó nhất trí là cội nguồn

Nếu như thấy được Phần Dương lăo

Bổ tách Tam huyền trở thành hai.

Lại hỏi: “Bốn tân chủ[22] cũng là pháp môn do Lâm Tế kiến lập ư?”

Tôi đáp: “Đó là phương tiện mà chư Phật trong ba đời và các tổ sư đă dùng để dẹp bỏ những t́nh kiến[23]phàm thánh, chẳng phải chỉ riêng Lâm Tế sử dụng, như ngài Long Sơn Bản diện kiến Mă Tổ. Một hôm, Thiền sư Động Sơn Lương Giới cùng đi du phương với Mật Sư Bá. Một hôm đi ngang qua Long Sơn ở Trường Sa, thấy suối khe, cây cỏ um tùm , Giới quay lại nh́n núi non chập chùng xanh thẳm, rồi nói với Mật rằng: “Trong đây chắc chắn có ẩn sĩ”, liền men theo suối, đi khoảng mười dặm th́ gặp một vị tăng gầy ốm, chắp tay trước trán hỏi: “Nơi đây không có đường, các vị từ đâu đến?”.

Giới nói: Hăy gác lại việc không có đường, Am chủ từ đâu vào?

Đáp: Ta chưa hề du phương.

Giới hỏi: Am chủ ở đây bao lâu rồi?

Đáp: Không can hệ đến ngày tháng.

Giới tiếp: Am chủ trụ ở đây trước hay núi này trụ trước?

Đáp: Không biết.

Giới gạn lại: V́ sao không biết?

Đáp: Ta chẳng từng từ cơi trời người lại.

Giới hỏi: Được đạo lư ǵ mà trụ núi này?

Đáp: Ta thấy hai con trâu đất chọi nhau rồi ch́m xuống biển[24], măi đến ngày nay không có tin tức.

Mật Sư Bá và Lương Giới đầy đủ oai nghi lễ bái rồi hỏi: Thế nào là khách trong chủ?

Đáp: Núi xanh mây trắng phủ

Lại hỏi: Thế nào là chủ trong chủ?

Đáp: Lâu năm không ra khỏi cửa.

Hỏi tiếp: Chủ khách xa nhau bao lâu?

Đáp: Sóng trên ḍng Trường giang.

Lại hỏi: Chủ khách gặp nhau có lời ǵ?

Đáp: Ban ngày gió mát thổi.

Giới đảnh lễ xin y chỉ. Lăo tăng cười và nói:

Xưa nay an trú mái ba gian

Một đạo thần quang[25] muôn cảnh nhàn

Chớ đem thị phi cùng ta nói

Thế gian đàm luận chẳng tương quan.

Ngay đó, Am chủ đốt am rồi đi vào trong núi sâu. Về sau Lương Giới trụ ở núi này.

Giới hỏi vị tăng: Ai là chủ nhân ông của ngươi?

Đáp: Người đang trả lời đó!

Giới ngửa mặt than thở: “Đây gọi là việc của kẻ tôi tớ, v́ sao nhận là chính ḿnh? Đây là điềm Phật pháp suy vi. Chủ trong khách c̣n chưa rơ, huống ǵ chủ trong chủ?”

Tăng hỏi: Thế nào là chủ trong chủ?

Giới nói: Ngươi tự nói xem!

Đáp: Nói được tức là chủ trong khách. Thế nào là chủ trong chủ?

Giới im lặng một lúc[26] rồi nói: “Không ngại nói cho ngươi nghe, nhưng giữ cho tương tục cũng rất khó. Ta xem ư lăo tăng Long Sơn như  Tiêu Hà [27]hiểu Hàn Tín[28], há có pháp ư?” Nhưng lập luận của Giới công như sự lập triều của Hoắc Quang[29], đi đứng cũng có phép tắc. Than ôi! Người sau nhất định không hiểu hết ư người xưa, c̣n Giới cũng để chủ trong chủ ở trong ḷng, th́ thật đáng nghi!

Tôi từng đến Lâm Xuyên kết giao với Chu Thế Anh. Một hôm trưởng lăo Thượng Lam đến nói với Thế Anh rằng: “Giác Phạm[30] nổi tiếng làm thơ, Nhưng Thiền th́ thầy ông ấy vẫn c̣n sai lầm, huống ǵ đệ tử?”.

Thế Anh cười, nói: “Sư có thể nghiệm xét việc đó chăng?”

Thượng Lam đáp: Ừ.

Cả hai ở lại một ngày rồi cùng nhau đến Sơ Sơn[31], dùng cơm ở khách xá. Thượng Lam lấy tay vẽ lên bàn và nói với tôi rằng: “Trên gáy kinh nhất định ghi chữ dĩ (), là nghĩa ǵ?”. Tôi liền vẽ một ṿng tṛn và gạch ngang rồi nói: “Là nghĩa này”. Thượng Lam ngạc nhiên. Tôi làm bài kệ:

_ Chữ dĩ () không thành, bát ()  cũng sai [32]

Pháp thân say ngủ, chẳng che ngăn

Nạp tăng đối diện tên không biết

Trăm người trước mắt gọi chẳng hay.

Thượng Lam trở về thuật lại cho Thế Anh, Thế Anh vỗ tay nói: “Ai là thi tăng[33] cũng có thể biết nghĩa của từ ngữ ư ?”. Nhân đó cùng nhau xem bài kệ “ Làm con nghé” của Phần Dương:

Đầu có, sừng không, thật buồn thay!

Trăm năm khó tránh tác gia[34] này

Phàm thánh cũng không sao biết hết

Hiện tiền tướng mạo có mảy may.

Tôi nói với Thế Anh rằng: “Kệ này là giải thích tự nghĩa[35]”.

Thế Anh hỏi tôi: “Kinh Hoa nghiêm chép: “Vị tiên T́-mục nắm tay Thiện Tài, lập tức Thiện Tài tự thấy thân ḿnh trụ trong thế giới nhiều như số vi trần của mười cơi Phật, rồi đến chỗ chư Phật nhiều như số vi trần của mười cơi Phật, thấy cơi Phật và chúng hội ở đó, các Đức Phật có đủ tướng tốt trang nghiêm, như vậy trải qua số kiếp nhiều như vi trần của trăm ngh́n ức bất khả thuyết cơi Phật. Đến khi vị tiên buông tay ra th́ Thiện Tài lập tức thấy thân ḿnh trở về chỗ cũ”. Ư nghĩa đoạn này giải thích thế nào?”

Tôi đáp: “Đều là biểu tượng. Vừa mới nắm tay tức là lúc nhập vào phép quán, thấy ḿnh và người không cách nhau mảy may, trước sau không ĺa đương niệm. Khi buông tay tức là lúc xuất định. Ngài Vĩnh Minh nói: “Cho nên biết, chẳng động bản vị mà các cơi xa gần rơ ràng. Một niệm chẳng rời mà thời gian dài ngắn đă xác thực”. V́ Thế Tôn lấy hoa sen làm thí dụ nên thế gian chẳng có ai biết, chỉ ta nhận biết: Khi hoa mới nở, trong đó đă có hạt, trong hạt đă có tim sen, trong nhân có quả, trong quả có nhân, ba đời đồng thời, hạt phân tán nhưng lại có thứ lớp, liên tục không gián đoạn, mười phương không cách nhau”.

Lại hỏi: Kinh Pháp hoa chép: “Trước Đại chúng, Thế Tôn hiển hiện đại thần lực, xuất tướng lưỡi rộng dài lên đến cơi trời Phạm”, thật khó hiểu! Nhưng có người giải thích rằng: “Âm thinh Phật vi diệu, mọi nơi đều nghe, siêu việt thánh phàm th́ tướng lưỡi của Phật rộng dài lên đến cơi trời Phạm Thế”. Lời giải thích này như thế nào ?

Ta đáp: “Đây là hiểu trên ngôn ngữ, chẳng phải là ư của Thế Tôn”. Ngài Quy Sơn nói: “Ư phàm thánh bặt, thể lộ chân thường[36]; lư sự chẳng hai, tức như như[37] Phật”. Người học không thể hiểu ư vị sâu xa lời nói này, tạm chấp nhận theo suy đoán mà thôi. Thí như người mù sờ voi, tùy bộ phận được chạm biết mà cho là voi, cho nên đối với họ, con voi chỉ là đuôi, là chân, là lưng, là ngà mà toàn bộ con voi đă bị ẩn đi. Kinh Bát-nhă ghi: “V́ không hai, không hai phần, không sai biệt, không đoạn tức là chân thường, chẳng phải là chân thường của một vật lặng lẽ siêu việt, không biến hoại”. Tướng lưỡi rộng dài đến cơi trời Phạm, đâu có thể dùng ư thức biết được? Ngài Huyền Tráng đến Tây Trúc gặp luận sư Giới Hiền, lúc đó Giới Hiền đă 106 tuổi, được mọi người kính ngưỡng tôn là Chính Pháp Tạng. Ngài Huyền Tráng cung kính làm lễ, đến bên luận sư, luận sư mời ngồi, rồi hỏi: “Từ đâu đến?” Đáp: “Từ Trung Quốc đến, muốn học các bộ luận như Du-già v.v”.... Lúc đó luận sư rơi lệ gọi đệ tử là Giác Hiền đến và hỏi: “Cơn mộng trước đây của ta như thế nào?”

Vị đệ tử nói với ngài Huyền Tráng rằng: “Ba năm trước, ḥa thượng bị cơn bịnh hiểm nghèo, đau đớn như người lấy dao rạch bụng. Ḥa thượng định tuyệt thực đến chết. Đêm đó, ḥa thượng nằm mộng thấy một người nam, thân màu vàng đến bảo rằng: “Ông chớ chán tấm thân mà xưa ông từng yêu quư. Trước đây, ông thường hại mạng vật, phải nên ăn năn, tự sát có ích ǵ? Có vị tăng Trung Quốc đến đây học Phật pháp, đang trên đường đi, ba năm nữa sẽ đến, hăy truyền thọ pháp Phật để vị ấy truyền bá th́ tội ông tự diệt. Ta là Mạn-thù-thất-lợi, cố ư đến báo cho ông rơ”. Ḥa thượng bị bịnh đă ba năm, nay thầy đă đến, mộng trước thật có linh ứng”.

Tôi sống ở đời đă trải qua nhiều gian khổ, đó là do nghiệp xưa vậy. Nay biết rằng nghe lời dạy của ngài Mạn-thù-thất-lợi đem pháp trao cho người th́ tội tự diệt. Cho nên, mục đích soạn cuốn Phật tổ chỉ quyết là muốn giúp cho người diệt trừ nghiệp chướng đời trước của ḿnh, chứ chẳng phải cầu việc khác.

________________________________________

[1] Tam huyền, Tam yếu: ba huyền môn và ba yếu tố dùng để tiếp dẫn người học của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, nhằm kích thích hành giả phát khởi nghi t́nh.

Tam huyền là:

a. Thể trung huyền: câu nói hoàn toàn không trau chuốt, là câu nói được biểu hiện y cứ vào chân tướng và đạo lư của tất cả sự vật.

b. Cú trung huyền: lời nói chân thật, không dính dáng đến t́nh thức phân biệt, tức không câu nệ nơi lời nói mà ngộ được chỗ huyền áo của nó.

c. Huyền trung huyền (Dụng trung huyền): câu nói huyền diệu, ĺa tất cả những sự trói buộc, đối đăi về luận lư và ngữ cú.

Tam yếu là: trong lời nói không có phân biệt tạo tác, ngh́n thánh vào chỗ huyền áo, đường ngôn ngữ dứt. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4111).

[2] Hành cước: c̣n gọi là du phương, du hành, vân thủy. Nghĩa là tăng lữ không có chỗ ở nhất định, hoặc v́ t́m kiếm danh sư hoặc v́ tự ḿnh tu tŕ, hoặc v́ giáo hóa kẻ khác, mà đi chu du bốn phương. tăng du phương gọi là hành cước tăng.  (Theo TĐTTHV, tr. 269).

[3] Nhân duyên: có hai nghĩa:

a. Thiền tông cho cơ ngữ hoặc hành vi động tác thị cơ, ứng cơ là nhân duyên, ư nghĩa giống như công án.

b. Giáo môn cho rằng những tư tưởng ngôn hạnh có thể dẫn đến quả báo là nhân duyên, tức là nhân trong nhân quả báo ứng. (Theo TĐTTHV, tr. 507).

[4] Đại sự nhân duyên: cảm ứng một việc lớn. Tam tạng pháp số ghi: “Nhất tức là nhất thật tướng, v́ thể tính của nhất thật tướng rộng lớn nên gọi là “đại”; nghi thức mà Như Lai xuất thế độ sinh gọi là “sự”. Chúng sinh vốn có nhất thật tướng này mà khéo thành cơ cảm Phật, nên gọi là “nhân”. Như Lai đă chứng nhất thật tướng này mà khởi ứng độ sinh nên gọi là “duyên”. Tất cả Như Lai xuất hiện ở đời đều v́ khai thị thật tướng vốn có của chúng sinh, khiến tất cả được ngộ nhập tri kiến Phật. Ĺa việc này th́ chẳng phải là bản hoài xuất thế của Như Lai. Một việc lớn (Nhất đại sự), chỉ việc chuyển mê khai ngộ”. Luận theo các kinh th́ đại sự trong kinh Pháp hoa là tri kiến Phật, kinh Niết-bàn là Phật tính, kinh Vô Lượng Thọ là văng sinh Cực lạc. Phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa, ghi: “Chư Phật chỉ v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời ” (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1307).

[5] Chính lệnh hành: đạo Phật tổ lưu hành ở đời. Tắc 63, Bích nham lục (Đại 48, 194 hạ) ghi: “Lấy một câu chính lệnh đương hành, thập phương tọa đoạn để chỉ cho ngoài việc đánh hét chẳng lập một pháp nào khác mới là tông chỉ Giáo ngoại biệt truyền”. (Theo TĐTTHV, tr. 103).

[6] Tứ chuyển ngữ: lời lẽ sắc bén tự tại tùy cơ nghi chuyển biến. Khi người học Thiền c̣n mờ mịt chưa liễu ngộ, trong lúc tiến thoái lưỡng nan th́ thiền sư liền xoay chuyển cơ phong, hạ chuyển ngữ, để cho người học khai ngộ. (TheoTĐPHHQ, tập 1, tr. 989).

[7] Tiết trùng dương nhằm ngày 9 tháng 9.

[8] Kế sống (hoạt kế):

a. Nghề nghiệp mưu sinh, công việc. Trong các trước tác Thiền tông, phần nhiều dùng từ này để dụ cho thiền pháp hoặc hành vi cơ dụng. Mật am ngữ lục ghi: “Vuông tṛn không dùng đến cơ mưu, dài vắn chớ đem nói nín t́m. Một chiếc búa cũng là nghề nghiệp chân chính, suy nghĩ  chi làm phí thời gian”.

b. Công cụ, gia sản sinh sống. Chương Khuông Ngộ thiền sư trong CĐTĐL q.17 ghi: “Hỏi: Thế nào là đóng cửa tạo xe? Sư đáp: Gia sản không có ǵ cả”. (Theo TĐTTHV, tr. 298).

[9] Vương lăo sư: thiền sư Phổ Nguyện ở Nam Tuyền Tŕ Châu, họ Vương, thừa pháp ngài Mă Tổ , hoằng đạo ở Nam Tuyền, thường được xưng là Vương lăo sư.  (Theo PHĐTĐ của Đinh Phúc Bảo).

[10] Tứ cú bách phi: bốn câu và trăm phủ định thường dùng trong Phật giáo. Bốn câu: hữu, vô, vừa hữu vừa vô, chẳng phải hữu chẳng phải vô”; hoặc chỉ cho bốn câu: khẳng định, phủ định, một phần khẳng định một phần phủ định, cả hai đều phủ định; để làm h́nh thức phán đoán các luận nghị. Trong Thiền tông cũng thường chỉ cho Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền: 1. Đoạt nhân bất đoạt cảnh. 2. Đoạt cảnh bất đoạt nhân.  3. Nhân cảnh câu đoạt.  4. Nhân cảnh câu bất đoạt. Ngoài ra, Duy-ma Kinh Huyền Sớ cho rằng có hơn 10 thuyết khác nhau về Tứ cú.

Bách phi chỉ cho sự phủ định hoàn toàn, như  kinh Đại Bát niết-bàn 21 (Bản Bắc) nói niết-bàn của Như Lai là: phi hữu, phi vô, phi hữu vi, phi vô vi, phi hữu lậu, phi vô lậu, cho đến phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại....., cho nên biết tứ cú bách phi đều là những khái niệm giả danh được thiết lập y cứ vào lập trường của tất cả sự phán đoán và luận nghị, nhưng tông chỉ cứu cánh của Phật giáo là vượt ngoài những khái niệm giả danh này và đạt đến cảnh giới dứt bặt nói năng, suy nghĩ. Cho nên trong Thiền lâm lưu truyền rộng răi danh ngôn “Ly tứ cú tuyệt bách phi”. Thiền tông có rất nhiều công án về tứ cú bách phi, là kim chỉ nam cho người tham thiền học đạo. (Theo TĐPHHQ, tập 5, tr. 4721).

[11] Lư Thị: tức ông Lư Khâu Dận.

[12] Phong Can: thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, không rơ năm sinh và mất. Ban đầu, Sư trụ chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, ngày giă gạo, đêm ngâm vịnh, lời nói không nhất định, phần nhiều giống như những lời dự kư. Nếu có người hỏi th́ Sư đáp hai chữ “tùy thời”, chứ không nói ǵ khác. Khoảng năm 712-713, Sư hành hóa đến Kinh Triệu (Trường An), trị bệnh cho Lư Khâu Dẫn. (Theo TĐPHHQ, tập 4, tr. 3703).

[13] Không hoa: hoa đốm trong hư không. Trong hư không không có hoa, nhưng v́ người mắt bệnh nhặm nên vọng thấy có hoa đốm huyễn hiện. Phật thường dùng từ ngữ này để dụ cho cảnh giới vốn không thật thể, v́ hiểu biết sai lầm nên thấy có một cái ngă thường trụ, hoặc có thật thể, gọi là không hoa. (Theo TĐPHHQ, tập 3, tr. 2312).

[14] Phần Dương: ngài Thiện Chiêu, thiền sư Trung Quốc, ḍng Lâm Tế, đời Tống, họ Du, người ở Thái Nguyên (nay là tỉnh Sơn Tây). Thuở nhỏ Sư thông minh, tự nhiên thông hiểu văn tự. Mười bốn tuổi cha mẹ qua đời, Sư xuất gia, thọ giới Cụ túc, đi tham phỏng 71 vị thạc đức tôn túc, đến Thủ Sơn ở Nhữ Châu tham phỏng thiền sư Tỉnh Niệm được đại ngộ và được nối pháp. Sau, Sư đến Hành Tương, Tương Miện, quan Quận thủ mời Sư về trụ tŕ các chùa nổi tiếng, nhưng Sư không nhận. Khi ngài Tỉnh Niệm thị tịch, Sư mới nhận lời thỉnh của tăng tục ở Tây Hà đến trụ viện Thái Tử ở Phần Dương, giảng rộng về tông yếu, dùng các cơ dụng như tam cú, tứ cú, tam quyết, thập bát xướng... để tiếp hóa người học, nổi tiếng một thời. Ba mươi năm, Sư không ra khỏi cửa, tăng tục gọi ngài là Phần Dương. Sư thị tịch năm 1024 đời Tống, hưởng thọ 78 tuổi. Thụy hiệu là Vô Đức Thiền Sư.  (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5547).

[15] Hoạnh tử: chết bất ngờ do găp tai họa. Có chín thứ: bệnh mà không có thầy thuốc phải chết, bị luật vua xử tử, phi nhân đoạt tinh khí, lửa cháy, nước nhận ch́m, ác thú ăn thịt, té từ cao xuống, bị thuốc độc, bùa chú trù ếm, đói khát. (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1905).

[16] Hệ từ: Kinh Dịch có 7 loại: Thoán, tượng, văn ngôn, hệ từ, thuyết quái, tự quái, tạp quái. Thoán, tượng, hệ từ, mỗi loại chia ra 2 thiên. Như vậy có 10 thiên. Người đời Hán gọi là Thập dực (Theo Ngữ Văn Hán Nôm tập hai, Ngũ Kinh, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, tr 507).

[17] Tùng lâm: giới Phật giáo, tự vịên, thiền tự, từ mà chư tăng dùng để gọi các thiền sư. (Theo TĐTTHV, tr. 906).

[18] Từ định: ở trong thiền định, khi hành giả muốn chúng sinh được an lạc th́ trong tâm số pháp sinh định, gọi là từ định. (Theo Pháp Giới Thứ  Đệ Sơ Môn).

[19] Chân Điểm Hung: tức thiền sư  Thúy Nham Khả Chân. Sư đắc pháp nơi Thạch Sương Sở Viên.

[20] Thượng tọa: trưởng lăo, thượng lạp, thủ tọa, trụ vị. Vị tăng hay vị ni có tuổi hạ cao và ở địa vị trên, một trong tam cang. Kinh T́-ni-mẫu 6 y cứ vào tuổi hạ cao. (TĐPHHQ, tập 6, trg 5730).

[21] Chư phương: thiền sư ở các nơi hoặc chỉ cho thiền viện. (Theo TĐTTHV, tr. 110).

[22] Tứ tân chủ: bốn câu này để đo lường cơ phong, tiếp dẫn người học của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Trong đó, tân là vị khách đến tham vấn, chủ là vị thầy. Tứ tân chủ gồm có:

a- Tân khán chủ: người khách xem xét thấy rơ ông chủ, như tiếng hét của người học chân chính là đưa ra cái chậu đựng keo. Thiện tri thức chẳng biết là cảnh bèn dính mắc cảnh đó mà làm dáng làm điệu, liền bị người học hét thêm tiếng nữa, thiện tri thức chẳng chịu buông xuống. Ấy là bệnh tuyệt vọng chẳng thể trị.

b- Chủ khán tân: người chủ nh́n tường tận được khách, như thiện tri thức chẳng đưa ra vật ǵ, tùy chỗ hỏi của người học liền đoạt, người học bị đoạt thà chết chẳng chịu buông.

c- Chủ khán chủ: người chủ nh́n lại ḿnh, như có người học đưa một cảnh thanh tịnh ra trước mắt thiện tri thức, thiện tri thức biết là cảnh, liền quăng vào hầm sâu. Người học nói: “Tốt lắm thiện tri thức”. Thiện tri thức liền nói: “Ngốc thay! Chẳng biết tốt xấu”. Người học bèn lễ bái.

d- Tân khán tân: người khách nh́n rơ về họ, như có người học bị c̣ng tay c̣ng cổ ra trước mắt thiện tri thức. Thiện tri thức lại c̣ng thêm một lớp, người học hoan hỷ, hai bên đều chẳng biết. (Theo TĐTTHV, tr. 923).

[23] T́nh kiến: tục t́nh vọng kiến. Bích nham lục q.1 ghi: “Tuyết Đậu sợ người ta chạy theo t́nh kiến. V́ thế rút hẳn chốt cửa, bày kiến giải của ḿnh, nói: “Thôi nhớ nhau, gió mát khắp nơi bao giờ ngưng”. (Theo TĐTTHV, tr. 814).

[24] Nê ngưu nhập hải: con trâu đất ch́m xuống biển. Dụ cho mất dấu vết, không tin tức; có nghĩa là một đi không trở lại. Nê ngưu (trâu đất) dụ cho tác dụng suy tư phân biệt. Hải (biển): pháp tính b́nh đẳng. Thiền tông dùng cụm từ này để chỉ cảnh giới của người khai ngộ, vọng t́nh ḥa tan vào chân tâm. (Theo TĐTTHV, tr. 475).

[25] Nhất đạo thần quang: một luồng ánh sáng thần diệu, tức ánh sáng sẵn có của chính ḿnh, là tâm sáng suốt linh diệu không mờ mịt. Tắc 31, Thung dung lục (Đại 48, 248 thượng) ghi: “Một luồng ánh sáng thần diệu, từ trước đến nay chẳng hề che giấu”. (Theo TĐTTHV, tr. 814).

[26] Lương cửu: lặng lẽ hoặc thản nhiên một hồi. Nguyên ư là thời gian hơi lâu. Thiền tông dùng từ này chỉ cho trạng thái vô ngôn vô ngữ. Lúc vị thầy tiếp dẫn người học, người học đưa ra nghi vấn, hoặc tŕnh bày kiến giải của ḿnh, hoặc trả lời câu hỏi của thầy, thầy thường dùng thái độ lặng lẽ một hồi để biểu thị sự đồng ư hoặc phản đối. (Theo TĐTTHV, tr. 428).

[27] Tiêu Hà: Thừa tướng của Hán vương Lưu Bang.

[28] Hàn Tín: Đại tướng của Hán vương Lưu Bang. Nhờ Tiêu Hà và Hàn Tín mà Lưu Bang diệt Hạng Vũ và lên ngôi Hoàng đế, tức Hán Cao Tổ (206 BC). Tiêu Hà, Hàn Tín, Trương Lương được gọi là “Hán sơ tam kiệt”, nghĩa là ba người hào kiệt đầu đời Hán. (Theo Lịch Sử Trung Quốc 4000 năm, tập 1, tr. 277-294).

[29] Hoắc Quang: Đại tướng 3 đời: Hán Vũ Đế, Hán Chiêu Đế và Hán Tuyên Đế. Ông nắm đại quyền triều chính khi Hán Vũ Đế băng. Lúc đó, Hán Chiêu Đế lên ngôi mới 8 tuổi. (Theo Lịch Sử Trung Quốc 4000 năm, tập 1, tr. 369-373).

[30] Giác Phạm: thiền sư Bảo Giác ở chùa Thanh Lương, đất Đoan Châu đời Tống, tên Đức Hồng, tự Giác Phạm, ban đầu tên Huệ Hồng, ngộ đạo nơi thiền sư Chơn Thanh Khắc Văn, trước tác bộ Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, 30 quyển và Lâm Gian Lục. Sư thị tịch tháng 5 niên hiệu Kiến Viêm đời Cao Tông, thọ 58 tuổi, được vua ban tặng hiệu Bảo Giác Viên Minh. (Theo PHĐTĐ của Đinh Phúc Bảo).

[31] Sơ Sơn: núi thuộc huyện Kim Khê, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện 29km về hướng tây bắc. Trong núi có chùa Sơ Sơn. Núi này vốn là chỗ đọc sách của ẩn sĩ Hà Tiên Đan đời Đường, nên có khi gọi là Thư Sơn. Khoảng niên hiệu Trung Hoa (881-884) đời Đường, thiền sư Khuông Nhân, tông Tào Động đến núi này cất chùa, Vua ban bảng hiệu là Bạch Vân. Vào đời Nam Đường, đổi tên là Sơ Sơn. Đời Minh có thiền tăng Tự Tính trụ tŕ. (Theo TĐTTHV, tr. 639).

[32] Chữ dĩ () không thành, bát ()  cũng sai: Chữ “dĩ’ chỉ cho chữ “  ”  viết trên đầu lá bùa hộ mạng, ấy là biến h́nh của chữ “  ”  trong các chữ tất-đàm. Tuy nhiên, nếu nh́n theo chữ Trung Quốc th́ chẳng phải là chữ “dĩ” cũng chẳng phải chữ “bát”. Thiền tông căn cứ vào việc trên để chỉ cho bản lai diện mục rất khó diễn đạt, dù bằng bất cứ phương tiện nào. (Theo TĐPHHQ, tập 2, tr. 1060).

[33] Thi tăng c̣n gọi là văn tăng. Vị tăng giỏi thơ văn. Đặc biệt chỉ cho các vị thi tăng ở Giang Tả, sống vào đời Đường, Trung Quốc. (Theo TĐPHHQ, tập 6, tr. 5421).

[34] Tác gia c̣n gọi là Tác giả: bậc tu hành tài giỏi có cơ dụng vượt hơn người. (Theo TĐTTHV, tr. 652).

[35] Tự nghĩa: ư nghĩa từ ngữ.

[36] Thể lộ chân thường: vật thể hoàn toàn hiển bày tướng trạng chân thật, vĩnh hằng, là điều mà nhà Phật gọi là chơn như. Đây là cảnh giới của người ngộ Thiền. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền sư trong NĐHN q.3 ghi: “Linh quang sáng tỏ, thoát khỏi căn trần, thể lộ chân thường, chẳng mắc văn tự. Tâm tính không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ ĺa vọng duyên, tức như như Phật”. (Theo TĐTTHV, tr. 719).

[37] Như như: chân thật tướng của vạn sự vạn vật b́nh đẳng không hai, gọi là như như. Đoạn tế tâm yếu ghi: “Vô tâm là không có tất cả tâm. Thể như như bên trong như gỗ đá không lay không động; bên ngoài như hư không không bít không ngại, không năng sở không chỗ nơi, không tướng mạo không được mất”. (Theo TĐTTHV, tr. 541). 

back_to_top.png

 

 

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]