佛山* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

 

Số 0412

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh

Mục Lục:

Giới Thiệu Kinh Địa Tạng: Hiếu Kinh Của Phật Giáo

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

Quyển Thượng

Phẩm Thứ Nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi

Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội

Phẩm Thứ Ba: Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên

Phẩm Thứ Tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh

Quyển Trung

Phẩm Thứ Năm: Danh Hiệu Của Địa Ngục

Phẩm Thứ Sáu: Như Lai Tán Thán

Phẩm Thứ Bảy: Lợi Ích Cả Kẻ C̣n Người Mất

Phẩm Thứ Tám: Các Vua Diêm La Khen Ngợi

Phẩm Thứ Chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật

Quyển Hạ

Phẩm Thứ Mười: So Sánh Nhơn Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí

Phẩm Thứ Mười Một: Địa Thần Hộ Pháp

Phẩm Thứ Mười Hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích

Phẩm Thứ Mười Ba: Dặn Ḍ Cứu Độ Nhơn Thiên 

Hồi Hướng

Thích Nghĩa


Hiếu Kinh Của Phật Giáo  

Ḥa Thượng Tuyên Hóa  

Tông chỉ của bộ Kinh Địa Tạng nằm trong tám chữ: "Hiếu đạo, Độ sanh, Bạt khổ, Báo ân." Tám chữ này muốn nói lên điều ǵ? Chính là nói lên đạo lư hiếu thảo với cha mẹ. Con người biết hiếu thảo với cha mẹ th́ sẽ làm trời đất rạng rở. Việc khiến trời đất cảm động, cũng chính là ḷng hiếu thảo cha mẹ, nên nói: "Thiên địa trọng hiếu, hiếu đương tiên." Chữ Hiếu này rất quan trọng. Chỉ cần một chữ "Hiếu" th́ cả nhà được b́nh an. "Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử." (Cha mẹ biết hiếu thảo th́ sẽ sinh con hiếu thảo) Nếu như quư vị hiếu thảo với cha mẹ ḿnh, th́ sau này con cái sẽ hiếu thảo với quư vị; c̣n nếu như quư vị không hiếu thảo , th́ con cái của quư vị sẽ không hiếu thảo với quư vị. Cho nên v́ sao phải học làm người? Làm người có ư nghĩa ǵ? Đừng nói rằng tôi sinh ra làm người, một cách quá mơ hồ là xong. Không phải vậy đâu! Gốc rễ của cách làm người là ta phải biết bổn phận hiếu thảo với cha mẹ. Bởi v́ cha mẹ chính là trời đất, cha mẹ là sư trưởng, cha mẹ cũng là chư Phật. Nếu như quư vị không có cha mẹ th́ quư vị sẽ không có được thân thể này, mà không có thân thể này th́ quư vị sẽ không bao giờ thành Phật. Cho nên quư vị muốn thành Phật th́ trước tiên phải hiếu thảo với cha mẹ. Do vậy điều thứ nhất chính là Hiếu Đạo.  

Tông chỉ thứ hai của bộ Kinh này là "Độ sinh." Sao gọi là độ sinh? Từ bờ bên này sang bờ bên kia gọi là "độ"; từ sinh tử đến Niết Bàn cũng gọi là "độ"; từ phiền năo tới thành Bồ đề cũng gọi là "độ." Nói độ sinh chính là độ chúng sinh. Độ chúng sinh không phải nói độ một người, hai người, cũng không phải độ ba người, năm người mà gọi là độ chúng sinh. Độ chúng sinh là độ tất cả mười hai loài chúng sinh, giáo hóa, khiến họ đều phát tâm Bồ đề, sớm thành Phật quả. Đây mới gọi là độ chúng sinh.  

Thứ ba là "Bạt khổ", v́ đây là bộ Kinh dạy ta bạt trừ những khổ năo của chúng sinh.  

Thứ tư là "Báo ân", nghĩa là phải báo ân cha mẹ. Tám chữ Hiếu đạo, Bạt khổ, Độ sinh, Báo ân này là Tông chỉ của Kinh Địa Tạng. Nếu như giảng rơ ràng th́ rất là nhiều, cho nên tôi chỉ giảng kỹ những điều quan trọng, sau đó th́ các vị sẽ hiểu rơ.  

Nói đến đạo hiếu này, có người vừa nghe nói th́ liền nghĩ. "Tôi phải về nhà hiếu thảo với cha mẹ." Nhưng về đến nhà, gặp cha mẹ th́ liền quên đi việc hiếu thảo. Tại sao quên? Chính là v́ ḿnh không biết đúng đắn thế nào là ḷng hiếu thảo. Để bày tỏ ḷng hiếu thảo đúng đắn bạn cần phải học Phật pháp. Quư vị ở đây học Phật pháp tức là hiếu thảo với cha mẹ. Không cần nói tôi về nhà mới là hiếu thảo cha mẹ, để khi về đến nhà lại quên hiếu thảo cha mẹ. Quư vị ở đây học Phật pháp, làm một người tốt trên thế giới, điều này đối với thế giới th́ có lợi. Có lợi cho thế giới, th́ chính là hiếu thảo với cha mẹ.  

Hiếu có bốn loại: Có tiểu hiếu, đại hiếu, viễn hiếu, cận hiếu. Cái ǵ gọi là tiểu hiếu? "Tiểu hiếu" là hiếu với gia đ́nh, chính là có hiếu thuận với cha mẹ của ḿnh ở nhà, chứ chưa hiếu thuận với tất cả mọi người, chưa có thể làm một người hiếu quảng đại. "Hiếu quảng đại" là ǵ? Hiếu quảng đại chính là "Đại hiếu", hiếu với khắp thiên hạ, xem tất cả cha mẹ trên đời là cha mẹ của ḿnh. Đây gọi là hiếu thảo với tất cả mọi người. Nhưng đại hiếu này c̣n chưa nói đến việc hiếu thảo chân chánh. "Hiếu thảo chân chánh" là sao? Chân hiếu" là chỉ khi nào quư vị thành Phật mới gọi là Chân hiếu. Ḷng hiếu này vượt ngoài bốn loại hiếu kia; nó là một loại hiếu chân chánh. Cho nên dù phụ thân không cho phép đức Thích Ca xuất gia, nhốt Ngài ở trong cung, nhưng Ngài vẫn lén đi xuất gia tu hành. Ngài tu khổ hạnh sáu năm trên núi Tuyết, rồi sau đó Ngài ngộ đạo thành Phật dưới cội cây Bồ đề, đây là sự hiếu thảo chân chánh. Cho nên sau khi Ngài thành Phật, Ngài lên cung trời thuyết pháp cho mẹ. Quư vị xem đây có phải là "Chân Hiếu" không?  

Thế nào gọi là "cận hiếu"? Cận hiếu là con người theo thời đại ngày nay mà hiếu thảo với cha mẹ, đi học cũng là phương pháp hiếu thảo với cha mẹ, đây gọi là cận hiếu. "Viễn hiếu" là hiếu thảo muôn đời; cận hiếu là hiếu thảo đời này. Cận hiếu cũng có thể nói là tiểu hiếu, nhưng cũng có ít nhiều không giống. Viễn hiếu là hiếu thảo muôn đời, như Trung Quốc có 24 người con hiếu, 24 người con hiếu này là hiếu thảo muôn đời, v́ họ đă để lại tiếng thơm cho muôn đời.  

Nói đến "Nhị thập tứ hiếu" này th́ Trung Quốc có một người gọi là Đổng Vĩnh. Đổng Vĩnh c̣n gọi là Đổng Ảm. Đổng Vĩnh rất hiếu thảo với cha mẹ. Hàng xóm của anh ta có một người họ Vương, gọi là Vương Kỳ. Đổng Vĩnh là người nghèo, không có tiền, Vương Kỳ là người giàu có. Nhưng mẹ của Đổng Vĩnh, v́ nhờ có người con hiếu thảo nên được khỏe mạnh mập mạp. Mặc dù đă lớn tuổi, nhưng từ sáng đến tối bà luôn cảm thấy vui vẻ. C̣n bà mẹ của Vương Kỳ mặc dù tiền bạc sung túc, ăn th́ có thịt heo, thịt gà, cá, vịt, toàn thứ ngon vật lạ, nhưng lại ốm yếu bệnh hoạn. Bà ta không có một chút vui vẻ, luôn đau buồn. Có một hôm Đổng Vĩnh không có ở nhà, Vương Kỳ cũng không có ở nhà, bà ốm mới hỏi bà mập: "Nhà bà nghèo như thế, cũng không có ǵ ngon để ăn. Vậy tại sao bà mập như vậy? Bà lớn tuổi như thế, mà mập như vậy là lư do ǵ? Mẹ của Đổng Vĩnh mới nói với mẹ của Vương Kỳ rằng: "Bởi v́ con của tôi rất là hiếu thảo, nó không dám làm một việc ǵ xấu cả, lại rất thật thà đúng đắn, cần cù làm việc. Tôi không có điều chi đau buồn về nó, lại rất hài ḷng. Tâm hồn thoải mái, thân thể khỏe mạnh, tôi thích như vậy, nên tôi mập được." Sau đó mẹ của Đổng Vĩnh tức là bà mập hỏi lại bà ốm: "Bà có tiền như thế, ăn toàn là thứ ngon vật lạ, tại sao lại ốm như vậy? Bà ốm như cây sậy, có phải là bệnh ǵ không? Bà ốm này liền trả lời: "Tôi hả! Tuy có tiền, tuy có đồ ăn ngon, nhưng đứa con của tôi, tánh nó không thật thà, không đúng đắn, thường làm những hành vi phi pháp; hôm hay phạm pháp, ngày mai cũng phạm pháp. Ba hôm nay bị sai nha bắt tra hỏi, mai lại có lệnh gọi của phủ đường gửi đến. Tôi từ sáng đến tối, chỉ lo lắng cho đứa con này, ăn dù ngon cách mấy cũng cảm thấy không vui, từ sáng đến tối lúc nào cũng ưu sầu, lo buồn. Cho nên tôi càng ngày càng ốm đi, mập không nổi, đều là v́ buồn bực chuyện này"...  

"Hiếu", tuy có viễn hiếu, cận hiếu, đại hiếu, tiểu hiếu, nhưng nói đến sự hiếu thảo chân chánh, th́ chân hiếu chính là tu hành để sau này thành Phật. Các vị hôm nay học Phật pháp, không trở về nhà, chính là sự hiếu thảo chân chính, đúng là biết học Phật. Có thể hành tŕ phật pháp th́ mới là sự hiếu thảo đúng đắn nhất.


Tâm Nguyện Của Dịch Giả

Trích cuối tập 9 Kinh Đại-Bửu-Tích

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ư nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy ḷng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và măi măi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng d́u dắt nhau, d́u dắt tôi để được vững bước măi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cơi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần d́u dắt nhau. V́ vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.
Chùa Vạn Đức
Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ.
(08-10-1989)

Thích Trí Tịnh
Cẩn Chí

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

 Chí Tâm Quy Mạng Lễ

U-Minh Giáo Chủ Bổn Tôn

Địa-Tạng Bồ Tát Ma-ha-tát.

Lạy đức từ bi đại Giáo-chủ!

'Địa' là dày chắc- 'Tạng' chứa đủ.

Cơi nước phương Nam nổi mây thơm,

Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ,

Mây xinh, mưa báu số không lường.

Lành tốt, trang nghiêm cảnh dị thường,

Người, trời bạch Phật: Nhơn ǵ thế?

Phật rằng: Địa-Tạng đến Thiên đường!

Chư Phật ba đời đồng khen chuộng

Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng

Nay con sẵn có thiện nhơn duyên,

Ngợi khen Địa-Tạng đức vô thượng:

Ḷng từ do chứa hạnh lành

Trải bao số kiếp độ sanh khỏi nàn,

Trong tay đă sẵn gậy vàng,

Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh,

Tay cầm châu sáng tṛn v́n,

Hào quang soi khắp ba ngh́n Đại Thiên.

Diêm Vương trước điện chẳng hiền,

Đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn.

Địa-Tạng Bồ Tát thượng nhơn, Chứng minh công đức của dân Diêm Phù!

Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa-Tạng Bồ Tát Ma-ha-tát. (Câu chót 3 lần)

Bài Tán Nguyện Hương

Nguyện mây hương mầu này

Khắp cùng mười phương cơi

Cúng dường tất cả Phật

Tôn pháp, các Bồ Tát,

Vô biên chúng Thanh-Văn

Và cả thảy Thánh Hiền.

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô biên cơi

Xông khắp các chúng sanh

Đều phát Bồ-đề tâm

Xa ĺa những nghiệp vọng

Trọn nên đạo vô-thượng.

Nam-mô Hương-cúng-dường Bồ Tát Ma-ha-tát. (3 Lần)

Bài Văn Phát Nguyện

Lạy đấng Tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật,

Nay con phát nguyện rộng

Thọ tŕ kinh Địa-Tạng.

Trên đền bốn ơn nặng,

Dưới cứu khổ tam-đồ,

Nếu có kẻ thấy nghe

Đều phát bồ-đề tâm,

Hết một báo thân này

Sanh qua cơi Cực-Lạc

Nam-mô Bổn-Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

Bài Kệ Khai Kinh:

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng

Trăm ngh́n muôn ức kiếp khó gặp

Nay con thấy nghe được thọ tŕ

Nguyện hiểu nghĩa chơn thật của Phật.

Nam-mô U-Minh giáo chủ hoằng nguyện độ sanh:

Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật,

Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ-đề

Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bổn-Tôn Địa-Tạng Bồ Tát Ma-ha-tát. (3 Lần)

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Quyển Thượng

Phẩm Thứ Nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi  [M]

1) Phật Hiện Thần Thông - Ta nghe như thế này: Một thuở nọ, tại cung Trời Đao-Lợi, Đức Phật v́ Thánh Mẫu mà thuyết pháp:

Lúc đó, bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng:

- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược mà hiện sức 'đại trí-huệ thần-thông chẳng thể nghĩ bàn' để điều phục chúng sanh cang cường làm cho chúng nó rơ 'pháp khổ pháp vui'.

Khen xong, chư Phật đều sai thị giả kính thăm đức Thế-Tôn.

Bấy giờ, đức Như-Lai mỉm cười phóng ra trăm ngh́n vừng mây sáng rỡ lớn. Như là: vừng mây sáng rỡ đầy đủ, vừng mây sáng rỡ đại từ-bi, vừng mây sáng rỡ đại trí-huệ, vừng mây sáng rỡ đại bát-nhă, vừng mây sáng rỡ đại tam-muội, vừng mây sáng rỡ đại kiết-tường, vừng mây sáng rỡ đại phước-đức, vừng mây sáng rỡ đại công-đức, vừng mây sáng rỡ đại quy-y, vừng mây sáng rỡ đại tán-thán ... Đức Phật phóng ra bất-khả-thuyết vừng mây sáng rỡ như thế rồi lại phát ra các thứ tiếng vi diệu.

Như là: tiếng Bố-thí độ, tiếng Tŕ-giới độ, tiếng Nhẫn-nhục độ, tiếng Tinh-tấn độ, tiếng Thiền-định độ, tiếng Bát-nhă độ, tiếng Từ-bi, tiếng Hỷ-xả, tiếng Giải-thoát, tiếng Vô-lậu, tiếng Trí-huệ, tiếng Sư-tử hống, tiếng Đại Sư-tử hống, tiếng Mây sấm, tiếng Mây sấm lớn.

2) Trời, Rồng.............Hội Họp - Khi đức Phật phát ra bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở trong cơi Ta-bà và cơi nước phương khác cũng đến hội họp nơi cung Trời Đao-Lợi.

Như là: trời Tứ-Thiên-Vương, trời Đao-Lợi, trời Tu-Diệm-Ma, trời Đâu-Suất-Đà, trời Hóa-Lạc, trời Tha-Hóa-Tự-Tại, trời Phạm-Chúng, trời Phạm-Phụ, trời Đại-Phạm, trời Thiểu-Quang, trời Vô-Lượng-Quang, trời Quang-Âm, trời Thiểu-Tịnh, trời Vô-Lượng-Tịnh, trời Biến-Tịnh, trời Phước-Sanh, trời Phước-Ái, trời Quảng-Quả, trời Nghiêm-Sức, trời Vô-Lượng Nghiêm-Sức, trời Nghiêm-Sức-Quả-Thiệt, trời Vô-Tưởng, trời Vô-Phiền, trời Vô-Nhiệt, trời Thiện-Kiến, trời Thiện-Hiện, trời Sắc-Cứu-Cánh, trời Ma-hê-Thủ-La, cho đến trời Phi-Tưởng, Phi-Phi Tưởng-Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỉ, Thần đều đến hội họp.

Lại có những vị Thần ở cơi Ta-bà cùng cơi nước phương khác, như Thần biển, Thần sông, Thần rạch, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần sông chằm, Thần lúa mạ, Thần chủ ngày, Thần chủ đêm, Thần hư-không, Thần trên trời, Thần chủ ăn uống, Thần cây cỏ... Các vị thần như thế đều đến hội họp.

Lại có những Đại Quỉ Vương ở cơi Ta-bà cùng cơi nước phương khác, như: Ác-Mục Quỉ-Vương, Đạm-Huyết Quỉ-Vương, Đạm-Tinh-Khí Quỉ-Vương, Đạm Thai-Noăn Quỉ-Vương, Hành-Bịnh Quỉ-Vương, Nhiếp-Độc Quỉ-Vương, Từ-Tâm Quỉ-Vương, Phước-Lợi Quỉ-Vương, Đại-Ái-Kính Quỉ-Vương.... Các Quỉ-Vương như thế đều đến hội họp.

3) Đức Phật Phát Khởi - Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-Vương tử đại Bồ Tát rằng: 'Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỉ, Thần đó ở trong thế giới này cùng thế giới khác, nay đều đến hội họp tại cung Trời Đao-Lợi như thế, ông có biết số bao nhiêu chăng?'.

Ngài Văn-Thù Sư-Lợi bạch Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong ngh́n kiếp cũng không biết là số bao nhiêu!'

Đức Phật bảo Ngài Văn-Thù Sư-Lợi rằng: 'Đến Ta dùng Phật nhăn xem hăy c̣n không đếm xiết! Số Thánh, phàm này đều của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đă độ, đương độ, chưa độ, hoặc đă thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu'.

Ngài Văn-Thù Sư-Lợi bạch đức Phật rằng: 'Từ thuở lâu xa về trước con đă tu căn lành chứng đặng trí vô-ngại, nghe lời đức Phật nói đó thời tin nhận liền. C̣n hàng tiểu quả Thanh-Văn, Trời, Rồng tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau, dầu nghe lời thành thật của Như-Lai, nhưng chắc là sanh ḷng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong đức Thế-Tôn nói rơ nhơn địa của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát; Ngài tu hạnh ǵ, lập nguyện ǵ mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?'

Đức Phật bảo Ngài Văn-Thù Sư-Lợi rằng: 'Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm trong cơi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cơi nước, rồi trong một cơi nước cứ một hột bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả. Từ lúc Ngài Địa-Tạng Bồ Tát chứng quả vị thập-địa Bồ Tát đến nay ngh́n lần lâu hơn số kiếp tỉ dụ ở trên, huống là những thuở Ngài Địa-Tạng Bồ Tát c̣n ở bực Thanh-Văn và Bích-Chi-Phật!

Này Văn-Thù Sư-Lợi! Oai-thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa-Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn h́nh tượng của Địa-Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cơi trời Đao-Lợi, vĩnh viễn chẳng c̣n bị sa đọa vào chốn ác đạo.

4) Trưởng Giả Tử Phát Nguyện - Này Văn-Thù Sư-Lợi! Trải qua bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát làm một vị Trưởng Giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là: Sư-Tử Phấn-Tấn Cụ Túc Vạn-Hạnh Như-Lai, Trưởng Giả tử thấy đức Phật tướng mạo tốt đẹp ngh́n phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện ǵ mà đặng tốt đẹp như thế?

- Khi ấy, đức Sư-Tử Phấn-Tấn Cụ Túc Vạn-Hạnh Như-Lai bảo Trưởng Giả tử rằng: 'Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp này, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ'.

Này Văn-Thù Sư-Lợi! Trưởng-Giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: 'Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi v́ những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Đạo'.

Bởi ở trước đức Phật Sư-Tử Phấn Tấn Cụ-Túc Vạn Hạnh Như-Lai, Ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đă trải qua trăm ngh́n muôn ức vô số bất-khả-thuyết kiếp, mà Ngài vẫn c̣n làm vị Bồ Tát!

5) Bà-La-Môn Nữ Cứu Mẹ - Lại thuở bất-khả-tư-nghị vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là: Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương Như-Lai, Đức Phật ấy thọ đến bốn trăm ngh́n muôn ức vô số kiếp. Trong thời tượng pháp, có một người con gái ḍng Bà-La-Môn, người này nhiều đời chứa phước sâu dày, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam-Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh Nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ người sanh chánh kiến, nhưng mà bà mẹ người chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết thần hồn sa đọa vào Vô-Gián địa ngục.

Lúc đó, Thánh-Nữ biết rằng người mẹ khi c̣n sống không tin nhơn quả, liệu chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào đường ác. Thánh Nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa cùng những đồ lễ cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa tháp thờ đức Phật Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy h́nh tượng của đức Giác-Hoa-Định-Tự-Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm.

Thánh Nữ chiêm bái tượng của đức Phật lại càng sanh ḷng kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng: 'Đức Phật là đấng Đại-Giác đủ tất cả trí-huệ, nếu đức Phật c̣n trụ ở đời, th́ khi mẹ tôi khuất, tôi đến bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rơ mẹ tôi sanh vào chốn nào'.

Nghĩ đến đó, Thánh Nữ buồn tủi rơi lệ chăm nh́n tượng Như-Lai mà ḷng quyến luyến măi.

Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: 'Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ của mẹ ngươi'.

Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà vái rằng: 'Đức thần nào đó mà giải bớt ḷng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rơ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?'.

Trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: 'Ta là đức Phật quá khứ Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương Như-Lai mà ngươi đương chiêm bái đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường t́nh của chúng sanh, nên ta đến chỉ bảo'.

Thánh Nữ nghe nói xong liền té xỉu xuống, tay chân ḿnh mẩy đều bị tổn thương. Những người đứng bên vội vàng đỡ dậy, một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại rồi bạch cùng trên hư không rằng: 'Cúi xin đức Phật xót thương bảo ngay cho rơ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!'.

Đức Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương Như-Lai bảo Thánh Nữ rằng: 'Cúng dường xong, ngươi mau mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi'.

Lễ Phật xong, Thánh Nữ liền trở về nhà. V́ thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương Như-Lai trải suốt một ngày một đêm. Bỗng thấy thân ḿnh đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhẩy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia.

Thấy những trai cùng gái số nhiều đến ngh́n muôn thoạt ch́m thoạt nổi ở trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt.

Lại thấy quỉ Dạ-Xoa h́nh thù đều lạ lùng: hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu... răng nanh chỉa ra ngoài miệng bén nhọn dường gươm, lùa những người tội gần thú dữ. Rồi quỉ lại chụp bắt người tội, túm quắp đầu chân người tội lại, h́nh trạng muôn thứ chẳng dám nh́n lâu.

Khi ấy, Thánh Nữ nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ.

Có một vị Quỉ-Vương tên là Vô-Độc, đến cúi đầu nghinh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: 'Hay thay Bồ-tát! Ngài có duyên sự ǵ đến chốn này?'.

Thánh Nữ hỏi Quỉ-Vương rằng: 'Đây là chốn nào?'

Quỉ-Vương Vô-Độc đáp rằng: 'Đây là từng biển thứ nhất ở phía Tây núi đại Thiết Vi'.

Thánh Nữ hỏi rằng: 'Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thiệt như thế chăng?'.

Vô-Độc đáp rằng: 'Thiệt có địa ngục'.

Thánh Nữ hỏi rằng: 'Nay tôi làm sao để được đến chốn địa ngục đó?'.

Vô-Độc đáp rằng: 'Nếu không phải sức oai thần cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra ắt không bao giờ có thể đến đó được'.

Thánh Nữ lại hỏi: 'Duyên cớ v́ sao mà nước trong biển này sôi sùng sục như thế, và có những người tội cùng với các thú dữ?'.

Vô-Độc đáp rằng: 'Những người tội trong biển này là những kẻ tạo ác ở cơi Diêm-Phù-Đề mới chết, trong khoảng bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, kẻ đó lại không làm được nhơn lành nào cả.

V́ thế nên cứ theo nghiệp ác của họ đă gây tạo mà cảm lấy báo khổ ở địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này.

Cách biển này mười muôn do tuần về phía Đông lại có một cái biển, những sự thống khổ trong biển đó sắp bội hơn biển này.

Phía Đông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ trong đó càng trội hơn.

Đó đều là do những nghiệp nhơn xấu xa của ba nghiệp mà cảm vời ra, đồng gọi là biển nghiệp, chính là ba cái biển này vậy'.

Thánh Nữ lại hỏi Quỉ-Vương Vô-Độc rằng: 'Địa ngục ở đâu?'

Vô-Độc đáp rằng: 'Trong ba cái biển đó đều là địa ngục, nhiều đến số trăm ngh́n, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thời có 18 chỗ, bực kế đó có 500 chỗ đủ không lường sự khổ sở, bực kế nữa có đến ngh́n trăm cũng không lường sự thống khổ.

Thánh Nữ lại hỏi đại Quỉ-Vương rằng: 'Thân mẫu của tôi mới khuất gần đây, không rơ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?'

Quỉ-Vương hỏi Thánh-Nữ rằng 'Thân Mẫu của Bồ-tát khi c̣n sống quen làm những nghiệp ǵ?'

Thánh Nữ đáp rằng: 'Thân mẫu của tôi mê tín tà đạo khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có lúc tạm thời tin chánh pháp, xong rồi chẳng kính. Dầu khuất không bao lâu, mà chưa rơ đọa lạc vào đâu?'

Vô-Độc hỏi rằng: 'Thân Mẫu của Bồ-tát tên họ là ǵ?'

Thánh Nữ đáp rằng: 'Thân phụ và thân mẫu của tôi đều ḍng dơi Bà-La-Môn. Thân phụ tôi hiệu là Thi-La Thiện Kiến. Thân mẫu tôi hiệu là Duyệt-Đế-Lợi'.

Vô-Độc chắp tay thưa Thánh Nữ rằng: 'Xin Thánh Nữ hăy về, chớ đem ḷng thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nữ Duyệt-Đế-Lợi được sanh lên cơi trời đến nay đă ba ngày rồi.

Nghe nói nhờ con gái của người có ḷng hiếu thuận, v́ mẹ mà sắm sửa lễ vật, tu tạo phước lành, cúng dường chùa tháp, thờ đức Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương Như-Lai. Chẳng phải chỉ riêng thân mẫu của Bồ-tát đặng thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhơn Vô-Gián cũng đều được vui vẻ, đồng đặng thác sanh cả'.

Nói xong, Quỉ-Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui.

Bấy giờ, Thánh Nữ dường chiêm bao chợt thức tỉnh, rơ biết việc đó rồi, bèn đối trước tháp tượng của đức Giác-Hoa-Định-Tự-Tại-Vương Như Lai mà phát thệ nguyện rộng lớn rằng:

- 'Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, th́ tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát'.

Đức Phật bảo Ngài Văn-Thù Sư-Lợi rằng: 'Quỉ-Vương Vô-Độc trước đó nay chính ông Tài-Thủ Bồ-tát. C̣n Thánh Nữ Bà-La-Môn đó nay là Địa-Tạng Bồ Tát vậy'.

Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội  [M]

1) Hóa Thân Cùng Quyến Thuộc - Lúc đó phân thân Địa-Tạng Bồ Tát ở các nơi có địa ngục trăm ngh́n muôn ức bất-khả-tư, bất-khả-nghị, bất-khả-lượng, bất-khả-thuyết, vô lượng vô số thế giới đều đến hội họp tại cung trời Đao-Lợi.

Do nhờ thần lực của Như-Lai, phân thân đó hiệp với những chúng đă được giải thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo ở mười phương, cũng đều đông đến số ngh́n muôn ức na-do-tha, đồng cầm hương hoa đến cúng dường Phật.

Những chúng cùng đến với phân thân đó, thảy đều nhờ Địa-Tạng Bồ Tát giáo hóa làm cho trụ nơi đạo vô thượng chánh-đẳng chánh-giác trọn không c̣n thối chuyển.

Những chúng đó từ kiếp lâu xa đến nay trôi lăn trong ṿng sanh tử ở trong sáu đường, chịu những điều khổ sở không có lúc nào tạm ngừng dứt, nhờ ḷng từ bi lớn và thệ nguyện sâu dày của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được đạo quả.

Đại chúng đó khi đă đến cung trời Đao-Lợi, ḷng họ vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng đức Như-Lai mắt nh́n măi không rời.

2) Đức Như-Lai An Ủi Ủy Thác - Bấy giờ, Thế-Tôn dơ tay sắc vàng xoa đảnh của hóa thân Địa-Tạng đại Bồ Tát trong trăm ngh́n muôn ức bất-khả-tư, bất-khả-nghị, bất-khả-lượng, bất-khả-thuyết, vô lượng vô số thế giới, mà dạy rằng: 'Ta ở trong đời ác ngũ trược giáo hóa những chúng sanh cang cường như thế, làm cho ḷng chúng nó điều phục bỏ tà về chánh; nhưng trong mười phần vẫn c̣n một hai phần chúng sanh quen theo tánh ác.

Muốn độ chúng đó, Ta cũng phân ngh́n trăm ức thân lập ra nhiều phương chước. Trong chúng sanh đó, hoặc có người căn tánh sáng lẹ nghe pháp của Ta thời liền tín nhận. Hoặc có người phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu, được thiện quả. Hoặc có kẻ v́ tội nghiệp quá nặng nên chẳng đem ḷng kính tin ngưỡng mộ.

Ta phân ra nhiều thân độ thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân trai, hoặc hiện ra thân gái, hoặc hiện ra thân Trời, Rồng, hoặc hiện ra thân Quỉ, Thần, hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ng̣i, ao, rạch, suối, làm lợi ích cho mọi người, để rồi độ họ được giải thoát.

Hoặc hiện ra thân Thiên-Đế, hoặc hiện ra thân trời Phạm-Vương, hoặc hiện ra thân vua Chuyển-Luân, hoặc hiện ra thân Quốc-Vương, hoặc hiện ra thân Cư-Sĩ, hoặc hiện ra thân Tể-Phụ, hoặc hiện ra thân các hàng quan thuộc, hoặc hiện ra thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.

Nhẫn đến hiện ra những thân Thanh-Văn, La-Hán, Bích-Chi-Phật và Bồ Tát để hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!

Địa-Tạng! Ông xem Ta đă trải qua bao số kiếp nhọc nhằn độ thoát những chúng sanh cang cường đầy tội khổ khó khai hóa như thế. Ngoài ra những kẻ chưa điều phục được, thời phải theo nghiệp thọ báo.

Nếu khi chúng nó có bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ, thời ông nên nghĩ nhớ Ta ở cung Trời Đao-Lợi ân cần phó chúc đây mà gắng độ chúng sanh, làm cho chúng sanh trong cơi Ta-Bà nầy đến lúc Phật Di-Lặc ra đời, đều đặng giải thoát khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được đức Phật thọ kư'.

Bấy giờ, những hóa thân Địa-Tạng Bồ Tát ở các thế giới hiệp chung lại một h́nh, rơi lệ thương cảm mà bạch cùng đức Phật rằng: Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ đức Thế-Tôn tiếp độ dắt d́u làm cho con được thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.

Con phân hiện thân h́nh ra ở cùng khắp trăm ngh́n muôn ức Hằng-hà-sa thế giới. Trong mỗi thế giới hóa hiện trăm ngh́n muôn ức thân. Mỗi thân đó hóa độ trăm ngh́n muôn ức người làm cho quy kính ngôi Tam-Bảo, khỏi hẳn ṿng sanh tử hưởng vui Niết-Bàn.

Những chúng sanh nào ở nơi Phật Pháp chỉ làm việc lành bằng một sợi lông, một giọt nước, một hột cát, một bụi nhỏ, hoặc chỉ bằng chừng mảy lông tóc, con đều độ thoát lần lần, làm cho chúng nó được lợi ích lớn.

Cúi mong đức Như-Lai chớ v́ những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh ḷng lo lắng!...'

Cúi mong đức Như-Lai chớ v́ những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh ḷng lo lắng!...'

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật ba lần như thế.

Lúc ấy, đức Phật khen Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Hay thay! Hay thay! Ta hỗ trợ cho ông được toại nguyện! Từ số kiếp lâu xa đến nay thường phát nguyện rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh xong rồi, thời ông liền chứng quả Bồ-đề'.

Phẩm Thứ Ba: Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên  [M]

1) Phật Mẫu Thưa Hỏi - Lúc đó, đức Phật-Mẫu là bà Ma-Gia Phu-Nhơn chắp tay cung kính mà hỏi Ngài Địa-Tạng Bồ Tát: 'Thánh-giả! Chúng sanh trong cơi Diêm-Phù-Đề tạo nghiệp sai khác, cảm thọ quả báo ra thế nào?'.

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: 'Trong ngh́n muôn thế giới cho đến quốc độ, hoặc nơi thời có địa ngục, nơi thời không có địa ngục, hoặc nơi thời có hàng nữ nhơn, nơi thời không có hàng nữ nhơn, hoặc nơi có Phật Pháp, nơi không có Phật Pháp, nhẫn đến bực Thanh Văn và Bích Chi Phật, v.v... Cũng sai khác như thế, chớ chẳng phải riêng tội báo nơi địa ngục sai khác thôi đâu!'.

Bà Ma-Gia Phu-Nhơn lại bạch cùng Bồ Tát rằng: 'Tôi muốn nghe tội báo trong cơi Diêm Phù Đề chiêu cảm lấy ác đạo'.

Ngài Địa-Tạng đáp rằng: 'Thánh-Mẫu! Trông mong ngài lóng nghe nhận lấy, tôi sẽ lược nói việc đó'.

Thánh-Mẫu bạch rằng: 'Xin Thánh-Giả nói cho'.

2) Bồ Tát Lược Thuật - Bây giờ, Ngài Địa-Tạng Bồ Tát thưa Thánh-Mẫu rằng: 'Danh hiệu của những tội báo trong cơi Nam-Diêm-Phù-Đề như dưới đây:

- Như có chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ, kẻ đó phải đọa vào Vô-Gián địa ngục măi đến ngh́n muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được.

Như có chúng sanh nào có ḷng ác, làm thân Phật bị thương chảy máu, khinh chê ngôi Tam-Bảo, chẳng kính Kinh-điển, cũng phải đọa vào Vô-Gián địa ngục, trong ngh́n muôn ức kiếp không khi nào ra khỏi được.

Hoặc có chúng sanh xâm tổn của thường trụ, ô phạm Tăng, Ni, hoặc tứ t́nh làm sự dâm loạn trong chốn chùa chiền, hoặc giết hoặc hại ... Những chúng sanh đó phải đọa vào Vô-Gián địa ngục, trong ngh́n muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được.

Như có chúng sanh giả làm thầy Sa-Môn kỳ thật tâm chẳng phải Sa-Môn, lạm dụng của thường trụ, trái phạm giới luật, gạt gẫm hàng bạch y, tạo nhiều điều tội ác. Hạng người như thế phải đọa vào Vô-Gián địa ngục, trong ngh́n muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được.

- Hoặc có chúng sanh trộm cắp những tài vật lúa gạo, đồ ăn uống y-phục, v.v... của thường trụ, cho đến không cho mà lấy một vật, kẻ đó phải đọa vào Vô-Gián địa ngục trong ngh́n muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được.

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát thưa rằng: 'Thánh-Mẫu! Nếu có chúng sanh nào phạm những tội như trên đó thời phải đọa vào địa ngục ngũ Vô-Gián, cầu tạm ngừng sự đau khổ chừng khoảng một niệm cũng không được'.

Bà Ma-Gia Phu-Nhơn lại bạch cùng Địa-Tạng Bồ Tát: 'Thế nào là Vô-Gián địa ngục?'.

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát thưa rằng: 'Thánh Mẫu! Bao nhiêu địa ngục ở trong núi Thiết Vi, lớn có 18 chỗ, thứ kế đó 500 chỗ danh hiệu đều riêng khác nhau, thứ kế lại có ngh́n trăm danh hiệu cũng đều riêng khác nhau.

Nói về địa ngục Vô Gián đó, giáp ṿng ngục thành hơn tám muôn dặm, thành đó thuần bằng sắt cao đến một muôn dặm. Lửa cháy trên thành không có chỗ nào hở trống. Trong ngục thành đó có các nhà ngục liên tiếp nhau đều có danh hiệu sai khác.

Riêng có một sở ngục tên là Vô Gián. Ngục này châu vi một muôn tám ngh́n dặm, tường ngục cao một ngh́n dặm, toàn bằng sắt cả. Lửa cháy hực hở suốt trên suốt dưới. Trên tường ngục rắn sắt, chó sắt, phun lửa đuổi nhau chạy bên này sang bên kia.

Trong ngục có giường rộng khắp muôn dặm. Một người thọ tội thời tự thấy thân ḿnh nằm đầy chật cả giường, đến ngh́n muôn người thọ tội cũng đều tự thấy thân của ḿnh nằm chật cả trên giường. Đó là do v́ những tội nghiệp đă tạo ra nó cảm vời như thế.

Lại những người tội chịu đủ sự khổ sở: trăm ngh́n quỉ Dạ-Xoa cùng với loài ác quỉ, răng nanh bén nhọn dường gươm, cặp mắt chói sáng như chớp nhoáng, móng tay cứng như đồng, móc ruột bằm chặt.

Lại có quỉ Dạ-Xoa khác cầm chỉa lớn bằng sắt đâm vào ḿnh người tội, hoặc đâm trúng miệng mũi, hoặc đâm trúng bụng lưng... rồi dồi lên trên không, lấy chỉa hứng lấy để lại trên giường. Lại có diều hâu bằng sắt mổ mắt người tội.

Lại có rắn sắt cắn đầu người tội. Nơi lóng đốt khắp trong thân thể đều lấy đinh dài đóng xuống giường, kéo lưỡi ra rồi cầy bừa trên đó, lôi kéo người tội, nước đồng đổ vào miệng, dây sắt nóng đỏ quấn lấy thân người tội, một ngày một đêm, muôn lần chết muôn lần sống lại. Do v́ tội nghiệp mà cảm lấy như thế, trải qua ức kiếp, không lúc nào ra khỏi được.

Lúc thế giới này hư hoại thời sanh nhờ qua địa ngục ở thế giới khác. Lúc thế giới khác đó hư hoại thời lại sanh vào cơi khác nữa. Lúc cơi khác đó hư hoại thời cũng xoay vần sanh vào cơi khác. Đến khi thế giới này thành xong thời sanh trở về thế giới này. Những sự tội báo trong ngục Vô Gián như thế đó.

Lại địa ngục đó do có năm điều nghiệp cảm, nên kêu là Vô Gián. Năm điều đó là những ǵ?

1) Tội nhơn trong đó chịu khổ ngày lẫn đêm, cho đến trải qua số kiếp không lúc nào ngừng ngớt, nên gọi là Vô Gián.

2) Một người tội thân đầy chật cả địa ngục, nhiều người tội mỗi thân cũng đều chật đầy cả địa ngục, nên gọi là Vô Gián.

3) Những khí cụ để hành h́nh tội nhơn như: chỉa ba, gậy, diều hâu, rắn, sói, chó, cối giă, cối xay, cưa, đục, dao mác, chảo dầu sôi, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống niền dầu nước sắt nóng rưới thân, đói thời ăn hoàn sắt nóng, khát thời uống nước sắt sôi. Từ năm trọn kiếp, đến vô số kiếp những sự khổ sở nối nhau luôn không một giây ngừng ngớt nên gọi là Vô Gián.

4) Không luận là trai hay gái, Mường, Mán, Mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc là Rồng, là Trời, hoặc là Thần, là Quỉ, hễ gây tội ác theo đó mà cảm lấy, tất cả đều đồng chịu khổ nên gọi là Vô Gián.

5) Nếu người nào bị đọa vào địa ngục đó, thời từ khi mới vào cho đến trăm ngh́n kiếp mỗi một ngày đêm muôn lần chết, muôn lần sống lại, muốn cầu tạm ngừng chừng một khoảng niệm cũng không đặng, trừ khi tội nghiệp tiêu hết mới đặng thọ sanh. Do v́ lẽ liên miên măi nên gọi là Vô Gián.

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát thưa Thánh Mẫu rằng: 'Nói sơ lược về địa ngục Vô-Gián như thế. Nếu nói rộng ra thời tên của những khí cụ để hành tội cùng những sự thống khổ trong địa ngục đó, dầu đến suốt một kiếp cũng không thể nào nói cho hết được.'

Bà Ma-Gia Phu Nhơn nghe Ngài Địa-Tạng Bồ Tát nói xong, không xiết lo rầu. Bà chắp tay đảnh lễ Bồ Tát mà lui ra.

Phẩm Thứ Tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh  [M]

1) Bồ Tát Vâng Chỉ - Lúc đó, Ngài Địa-Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: 'Bạch Thế-Tôn! Con nương sức oai thần của đức Như-Lai, nên chia thần này ở khắp trăm ngh́n muôn ức thế giới, để cứu vớt tất cả chúng sanh bị nghiệp báo.

Nếu không nhờ sức đại từ của đức Như-Lai, thời chẳng có thể biến hóa ra như thế được. Nay con lại được Như-Lai phó chúc: từ nay đến khi Ngài A Dật Đa thành Phật, làm cho chúng sanh trong sáu đường đều đặng độ thoát. Xin vâng! Bạch đức Thế-Tôn! Xin đức Thế-Tôn chớ lo!'.

Bấy giờ đức Phật bảo Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Những chúng sanh mà chưa được giải thoát, tánh thức của nó không định, hễ quen làm dữ thời kết thành nghiệp báo dữ, c̣n quen làm lành thời kết thành quả báo lành.

Làm lành cùng làm dữ tùy theo cảnh duyên mà sanh ra lăn măi trong năm đường không lúc nào tạm ngừng ngớt, mê lầm chướng nạn trải đến kiếp số nhiều như vi trần.

Ví như loài cá bơi lội trong lưới theo ḍng nước chảy, thoạt hoặc tạm được ra, rồi lại mắc vào lưới. V́ thế nên ta phải lo nghĩ đến những chúng sanh đó.

Đời trước ông trót đă lập nguyện trải qua nhiều kiếp phát thệ rộng lớn độ hết cả hàng chúng sanh bị tội khổ, thời Ta c̣n lo ǵ!'

2) Định Tự Tại Vương Bạch Hỏi - Khi đức Phật dạy lời như thế xong, trong Pháp hội có vị đại Bồ Tát hiệu là Định-Tự-Tại-Vương ra bạch cùng đức Phật rằng:

'Bạch Thế-Tôn! Từ nhiều kiếp đến nay, Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đă phát thệ nguyện ǵ, mà nay được đức Thế-Tôn ân cần ngợi khen như thế? Cúi mong đức Thế-Tôn lược nói cho'.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn bảo Ngài Định-Tự-Tại-Vương Bồ Tát: 'Lóng nghe! lóng nghe! Phải khéo suy xét đó, Ta sẽ v́ ông mà giải bày rơ ràng.'

3) Ông Vua Nước Lân Cận - Vô lượng vô số na-do-tha bất khả thuyết kiếp về thuở trước. Lúc đó, có đức Phật ra đời hiệu là Nhất-Thiết-Trí-Thành-Tựu Như-Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế-Tôn.

Đức Phật đó thọ sáu muôn kiếp. Khi Ngài chưa xuất gia, thời Ngài làm Vua một nước nhỏ kia, kết bạn cùng với Vua nước lân cận; hai Vua đồng thật hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhơn dân.

Nhơn dân trong nước lân cận đó phần nhiều tạo những việc ác. Hai Vua cùng nhau bàn tính t́m những phương chước để dắt d́u dân chúng ấy.

Một ông phát nguyện: 'Tôi nguyện sớm thành Phật sẽ độ dân chúng ấy làm cho đều được giải thoát không c̣n thừa'.

Một ông phát nguyện: 'Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Đề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật'.

Đức Phật bảo Ngài Định-Tự-Tại-Vương rằng: 'Ông Vua phát nguyện sớm thành Phật đó, chính là đức Nhứt-Thiết-Trí-Thành-Tựu Như-Lai.

C̣n ông Vua phát nguyện độ chưa hết những chúng sanh tội khổ thời chưa nguyện thành Phật đó, chính là Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đây vậy.'

4) Quang Mục Cứu Mẹ - Lại vô lượng vô số kiếp về thuở trước, có đức Phật ra đời, hiệu là Liên-Hoa-Mục Như-Lai. Đức Phật đó thọ bốn mươi kiếp.

Trong thời mạt pháp, có một vị La-Hán phước đức cứu độ chúng sanh. Nhơn v́ đi tuần tự giáo hóa mọi người, La-Hán gặp một người nữ tên là Quang Mục, nàng này sắm sửa đồ ăn cúng dường La-Hán.

La-Hán thọ cúng rồi hỏi: 'Nàng muốn những ǵ?'.

Quang Mục thưa rằng: 'Ngày thân mẫu tôi khuất, tôi làm việc phước thiện để nhờ đó mà cứu vớt thân mẫu tôi, chẳng rơ thân mẫu tôi thác sanh vào đường nào?'

La-Hán nghe nói cảm thương bèn nhập định quan sát, thời thấy bà mẹ của Quang Mục đọa vào chốn địa ngục rất khổ sở.

La-Hán hỏi Quang Mục rằng: 'Thân Mẫu ngươi lúc sanh tiền đă làm những hạnh nghiệp ǵ, mà nay phải đọa vào chốn địa ngục rất khổ sở như thế?'

Quang Mục thưa rằng: 'Ngày c̣n sống, thân mẫu tôi chỉ ưa ăn thịt loài cá trạnh, phần nhiều là hay ăn cá con và trạnh con, hoặc chiên, hoặc nấu, tha hồ mà ăn cho thỏa măn.

Nếu tính đếm số cá trạnh của người đă ăn thời đến hơn ngh́n muôn. Xin Tôn Giả thương xót chỉ dạy phải làm cách nào để cứu thân mẫu tôi?'

La-Hán xót thương bèn dạy phương chước, ngài khuyên Quang Mục rằng:

'Ngươi phải đem ḷng chí thành mà niệm đức Thanh-Tịnh-Liên-Hoa-Mục Như-Lai, và vẽ đắp h́nh tượng đức Phật, thời kẻ c̣n cùng người mất đều được phước lợi!'

Quang Mục nghe xong, liền xuất tiền của, họa tượng Phật mà thờ cúng. Nàng lại đem ḷng cung kính, khóc than chiêm ngưỡng đảnh lễ tượng Phật.

Đêm đó, nàng chiêm bao thấy thân của đức Phật sắc vàng sáng chói như ḥn núi Tu-Di. Đức Phật phóng ánh sáng mà bảo Quang Mục rằng: 'Chẳng bao lâu đây thân mẫu ngươi sẽ thác sanh vào trong nhà của ngươi, khi vừa biết đói lạnh thời liền biết nói'.

Sau đó, đứa tớ gái trong nhà sanh một đứa con trai, chưa đầy ba ngày đă biết nói. Trẻ đó buồn khóc mà nói với Quang Mục rằng:

'Nghiệp duyên trong ṿng sanh tử phải tự lănh lấy quả báo. Tôi là mẹ của người, lâu nay ở chốn tối tăm. Từ khi vĩnh biệt người, tôi phải đọa vào đại địa ngục.

Nhờ phước lực của người, nên nay được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm số mạng ngắn ngủi, năm mười ba tuổi đây sẽ bị đọa vào địa ngục nữa. Người có phương thế ǵ làm cho tôi được thoát khỏi nỗi khổ sở?'

Nghe đứa trẻ nói, Quang Mục biết chắc là mẹ ḿnh. Nàng nghẹn ngào khóc lóc mà nói với đứa trẻ rằng: 'Đă là mẹ của tôi, thời phải biết tội của ḿnh, đă gây tạo hạnh nghiệp chi mà bị đọa vào địa ngục như thế?'

Đứa trẻ đáp rằng: 'Do hai nghiệp: giết hại sinh vật và chê bai mắng nhiếc, mà thọ báo khổ. Nếu không nhờ phước đức của người cứu nạn tôi, thời cứ theo tội nghiệp đó vẫn c̣n chưa được thoát khổ'.

Quang Mục hỏi rằng: 'Những việc tội báo trong địa ngục ra làm sao?'

Đứa trẻ đáp rằng: 'Những việc tội khổ nói ra càng bất nhẫn, dẫu đến trăm ngh́n năm cũng không thuật hết được'.

Quang Mục nghe xong, than khóc rơi lệ mà bạch cùng giữa hư không rằng:

'Nguyện cho thân mẫu tôi khỏi hẳn địa ngục khi măn mười ba tuổi không c̣n có trọng tội cùng không c̣n đọa vào ác đạo nữa.

Xin chư Phật trong mười phương thương xót chứng minh cho tôi, v́ mẹ mà tôi phát nguyện rộng lớn như vầy:

Như thân mẫu tôi khỏi hẳn chốn tam đồ và hạng hạ tiện cùng thân gái, cùng kiếp không c̣n thọ những quả báo xấu đó nữa, tôi đối trước tượng của đức Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục Như-Lai mà phát lời nguyện rằng: Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm ngh́n muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh và ngạ quỉ, v.v...

Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác'.

Quang Mục phát nguyện đó xong, liền nghe tiếng của Đức Phật Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục Như-Lai dạy rằng: 'Này Quang Mục! Nhà ngươi rất có ḷng từ mẫn, v́ mẹ mà phát ra lời thệ nguyện rộng lớn như thế thật là hay lắm!

Ta quan sát thấy mẹ nhà ngươi lúc măn mười ba tuổi, khi bỏ báo thân này sẽ thác sanh làm người Phạm Chí sống lâu trăm tuổi.

Sau đó văng sanh về cơi nước Vô Ưu sống lâu đến số không thể tính kể.

Sau rốt sẽ thành Phật độ nhiều hạng người, trời, số đông như số cát sông Hằng'.

Đức Phật bảo Ngài Định-Tự-Tại-Vương Bồ Tát rằng: 'Vị La-Hán phước lành độ Quang Mục thuở đó, chính là Vô-Tận-Ư Bồ Tát. Thân mẫu của Quang Mục là Ngài Giải Thoát Bồ Tát.

C̣n Quang Mục thời là Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đây vậy. Trong nhiều kiếp lâu xa về trước Ngài có ḷng từ mẫn, phát ra hằng hà sa số lời thệ nguyện độ khắp chúng sanh như thế.

Trong đời sau, như có chúng sanh không làm lành, mà làm ác, nhẫn đến kẻ chẳng tin luật nhân quả, kẻ tà dâm, vọng ngữ, kẻ lưỡng thiệt, ác khẩu, kẻ hủy báng Đại Thừa. Những chúng sanh có tội nghiệp như thế chắc phải bị đọa vào ác đạo.

Nếu gặp được hàng thiện tri thức khuyên bảo quy y với Ngài Địa Tạng Bồ Tát chừng trong khoảng khảy móng tay, những chúng sanh đó liền đặng thoát khỏi báo khổ nơi ba ác đạo.

Nếu người nào có thể quy kính và chiêm ngưỡng đảnh lễ ngợi khen, cùng dưng cúng những y phục, đồ ăn vật uống, các thứ trân bảo.... Thời người đó, trong trăm ngh́n muôn ức kiếp sau, thường ở cơi trời hưởng thọ sự vui thắng diệu.

Hoặc lúc phước trời hết, sanh xuống chốn nhơn gian, vẫn c̣n thường làm vị Đế Vương trong trăm ngh́n kiếp; lại nhớ được cội ngành nhơn quả trong các đời trước của ḿnh.

Này Định-Tự-Tại-Vương! Ngài Địa-Tạng Bồ Tát có sức oai thần rất lớn không thể nghĩ bàn, nhiều sự lợi ích cho chúng sanh như thế. Các ông, những bực Bồ Tát, phải ghi nhớ kinh này hầu tuyên truyền lưu bố rộng ra'.

Ngài Định-Tự-Tại-Vương bạch Đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! xin Phật chớ lo! Ngh́n muôn ức đại Bồ Tát chúng con đều có thể nương oai thần của Phật mà tuyên lưu rộng kinh này nơi cơi Diêm-Phù-Đề để cho lợi ích chúng sanh'.

Ngài Định-Tự-Tại-Vương Bồ Tát bạch với Đức Phật xong, bèn cung kính chắp tay lễ Phật mà lui ra.

5) Tứ Thiên Vương Hỏi Phật - Bấy giờ, bốn ông Thiên Vương đồng từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Địa-Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa nhẫn lại đă phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao ngày nay mà vẫn độ chưa hết, Ngài lại c̣n phải phát lời nguyện rộng lớn nữa? Cúi mong đức Thế-Tôn dạy cho chúng con rơ'.

Đức Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng: 'Hay thay! Hay thay! Nay v́ muốn được sự lợi cho chúng sanh. Ta v́ các ông cùng chúng thiên nhơn ở hiện tại và vị lai, mà nói những sự phương tiện của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát ở trong đường sanh tử nơi Diêm-Phù-Đề ở Ta-Bà thế giới này, v́ ḷng từ mẫn xót thương mà cứu vớt, độ thoát tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ'.

Bốn ông Thiên Vương bạch rằng: 'Vâng! Bạch đức Thế-Tôn! Chúng con xin muốn được nghe'.

6) Phương Tiện Giáo Hóa - Đức Phật bảo bốn ông Thiên Vương rằng:

'Từ kiếp lâu xa nhẫn đến ngày nay, Ngài Địa-Tạng Bồ Tát độ thoát chúng sanh vẫn c̣n chưa măn nguyện, Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ đời này, lại quan sát vô lượng kiếp về sau, tội khổ cứ lây dây măi không dứt.

V́ lẽ đó nên Ngài phát ra lời trọng nguyện.

Địa-Tạng Bồ Tát ở trong cơi Diêm-Phù-Đề nơi thế giới Ta-Bà, dùng trăm ngh́n muôn ức phương chước để giáo hóa chúng sanh.

Nầy bốn ông Thiên Vương! Ngài Địa-Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát hại loài sanh vật, thời dạy rơ quả báo v́ ương lụy đời trước mà phải bị chết yểu.- Nếu gặp kẻ trộm cắp, thời Ngài dạy rơ quả báo nghèo- khốn khổ sở.- Nếu gặp kẻ tà dâm thời Ngài dạy rơ quả báo làm chim se-sẻ, bồ câu, uyên-ương.

-Nếu gặp kẻ nói lời thô ác, thời Ngài dạy rơ quả báo quyến thuộc ḱnh chống nhau.- Nếu gặp kẻ hay khinh chê, thời Ngài dạy rơ quả báo không lưỡi, miệng lở.- Nếu gặp kẻ nóng giận, thời Ngài dạy rơ quả báo thân h́nh xấu xí tàn tật.

Nếu gặp kẻ bỏn xẻn, thời Ngài dạy rơ quả báo cầu muốn không được toại nguyện.- Nếu gặp kẻ buông lung săn bắn, thời Ngài dạy rơ quả báo kinh hăi điên cuồng mất mạng.

-Nếu gặp kẻ trái nghịch cha mẹ, thời Ngài dạy rơ quả báo trời đất tru lục.- Nếu gặp kẻ đốt núi rừng cây cỏ, thời Ngài dạy rơ quả báo cuồng mê đến chết.- Nếu gặp cha ghẻ, mẹ ghẻ ăn ở độc ác, thời Ngài dạy rơ quả báo thác sanh trở lại hiện đời bị roi vọt.

Nếu gặp kẻ dùng lưới bắt chim non, thời Ngài dạy rơ quả báo cốt nhục chia ĺa.- Nếu gặp kẻ hủy báng Tam-Bảo, thời Ngài dạy rơ quả báo đui, điếc, câm, ngọng.

Nếu gặp kẻ khinh chê giáo pháp thời Ngài dạy rơ quả báo ở măi trong ác đạo.- Nếu gặp kẻ lạm phá của thường trụ, thời Ngài dạy rơ quả báo ức kiếp luân hồi nơi địa ngục.- Nếu gặp kẻ ô nhục người hạnh thanh tịnh và vu báng Tăng già, thời Ngài dạy rơ quả báo ở măi trong loài súc sanh.

- Nếu gặp kẻ dùng nước sôi hay lửa, chém chặt, giết hại sinh vật, thời Ngài dạy rơ quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn nhau. - Nếu gặp kẻ phá giới phạm trai, thời Ngài dạy rơ quả báo cầm thú đói khát.

- Nếu gặp kẻ phung phí phá tổn của cải một cách phi lư, thời Ngài dạy rơ quả báo tiêu dùng thiếu hụt.- Nếu gặp kẻ tao ta kiêu mạn cống cao, thời Ngài dạy rơ quả báo hèn hạ bị người sai khiến.

Nếu gặp kẻ đâm chọc gây gỗ, thời Ngài dạy rơ quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi.- Nếu gặp kẻ tà kiến mê tín, thời Ngài dạy rơ quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh.

Những chúng sanh trong cơi Diêm-Phù-Đề, từ nơi thân khẩu ư tạo ác, kết quả trăm ngh́n muôn sự báo ứng như thế, nay chỉ nói sơ lược đó thôi.

Những nghiệp cảm sai khác của chúng sanh trong chốn Diêm-Phù-Đề như thế, Địa-Tạng Bồ Tát dùng trăm ngh́n phương chước để giáo hóa đó.

Những chúng sanh ấy trước phải chịu phải chịu lấy các quả báo như thế, sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi.

V́ thế nên các ông là bậc hộ vệ người cùng bảo trợ cơi nước, chớ để những nghiệp chướng đó nó làm mê hoặc chúng sanh.

Bốn ông Thiên Vương nghe xong, rơi lệ than thở chấp tay lễ Phật mà lui ra.  

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Quyển Thượng Hết

Mục lục | 01 | 02 | 03

Bổn nguyện Địa-Tạng .

Đao Lợi Thiên Cung,

Thần Thông hiển hóa độ quần mông,

Đời ngũ trược khó thông,

Chúng sanh cang cường,

Ham vui khổ vô cùng.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật. (3 lần)

Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát. (3 lần)

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Quyển Trung

Phẩm Thứ Năm: Danh Hiệu Của Địa Ngục  [M]

1- Phổ Hiền Hỏi - Lúc đó, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa cùng Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Thưa Nhơn Giả! Xin Ngài v́ Trời, Rồng bát bộ và tất cả chúng sanh ở hiện tại cùng vị lai, mà nói danh hiệu của những địa ngục là chỗ thọ báo của những hạng chúng sanh bị tội khổ ở trong cơi Ta-Bà cùng Diêm-Phù-Đề này, và nói những sự về quả báo không lành. Làm cho chúng sanh trong thời mạt pháp sau này biết rơ những quả báo đó'.

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: 'Thưa Nhơn Giả! Nay tôi nương oai thần của Đức Phật cùng oai lực của Ngài mà nói danh hiệu của các địa ngục, cùng những sự về tội báo và ác báo.

Danh Hiệu Của Địa Ngục - Thưa Nhơn Giả! Phương Đông của Diêm-Phù-Đề có dăy núi tên là Thiết-Vi. Dăy núi đó tối thẳm không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, trong đó có địa ngục lớn tên là Cực-Vô-Gián.

Lại có địa ngục tên là Đại-A-Tỳ, lại có địa ngục tên là Tứ-Giác, lại có địa ngục tên là Phi-Đao, lại có địa ngục tên là Hơa-Tiễn, lại có địa ngục tên là Giáp-Sơn, lại có địa ngục tên là Thông-Thương.

Lại có địa ngục tên là Thiết Xa, lại có địa ngục tên là Thiết-Sàng, lại có địa ngục tên là Thiết-Ngưu, lại có địa ngục tên là Thiết-Y, lại có địa ngục tên là Thiên-Nhẫn, lại có địa ngục tên là Thiết-Lư.

Lại có địa ngục tên là Dương-Đồng, lại có địa ngục tên là Bảo-Trụ, lại có địa ngục tên là Lưu-Hỏa, lại có địa ngục tên là Canh-Thiệt, lại có địa ngục tên là Tỏa-Thủ, lại có địa ngục tên là Thiên-Cước.

Lại có địa ngục tên là Đạm-Nhăn, lại có địa ngục tên là Thiết-Hoàn, lại có địa ngục tên là Tránh-Luận, lại có địa ngục tên là Thiết-Thù, lại có địa ngục tên là Đa-Sân...

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát nói rằng: 'Thưa Nhơn Giả! Trong dăy núi Thiết-Vi có những địa ngục như thế số nhiều vô hạn. Lại có địa ngục Kiếu Oán, địa ngục Bạt Thiệt, địa ngục Phẩn Niếu, địa ngục Đồng Toả, địa ngục Hỏa Tượng, địa ngục Hỏa Cẩu, địa ngục Hỏa Mă, địa ngục Hỏa Ngưu, địa ngục Hỏa Thạch, địa ngục Hỏa Sàng, địa ngục Hỏa Lương, địa ngục Hỏa Ưng, địa ngục Cứ Nha, địa ngục Bác B́, địa ngục Ẩm Huyêt, địa ngục Thiêu Thủ, địa ngục Thiêu Cước, địa ngục Đảo Thích, địa ngục Hỏa Ốc, địa ngục Thiết Ốc, địa ngục Hỏa Lang....

Những địa ngục như thế trong đó mỗi ngục lớn lại có những ngục nhỏ, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, nhẫn đến trăm ngh́n, trong số đó danh hiệu chẳng đều đồng nhau'.

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát nói với Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng:'Thưa Nhơn Giả! Đó đều là do chúng sanh trong cơi Diêm-Phù-Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế.

Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu-Di, có thể sâu dường biển cả, có thể ngăn đạo thánh'.

V́ thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy.

Chí thân như cha với con, mỗi người cũng theo nghiệp của ḿnh mà đi khác đường, dầu có gặp nhau cũng chẳng bằng ḷng chịu khổ cho nhau.

Nay tôi nương oai lực của Đức Phật mà nói sơ lược những sự tội báo nơi địa ngục. Trông mong Nhơn Giả tạm nghe lời đó'.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp rằng: 'Dầu từ lâu tôi đă rơ tội báo nơi ba đường ác đạo rồi, nhưng tôi muốn Nhơn Giả nói ra để làm cho tất cả chúng sanh có tâm hạnh ác trong đời mạt pháp sau này, nghe được lời dạy của Nhơn Giả, mà biết quy hướng về Giáo Pháp của Phật'.

Tội Báo Trong Địa Ngục - Ngài Địa-Tạng Bồ Tát nói rằng: 'Thưa Nhơn Giả! Những sự tội báo trong chốn địa ngục như vầy:

Hoặc có địa ngục kéo lưỡi người tội ra mà cho trâu cày trên đó, hoặc có địa ngục moi tim người tội để cho quỉ Dạ Xoa ăn, hoặc có địa ngục vạc dầu sôi sùng sục nấu thân người tội, hoặc có địa ngục đốt cột đồng cháy đỏ rồi bắt người tội ôm lấy.

Hoặc có địa ngục từng bựng lửa lớn bay tấp vào người tội, hoặc có địa ngục toàn cả thuần là băng giá, hoặc có địa ngục đầy vô hạn đồ phẩn tiểu, hoặc có địa ngục lao gai chông sắt, hoặc có địa ngục đâm nhiều giáo lửa.

Hoặc có địa ngục chỉ đập vai lưng, hoặc có địa ngục chỉ đốt chân tay, hoặc có địa ngục cho rắn sắt cuốn cắn, hoặc có địa ngục xua đuổi chó sắt, hoặc có địa ngục đóng ách lừa sắt.

Nhơn Giả! Những quả báo như thế trong mỗi mỗi ngục có trăm ngh́n thứ khí cụ để hành h́nh, đều là bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, bằng lửa. Bốn loại khí cụ này do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra.

Nếu tôi thuật rơ cả những sự về tội báo ở địa ngục, thời trong mỗi địa ngục lại c̣n có trăm ngh́n thứ khổ sở, huống chi là nhiều ngục!

Nay tôi nương sức oai thần của Đức Phật và v́ Nhơn Giả hỏi mà nói sơ lược như thế. Nếu nói rơ cả thời cùng kiếp nói cũng không hết'.

Phẩm Thứ Sáu: Như Lai Tán Thán  [M]

1) Phật Phóng Quang Dặn Bảo - Lúc đó khắp thân của Thế-Tôn phóng ra ánh sáng lớn soi khắp đến trăm ngh́n muôn ức Hằng hà sa cơi nước của chư Phật; trong ánh sáng đó vang ra tiếng lớn bảo khắp các cơi nước của chư Phật rằng:

'Tất cả hàng đại Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỉ, Thần v.v... lóng nghe hôm nay Ta khen ngợi rao bày những sự của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát ở trong mười phương thế giới, hiện ra sức từ bi oai thần không thể nghĩ bàn, để cứu giúp tất cả tội khổ chúng sanh.

Sau khi ta diệt độ, thời hàng Bồ Tát Đại Sĩ các ông cùng với Trời, Rồng, Quỉ, Thần v.v... nên dùng nhiều phương chước để giữ ǵn kinh này, làm cho tất cả mọi loài chúng sanh đều khỏi tất cả sự khổ, mà chứng cảnh vui Niết Bàn'.

2) Phổ Quảng Thưa Thỉnh - Nói lời ấy xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Phổ Quảng cung kính chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: 'Nay con nghe đức Thế-Tôn ngợi khen Ngài Địa-Tạng Bồ Tát có đức oai thần rộng lớn không thể nghĩ bàn như thế.

Trông mong đức Như-Lai lại v́ những chúng sanh trong thời mạt pháp sau này, mà tuyên nói các sự nhơn quả của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho hàng Trời, Người. Làm cho hàng Trời, Rồng, bát bộ và chúng sanh trong đời sau kính vâng lời của Đức Phật'.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn, bảo Ngài Phổ Quảng Bồ Tát cùng trong tứ chúng rằng: 'Lóng nghe! lóng nghe! Ta sẽ v́ các ông nói lược về những sự phước đức của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho người cùng Trời'.

Ngài Phổ Quảng bạch Phật rằng 'Vâng! Bạch đức Thế-Tôn! Chúng con xin ham muốn nghe'.

3) Phật Dạy Sự Lợi Ích - Đức Phật bảo Ngài Phổ Quảng Bồ Tát: 'Trong đời sau, như có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào nghe được danh hiệu của Địa-Tạng đại Bồ Tát, hoặc là chắp tay, hoặc là ngợi khen, hoặc là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ, người đó sẽ qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp.

Này Phổ Quảng! Như có kẻ thiện nam hay người thiện nữ nào hoặc là vẽ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rồi chừng một lần chiêm ngưỡng, một lần đảnh lễ, người đó sẽ được sanh lên cơi trời Đao Lợi một trăm lần, không c̣n phải bị sa đọa vào ác đạo nữa.

Ví dầu ngày kia phước trời đă hết mà sanh xuống nhơn gian, cũng vẫn làm vị Quốc Vương, không hề mất sự lợi lớn.

4) Khỏi Nữ Thân - Như có người nữ nào nhàm chán thân gái, hết ḷng cúng dường tượng vẽ của Địa-Tạng Bồ Tát, và những tượng cất bằng đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt, v.v... Ngày ngày thường đem hoa, hương, đồ ăn, đồ uống, y phục, gấm lụa, tràng phan, tiền bạc, vật báu, v.v... cúng dường như thế măi không thôi.

Người thiện nữ măn một thân gái hiện tại, thời đến trăm ngh́n muôn kiếp c̣n không sanh vào cơi nước có người nữ, huống nữa là thọ thân gái! Trừ khi v́ ḷng từ cần phải thọ thân gái để độ chúng sanh. Nương nơi phước cúng dường Địa-Tạng Bồ Tát và sức công đức đó, trong trăm ngh́n muôn kiếp chẳng c̣n thọ thân người nữ lại nữa.

5) Thân Xinh Đẹp - Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bịnh tật, đến nơi trước tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ chừng trong khoảng một bữa ăn, người nữ đó trong ngh́n vạn kiếp thọ sanh được thân h́nh tướng mạo xinh đẹp không có bịnh tật.

Người nữ xấu xí đó nếu không nhàm thân gái, thời trăm ngh́n muôn ức đời thường làm con gái nhà Vua cho đến làm Vương Phi, ḍng dơi nhà quan lớn cùng con gái các vị đại Trưởng Giả, tướng mạo đoan trang xinh đẹp.

Do v́ có ḷng chí thành chiêm ngưỡng đảnh lễ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát mà đặng phước như thế.

6) Quỉ Thần Hộ Vệ - Lại nữa, này Phổ Quảng! Như có người thiện nam, người thiện nữ nào có thể đối trước tượng của Địa-Tạng Bồ Tát mà trổi các thứ kỹ nhạc, ngâm ca khen ngợi, dùng hương hoa cúng dường, cho đến khuyến hóa được một người hay nhiều người.

Những hạng người đó ở trong đời hiện tại cùng thuở vị lai sau, thường được trăm ngh́n vị Quỉ Thần ngày đêm theo hộ vệ c̣n không cho những việc hung dữ đến tai người đó, huống là để cho người đó phải chịu các tai vạ bất ngờ!

7) Khinh Chê Mắc Tội - Lại nữa này Phổ Quảng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người ác và ác thần, ác quỉ nào thấy kẻ thiện nam, người thiện nữ quy y cung kính, cúng dường ngợi khen chiêm ngưỡng đảnh lễ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, mà vọng sanh khinh chê là không có công đức cùng không có sự lợi ích, hoặc nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng hay chê trước mặt, hoặc khuyên bảo người khác cùng chê, hoặc khuyên bảo một người cùng chê hay nhiều người cùng chê, cho đến sanh ḷng chê bai trong chừng một niệm.

Thời những kẻ như thế đến sau khi một ngh́n Đức Phật trong Hiền-Kiếp nhập diệt cả, bị tội báo khinh chê nên c̣n ở trong địa ngục A-Tỳ chịu khổ rất nặng.

Qua khỏi Hiền-Kiếp này mới được thọ thân ngạ quỉ, rồi măi đến một ngh́n kiếp sau mới thọ thân súc sanh; lại phải trải qua đến một ngh́n kiếp nữa mới đặng sanh làm người.

Dầu được làm người nhưng ở vào hạng bần cùng hèn hạ tật nguyền thiếu sứt, hay bị những nghiệp ác ràng buộc vào thân, không bao lâu phải sa đọa vào ác đạo nữa.

Này Phổ Quảng! Khinh chê người khác cúng dường mà c̣n mắc phải tội báo xấu khổ như thế, huống nữa là tự sanh ác kiến mà khinh chê phá diệt!

8) Tiêu Diệt Tội Chướng - Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người nam, người nữ nào đau nằm liệt măi trên giường gối, cầu sống hay muốn chết cũng đều không được. Hoặc đêm nằm chiêm bao thấy quỉ dữ cho đến kẻ thân thích trong nhà, hoặc thấy đi trên đường nguy hiểm hoặc bị bóng đè, hoặc với quỉ thần cùng đi.

Trải qua nhiều tháng nhiều năm, đến đỗi thành bịnh lao, bịnh bại... Trong giấc ngủ kéo dài kêu réo thê thảm sầu khổ. Đây đều bị nơi nghiệp đạo luận đối chưa quyết định là khinh hay trọng, nên hoặc là khó chết, hoặc là khó lành.

Mắt phàm tục của kẻ nam, người nữ không thể biện rơ việc đó, chỉ phải nên đối trước tượng của chư Phật Bồ Tát, to tiếng mà đọc tụng kinh này một biến. 

Hoặc lấy những món vật riêng của người bịnh thường ưa tiếc, như y phục,đồ quí báu, nhà cửa ruộng vường v.v... đối trước người bịnh cất tiếng lớn mà xướng lên rằng: 

'Chúng tôi tên đó họ đó, nay v́ người bịnh này đối trước kinh tượng đem những của vật này hoặc cúng dường kinh tượng, hoặc tạo h́nh tượng của Phật Bồ Tát, hoặc xây dựng chùa tháp, hoặc sắm đèn dầu thắp cúng, hoặc cúng vào của thựng trụ'. 

Xướng lên như vậy ba lần để cho người bịnh được nghe biết. Giả sử như thần thức của người bịnh đă phân tán đến hơi thở đă dứt, thời hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch như trên và lớn tiếng tụng kinh này. 

Sau khi người bịnh đó mạng chung thời thời dầu cho từ trước có tội vạ nặng nhẫn đến năm tội Vô-Gián, cũng được thoát khỏi hẳn, thọ sanh vào đâu cũng thường nhớ biết việc đời trước. 

Huống nữa là người thiện nam, người thiện nữ nào tự ḿnh biên chép kinh này, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự ḿnh đắp vẽ h́nh tượng của Bồ Tát, cho đến bảo người khác vẽ đắp, người đó khi thọ quả báo chắc đặng nhiều lợi lớn. 

Này Phổ Quảng Bồ Tát! V́ thế nên, nếu ông thấy có người nào đọc tụng kinh này, cho đến chỉ trong một niệm khen ngợi kinh này, hoặc là có ḷng cung kính đối với kinh, thời ông cần phải dùng trăm ngh́n phương chước khuyến hóa người đó, phát ḷng siêng năng chớ đừng thối thất, thời có thể được trăm ngh́n muôn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai. 

9) Siêu Độ Vong Linh - Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Như những chúng sanh đời sau, hoặc trong giấc ngủ, hoặc trong chiêm bao thấy các hạng Quỉ, Thần nhẫn đến các h́nh lạ, rồi hoặc buồn bă, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hăi hùng, hoặc sợ sệt.... 

Đó đều là v́ hoặc cha mẹ, con em, hoặc chồng vợ, quyến thuộc trong một đời, mười đời, hay, trăm đời ngh́n đời về thuở quá khứ bị đọa lạc vào ác đạo chưa được ra khỏi, không biết trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt nỗi khổ năo, nên mới về mách bảo với người có t́nh cốt nhục trong đời trước cầu mong làm phương tiện ǵ để hầu được thoát khỏi ác đạo. 

Này Phổ Quảng! Ông nên dùng sức oai thần, khiến hàng quyến thuộc đó đối trước h́nh tượng của chư Phật, chư Bồ Tát chí tâm tự đọc kinh này, hoặc thỉnh người khác đọc đủ số ba biến hoặc đến bảy biến. 

Như vậy kẻ quyến thuộc đương mắc trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số mấy biến đó xong sẽ đặng giải thoát, cho đến trong khi mơ ngủ không c̣n thấy hiện về nữa. 

10) Khỏi Nô Lệ - Lại nữa, này Phổ Quảng! Như đời sau này có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái nhẫn đến những kẻ không được quyền tự do, rơ biết là do tội nghiệp đời trước gây ra cần phải sám hối đó, thời nên chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Rồi trong bảy ngày niệm danh hiệu của Địa-Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến. 

Những người trên đó sau khi măn báo thân hạ tiện ở hiện đời trong ngh́n muôn đời về sau thường sanh vào bực tôn quí, trọn không bao giờ c̣n phải sa đọa vào ba đường ác khổ nữa. 

11) Sanh Con Dễ Nuôi - Lại vầy nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Về trong thuở sau này, nơi cơi Diêm Phù Đề, trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, tất cả các hạng người, và những dân tộc ḍng họ khác, như có người nào mới sinh đẻ hoặc con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm v́ đứa trẻ mới sinh ra đó mà tụng niệm kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại v́ đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến. 

Được vậy thời đứa trẻ hoặc trai hay là gái mới sanh ra đó, nếu đời trước nó có gây ra tội vạ chi cũng đặng thoát khỏi cả, nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu. 

C̣n như nó là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thời đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn. 

12) Ngày Thập Trai Tụng Kinh Được Phước - Lại vầy nữa, này Phổ Quảng! Trong mỗi tháng những ngày mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi, mười ngày trên đây là ngày mà các nghiệp tội kết nhóm lại để định là nặng hay nhẹ. 

Tất cả những cử chỉ động niệm của chúng sanh trong cơi Nam Diêm Phù Đề không có điều ǵ chẳng phải là tội lỗi, huống nữa là những kẻ buông lung giết hại, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ trăm điều tội lỗi. 

Về đời sau, nếu có chúng sanh nào trong mười ngày trai kể trên đây, mà có thể đối trước h́nh tượng của chư Phật, Bồ Tát, Hiền, Thánh để đọc tụng kinh này một biến, thời chung quanh chỗ người đó ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, trong khoảng một trăm do-tuần không có xảy ra những việc tai nạn. 

C̣n chính nhà của người đó ở, tất cả mọi người hoặc già hoặc trẻ về hiện tại và vị-lai đến trăm ngh́n năm xa khỏi hẳn các ác đạo. 

Trong mười ngày trai trên đây nếu có thể mỗi ngày tụng một biến kinh này, thời trong đời hiện tại hay làm cho người trong nhà không phải mắc phải bịnh tật bất ngờ, đồ ăn mặc dư dật. 

Này Phổ Quảng! V́ thế nên biết rằng Ngài Địa-Tạng Bồ Tát có bất khả thuyết trăm ngh́n muôn ức những sự oai thần lực lớn nhiều lợi ích cho chúng sanh như thế. 

Chúng sanh trong cơi Diêm Phù Đề này có nhân duyên lớn với Ngài Địa-Tạng Đại Sĩ. Những chúng sanh đó hoặc được nghe danh hiệu của Địa-Tạng Bồ Tát, hoặc được thấy h́nh tượng của Địa-Tạng Bồ Tát, cho đến nghe chừng ba chữ hay năm chữ trong kinh này, hoặc một bài kệ hay một câu, thời những người đó hưởng sự an vui lạ thường trong đời hiện tại, trăm ngh́n muôn đời về vị lai thường được thác sanh vào nhà tôn quí, thân h́nh xinh đẹp. 

13) Danh Hiệu Của Kinh - Khi nghe Đức Phật Như Lai tuyên bày ngợi khen Ngài Địa-Tạng Đại Sĩ xong, Ngài Phổ Quảng Bồ Tát liền quỳ xuống chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: 

'Bạch Thế-Tôn! Từ lâu con rơ biết vị Đại Sĩ này có thần lực cùng đại nguyện lực không thể nghĩ bàn như thế rồi, song nay v́ muốn những chúng sanh trong đời sau này rơ biết các sự lợi ích đó, nên con mới bạch hỏi cùng đức Như Lai. 

Vâng! Con xin cung kính tin nhận lời Phật dạy. 

Bạch đức Thế-Tôn! Kinh này đặt tên là ǵ và định cho con lưu bố thế nào?' 

Đức Phật bảo Ngài Phổ Quảng: 'Kinh này có ba danh hiệu: một là 'Địa-Tạng Bổn Nguyện Kinh', cũng gọi là 'Địa-Tạng Bổn Hạnh kinh' đây là tên thứ hai, cũng gọi là 'Địa-Tạng Bổn Thệ Lực kinh' đây là tên thứ ba. 

Do v́ Ngài Địa-Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay phát nguyện rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên các ông phải đúng theo tâm nguyện mà lưu hành truyền bá kinh này'. 

Nghe Đức Phật dạy xong, Ngài Phổ Quảng Bồ Tát tin chịu, chắp tay cung kính lễ Phật lui ra.

Phẩm Thứ Bảy: Lợi Ích Cả Kẻ C̣n Người Mất  [M]

1) Khuyên Tu Thánh Đạo - Lúc đó Ngài Địa-Tạng đại Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh trong cơi Diêm Phù sanh tâm động niệm không chi là chẳng phải tội. 

Nếu gặp những việc về pháp sự lợi lành phần nhiều thối thất tâm tốt ban đầu. C̣n hoặc khi gặp duyên sự bạo ác chẳng lành lại lần lần thêm lớn: Những hạng người trên đó như kẻ mang đá nặng đi trong bùn lầy càng nặng thêm lần, càng khốn đốn thêm lần, chân đạp lún lút sâu. 

Những người đó hoặc gặp hàng thiện tri thức đội giùm đá bớt cho, hoặc là đội giùm hết cả, v́ hàng thiện tri thức đó có sức rất khỏe mạnh lại d́u đỡ người ấy khuyên gắng làm cho người ấy mạnh chơn lên. 

Nếu khi ra khỏi bùn lầy đến chỗ đất bằng phẳng rồi, thời cần phải xét nghĩ đến con đường hiểm xấu ấy, đừng có đi vào đó nữa. 

Bạch đức Thế-Tôn! Những chúng sanh quen theo thói ác, bắt đầu từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng. 

Đến khi những chúng sanh quen theo thói chẳng lành ấy sắp sửa mạng chung, thời cha mẹ cùng thân quyến v́ người đó mà tu tạo phước lành để giúp tiền đồ cho người đó. 

Hoặc treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc Tôn Kinh, hoặc cúng dường tượng Phật cùng h́nh tượng của các vị Thánh, cho đến niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm cho một danh một hiệu thấu vào lỗ tai của người sắp mạng chung, hoặc là nơi bổn thức nghe biết. 

Cứ theo nghiệp ác của người đó đă gây tạo, suy tính đến quả báo, thời đáng lẽ người đó phải bị đọa vào ác đạo, song nhờ thân quyến v́ người đó mà tu nhơn duyên Thánh-đạo, cho nên các điều tội ác của người đó thảy đều tiêu sạch. 

Như sau khi người đó đă chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày v́ người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cơi trời hoặc sanh trong loài người hưởng lấy nhiều sự rất vui sướng, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích. 

V́ lẽ trên đó nên nay con đối trước đức Phật Thế-Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng, người với phi nhơn v.v... mà có lời khuyên bảo những chúng sanh trong cơi Diêm-Phù-Đề, ngày lâm chung kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại và chớ gây tạo nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng tế lễ Quỉ, Thần, cầu cúng ma quái. 

V́ sao thế? V́ việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi. 

Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đă chứng đặng phần Thánh quả sẽ sanh vào cơi Trời, cơi người, nhưng bị v́ lúc lâm chung hàng thân thuộc gây tạo những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành. 

Huống ǵ là người kia chết, lúc sanh tiền chưa từng làm được chút phước lành, đều theo ác nghiệp của họ đă gây tạo mà tự phải bị sa đọa vào ác đạo. 

Hàng thân thuộc nỡ nào lại làm cho tội nghiệp của người ấy nặng thêm! 

Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đă ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, v́ vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm. 

Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét những chúng sanh trong cơi Diêm Phù Đề, ở nơi trong giáo pháp của Phật, nếu có thể làm việc phước lành cho đến chừng bằng sợi lông, giọt nước, bằng một hột cát, một mảy bụi nhỏ, thời tất cả chúng sanh đó đều tự ḿnh được lợi ích cả. 

2) Trưởng Giả Bạch Hỏi - Khi Ngài Địa-Tạng nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị Trưởng Giả tên là tên là Đại Biện. 

Ông Trưởng Giả từ lâu đă chứng quả vô sanh hiện thân Trưởng Giả để hóa độ chúng sanh trong mười phương, ông chắp tay cung kính mà thưa hỏi Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 

'Thưa Đại Sĩ! Trong cơi Nam Diêm Phù Đề có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc người lớn kẻ nhỏ, v́ người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết đó, có đặng lợi ích lớn cùng đặng giải thoát chăng?' 

3) Kẻ C̣n, Người Mất Đều Được Lợi - Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: 'Này ông Trưởng Giả! Nay tôi v́ tất cả chúng sanh trong hiện tại này cùng thuở vị lai sau, nương nơi oai thần của Đức Phật mà nói lược về việc đó. 

Này ông Trưởng Giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một Đức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả. 

Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ v́ người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cà việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, c̣n sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó. 

Bởi v́ cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời đặng hưởng trọn phần công đức. 

Con quỉ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ chưa rơ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. 

Trong lúc mà chưa biết chắc ra làm sao đó thời đă ngh́n muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo. 

Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho. 

Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. 

Người chết đó, nếu là kẻ có tội thời trải qua trong ngh́n năm không có ngày nào được thoát khỏi. 

C̣n nếu là kẻ phạm năm tội vô gián thời phải đọa vào đại địa ngục chịu măi những sự đau khổ trong ngh́n kiếp muôn kiếp. 

Lại vầy nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sanh gây phạm tội nghiệp như thế mạng chung, hàng cốt nhục thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết đó. 

Thời khi sắm sửa chưa rồi, cùng trong lúc đương làm chớ có đem nước gạo, lá rau v.v... đổ văi ra nơi đất, cho đến các thứ đồ ăn chưa dưng cúng cho Phật cùng Tăng thời chẳng được ăn. 

Nếu như ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thời người chết đó trọn không được mảy phước nào cả. 

Nếu có thể kỹ lưỡng giữ ǵn tinh sạch đem dưng cúng cho Phật cùng Tăng, thời trong bảy phần công đức người chết hưởng được một phần. 

Nầy ông Trưởng Giả! V́ thế nên những chúng sanh trong cơi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ c̣n lẫn người mất đều đặng lợi ích cả'. 

Lúc Ngài Địa-Tạng nói lời này, tại cung trời Đao Lợi có số ngh́n muôn ức na-do-tha Quỉ Thần cơi Diêm-Phù-Đề, đều phát tâm Bồ-Đề vô lượng. 

Ông Trưởng Giả Đại-Biện vui mừng vâng lời dạy, làm lễ mà lui ra.

Phẩm Thứ Tám: Các Vua Diêm La Khen Ngợi  [M]

1) Diêm La Vương Cùng Quỉ Vương Vân Tập - Lúc đó trong dăy núi Thiết-Vi có vô lượng Quỉ-vương cùng với Vua Diêm La đồng lên cung trời Đao Lợi đến chỗ của Đức Phật. 

Các vị Quỉ-vương đó tên là: Ác Độc Quỉ-vương, Đa Ác Quỉ-vương, Đại Tránh Quỉ-vương, Bạch Hổ Quỉ-vương, Huyết Hổ Quỉ-vương, Xích Hổ Quỉ-vương, Tán Ương Quỉ-vương, Phi Thân Quỉ-vương, Điển Quang Quỉ-vương, Lang Nha Quỉ-vương, Đạm Thú Quỉ-vương, Phụ Thạch Quỉ-vương, Chủ Hao Quỉ-vương, Chủ Họa Quỉ-vương, Chủ Phước Quỉ-vương, Chủ Thực Quỉ-vương, Chủ Tài Quỉ-vương, Chủ Súc Quỉ-vương, Chủ Cầm Quỉ-vương, Chủ Thú Quỉ-vương, Chủ Mị Quỉ-vương, Chủ Sản Quỉ-vương, Chủ Mạng Quỉ-vương, Chủ Tật Quỉ-vương, Chủ Hiểm Quỉ-vương, Tam Mục Quỉ-vương, Tứ Mục Quỉ-vương, Ngũ Mục Quỉ-vương, Kỳ Lợi Thất Vương, Đại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Đại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Đại A Na Tra Vương. 

Những vị Đại Quỉ Vương như thế v.v.... mỗi vị cùng với trăm ngh́n Tiểu Quỉ Vương, cả thảy ở trong cơi Diêm Phù Đề, đều có trức trách, đều có phần chủ trị. 

Các vị Quỉ Vương đó cùng với Vua Diêm La nương sức oai thần của Đức Phật và oai lực của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, đồng lên đến cung trời Đao Lợi đứng qua một phía. 

2) Vua Diêm La Bạch Phật - Bấy giờ Vua Diêm La qú gối chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng:

'Bạch đức Thế-Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỉ Vương nương sức oai thần của Đức Phật và oai lực của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát mới được lên đến đại hội nơi cung trời Đao Lợi này, mà cũng là v́ chúng con đặng phước lành vậy. 

Nay chúng con có chút việc nghi ngờ, dám bạch hỏi đức Thế-Tôn, cúi xin đức Thế-Tôn từ bi v́ chúng con mà chỉ dạy cho'. 

Đức Phật bảo Vua Diêm La rằng: 'Cho phép ông hỏi, Ta sẽ v́ ông mà dạy rơ'. 

Bấy giờ, Vua Diêm La chiêm ngưỡng đảnh lễ đức Thế-Tôn và ngó ngoái lại Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, rồi bạch cùng Đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét Ngài Địa-Tạng Bồ Tát ở trong sáu đường dùng trăm ngh́n phương chước để cứu độ những chúng sanh mắc phải tội khổ, Ngài không từ mệt nhọc. 

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đây có những sự thần thông không thể nghĩ bàn được như thế, nhưng sao hàng chúng sanh vừa đặng thoát khỏi tội báo, không bao lâu lại phải bị đọa vào ác đạo nữa? 

Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đă có thần lực chẳng thể nghĩ bàn như thế, nhưng tại v́ cớ sao hàng chúng sanh chẳng chịu nương về đường lành để được giải thoát măi măi? Cúi xin đức Thế-Tôn dạy rơ việc đó cho chúng con'. 

3) Phật Giảng Sở Nhơn - Đức Phật bảo Vua Diêm La rằng: 'Chúng sanh trong cơi Nam Diêm Phù Đề tánh t́nh cứng cỏi khó dạy khó sửa. Ngài Địa-Tạng đại Bồ Tát đây trong trăm ngh́n kiếp đă từng cứu vớt những chúng sanh đó làm cho sớm được giải thoát'. 

Những người bị tội báo cho đến bị đọa vào đường ác lớn, Ngài Địa-Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, mà làm cho chúng sanh đó nhớ biết những công việc ở đời trước. 

Tại v́ chúng sanh trong cơi Diêm Phù Đề kết nghiệp dữ, phạm tội nặng, nên vừa ra khỏi ác đạo, rồi trở vào lại, làm nhọc cho Ngài Địa-Tạng Bồ Tát phả trải qua nhiều số kiếp lo lắng để cứu độ chúng nó. 

Ví như có người quên mất nhà ḿnh, đi lạc vào con đường hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều thứ Quỉ Dạ Xoa, cùng hùm sói, sư tử, rắn độc, ḅ cạp. 

Người quên đường đó ở trong đường hiểm chừng giây lát nữa sẽ bị hại. 

Có một vị tri thức hiểu nhiều Pháp thuật lạ, có thể trừ sự độc hại đó, cho đến có thể trừ quỉ Dạ Xoa, các loài rắn độc v.v.... chợt gặp người quên lạc đường kia đương muốn đi thẳng vào con đường hiểm nạn, bèn vội bảo rằng:

'Ô hay! Này ông kia! Có duyên sự ǵ mà vào con đường hiểm nạn này? Ông có Pháp thuật lạ ǵ có thể ngăn trừ các sự độc hại chăng?' 

Người lạc đường đó, bỗng nghe lời hỏi trên mới rơ là đường hiểm nạn, bèn liền lui trở lại muốn ra khỏi đường hiểm nạn đó. 

Vị thiện tri thức ấy nắm tay d́u dắt, dẫn người lạc lối đó ra ngoài đường hiểm nạn, khỏi các sự độc hại đến nơi con đường tốt, làm cho được an ổn rồi bảo rằng: 

'Nầy người lạc đường! Từ nay về sau chớ có đi vào con đường hiểm nạn đó nữa, ai mà vào con đường hiểm đó, ắt khó ra khỏi đặng, lại c̣n phải bị tổn tánh mạng'. 

'Người lạc đường đó cũng sanh ḷng cảm trọng. Lúc từ biệt nhau, vị tri thức lại dặn thêm: 

'Nếu ông có gặp kẻ quen người thân cùng những người đi đường hoặc trai gái, thời ông bảo cho họ biết con đường đó có rất nhiều sự độc hại, vào đó ắt phải tổn tánh mạng, chớ để cho những người ấy tự vào chỗ chết!'. 

V́ thế nên Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đủ đức từ bi lớn, cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ muốn cho chúng nó sanh lên cơi trời cơi người để hưởng lấy sự vui sướng tốt đẹp. 

Những chúng sanh tội khổ đó rơ biết sự khốn khổ trong con đường ác nghiệp rồi, khi đă được ra khỏi, chẳng c̣n trở vào nữa. 

Như người quên đường kia lạc vào đường hiểm, gặp vị tri thức dẫn dắt cho ra khỏi không bao giờ c̣n lạc vào nữa. 

Gặp gỡ người khác lại bảo chớ vào đường ấy, tự nói rằng ḿnh là quên đường nên đi lạc vào đó, nay đặng thoát khỏi rồi, trọn hẳn không c̣n trở vào đường đó nữa. 

Nếu c̣n đi vào đường ấy nữa, thời là c̣n mê lầm không biết đó là con đường hiểm nạn mà ḿnh đă từng sa lạc rồi, hoặc đến nỗi phải mất mạng. 

Như chúng sanh bị đọa vào chốn ác đạo, Ngài Địa-Tạng Bồ Tát dùng sức phươg tiện cứu vớt cho được thoát khỏi, sanh vào cơi trời, rồi cũng vẫn trở vào ác đạo nữa. 

Nếu chúng sanh đó kết nghiệp quá nặng, thời ở măi chốn địa ngục không lúc nào được thoát khỏi.

4) Quỉ Vương Bày Thiện Nguyện - 'Bạch đức Thế-Tôn! Chúng con là hàng Quỉ Vương số đông vô lượng, ở trong cơi Diêm Phù Đề, hoặc có vị làm lợi ích cho người, hoặc có vị làm tổn hại cho người mỗi mỗi đều không đồng nhau. 

Nhưng v́ nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi qua thế giới ác nhiều lành ít. 

Đi qua sân nhà người, hoặc thành ấp, xóm làng, trại vườn, buồng nhà, trong đó như có người trai kẻ gái nào tu được chút phước lành bằng mảy lông sợi tóc, cho đến treo một lá phan, một bảo cái, chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ tát, hoặc đọc tụng Tôn-kinh, đốt hương cúng dường một bài kệ một câu kinh v.v... 

Hàng Quỉ Vương chúng con cung kính làm lễ người đó như kính lễ các Đức Phật thuở quá khứ, đương hiện tại cùng lúc vị lai.

Chúng con truyền các hàng Tiểu Quỉ có oai lực lớn, và kẻ có phần chức trách về cuộc đất đai đó, đều phải hỗ trợ giữ ǵn, c̣n chẳng cho việc dữ cùng sự tai nạn bất kỳ, bịnh tật hiểm nghèo th́nh ĺnh, cho đến những việc không vừa ư đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để vào cửa!' 

Đức Phật khen Quỉ Vương rằng: 'Hay thay! Tốt thay! Các ông cùng với Vua Diêm La có thể ủng hộ kẻ thiện nam người thiện nữ như thế! Ta cũng truyền cho các vị trời Phạm Vương, Đế Thích hộ vệ các ông'. 

5) Chủ Mạng Tŕnh Thưa - Khi Đức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp hội có một vị Quỉ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng Đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Bổn nghiệp duyên của con là cai quản về tuổi thọ của người trong cơi Diêm Phù Đề, khi sanh khi tử con đều coi biết đó, cứ theo nơi bổn nguyện của con thời có lợi ích rất lớn cho mọi người. 

Nhưng tại v́ chúng sanh không hiểu ư con nên đến đổi khi sanh khi tử đều không được an ổn. Tại làm sao thế? 

6) Khi Sanh Nở Nên Làm Lành Kiêng Ác - Người trong cơi Diêm Phù Đề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Địa vui mừng không xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng nhiều sự an vui, hàng thân quyến cũng được phước lợi. 

Hoặc khi đă hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn, cùng nhóm họp cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo, nếu làm những việc trên đó có thể làm cho người mẹ đứa con chẳng đặng an vui. 

V́ sao thế? V́ lúc sanh sản nguy hiểm đó có vô số loài quỉ dữ cùng ma quái tinh mị muốn ăn huyết tanh. 

Nhờ có con sớm đă sai các vị Thần Linh xá trạch Thổ Địa, bảo hộ mẹ con người ấy, làm cho được an vui mà đặng nhiều lợi ích. 

Người ấy thấy ḿnh được an ổn, thời đáng lẽ nên làm việc phước lành để đền đáp công ơn Thổ Địa, mà trái lại giết hại loài sanh vật, hội họp thân quyến, v́ lẽ này, đă phạm tội lỗi tất phải tự thọ lấy tai vạ, mẹ con đều tổn. 

7) Lúc Chết Nên Tu Phước - Lại người trong cơi Diêm Phù Đề đến lúc mạng chung, không luận là người lành hay kẻ dữ, con cũng đều muốn cho họ không bị đọa lạc vào chốn ác đạo. 

Huống ǵ là người lúc sanh tiền biết tu tạo cội phước lành giúp thêm oai lực cho con. 

Trong cơi Diêm Phù Đề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng c̣n có trăm ngh́n quỉ thần ác đạo hoặc biến ra h́nh cha mẹ, nhẫn đến hóa làm người thân quyến dắt dẫn thần hồn người chết làm cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống chi là những kẻ lúc sanh tiền đă sẵn tạo nghiệp ác. 

Bạch đức Thế-Tôn! Những kẻ nam tử nữ nhơn ở cơi Diêm Phù Đề, lúc lâm chung thời thần thức hôn mê không biện được lẽ lành điều dữ, cho đến mắt cùng tai không c̣n thấy nghe ǵ hết. 

Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhơn duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết. 

Bạch đức Thế-Tôn! 'Tất cả chúng sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe danh hiệu của một Đức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát, hoặc nghe một câu một bài kệ kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián cùng tội sát hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát khỏi cả'. 

8) Đức Phật Căn Dặn - Đức Phật bảo Chủ Mạng Quỉ Vương rằng: 'Ông v́ có ḷng đại từ nên có thể phát ra lời nguyện lớn ở trong sanh tử cứu hộ chúng sanh như thế. 

Như về trong đời sau này, có kẻ nam người nữ nào đến lúc mạng chung, ông chớ quên lăng lời nguyện trên đó, đều nên làm cho giải thoát măi măi được an vui'. 

Chủ Mạng Quỉ Vương bạch cùng Đức Phật rằng: 'Xin đức Thế-Tôn chớ lo! Trọn đời của con luôn luôn ủng hộ chúng sanh ở cơi Diêm Phù Đề lúc sanh lúc tử đều làm cho được an vui cả. 

Chỉ trông mong các chúng sanh trong lúc sanh cùng lúc tử, tin theo lời của con đă nói trên thời đều giải thoát đặng lợi ích lớn'. 

9) Đức Phật Thọ Kư Cho Chủ Mạng - Bấy giờ Đức Phật bảo Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Vị đại Quỉ Vương cai quản về tuổi thọ của mọi người đây đă từng trải quan trăm ngh́n đời làm vị Quỉ Vương, ủng hộ chúng sanh trong lúc sanh cùng khi tử. 

Đó là bực Bồ Tát Đại Sĩ v́ ḷng từ bi phát nguyện hiện thân đại Quỉ chớ thiệt thời không phải Quỉ. 

Quá một trăm bảy mươi kiếp sau, ông đó sẽ được thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai, kiếp đó tên là An Lạc. Cơi nước tên là Tịnh Trụ, thọ mạng của đức Phật đó đến số kiếp không thể tính đếm được. 

Này Địa-Tạng Bồ Tát! Những sự của vị đại Quỉ Vương đó không thể nghĩ bàn như thế, hàng Trời cùng người được vị ấy độ thoát cũng đến số không thể hạn lượng'.

Phẩm Thứ Chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật  [M]

Lúc đó Ngài Địa-Tạng Bồ Tát bạch cùng Đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Nay con v́ chúng sanh trong đời sau mà phô bày sự lợi ích, làm cho trong ṿng sanh tử đặng nhiều lợi ích lớn. Cúi xin đức Thế-Tôn cho phép con nói đó'. 

Đức Phật bảo Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Nay ông muốn khởi ḷng từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường, mà diễn nói sự chẵng thể nghĩ bàn, bây giờ chính đă phải lúc, vậy ông nên nói ngay đi. 

Giả sử ông có thể sớm làm xong nguyện đó, Ta dầu có vào Niết Bàn, cũng không c̣n phải lo ngại ǵ đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai nữa'. 

Ngài Địa-Tạng bạch cùng Đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Vô lượng vô kiếp về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của Đức Phật đây mà tạm lời sanh ḷng cung kính, liền đặng siêu việt tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp h́nh tượng cúng dường tán thán! 

Người này được vô lượng vô biên phước lợi. 

Lại hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Bửu Thắng Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Đức Phật đây, phát tâm quy y với Phật trong khoảng khảy móng tay, người này trọn hẳn không c̣n thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh giác. 

Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Đầu Ma Thắng Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào, nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây thoát qua lỗ tai, người này sẽ được một ngh́n lần sanh lên sáu từng trời cơi dục, huống nữa là chí tâm xưng niệm! 

Lại bất khả thuyết bất khả thuyết vô số kiếp về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, mà phát tâm quy y chừng trong một niệm, người này sẽ đặng gặp vô lượng các Đức Phật xoa đảnh thọ kư cho. 

Lại về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật đây, chí tâm chiêm ngưỡng lễ bái hoặc lại tán thán, người này nơi pháp hội của một ngh́n Đức Phật trong hiền kiếp làm vị đại Phạm Vương, đặng Phật thọ kư đạo vô thượng cho. 

Lại về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Đức Phật đây, thời măi không c̣n sa đọa vào chốn ác đạo, thường được sanh vào chốn trời người, hưởng lấy sự vui thù thắng vi diệu. 

Lại vô lượng vô số hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Đa Bửu Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, liền khỏi đọa vào ác đạo, thường ở tại cung trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu. 

Lại về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu Bửu Tướng Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, sanh ḷng cung kính, không bao lâu người ấy sẽ đặng quả A La Hán. 

Lại vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật trên đây, thời người ấy sẽ siêu thoát tội sanh tử trong một trăm đại kiếp. 

Lại về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Đại Thông Sơn Vương Như Lai. 

Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, thời người này đặng gặp hằng hà chư Phật nói nhiều pháp mầu cho, đều đặng thành đạo Bồ Đề. 

Lại về thuở quá khứ, có đức Tịnh Nguyệt Phật, đức Sơn Vương Phật, đức Trí Thắng Phật, đức Tịnh Danh Vương Phật, đức Trí Thành Tựu Phật, đức Vô Thượng Phật, đức Diệu Thinh Phật, đức Măn Nguyệt Phật, đức Nguyệt Diện Phật, có bất khả thuyết Đức Phật Thế-Tôn như thế. 

Tất cả chúng sanh trong thời hiện tại cùng thuở vị lai: hoặc là Trời, hoặc là người, hoặc người nam, hoặc người nữ chỉ niệm được danh hiệu của một Đức Phật thôi, sẽ được vô lưông công đức, huống nữa là niệm được nhiều danh hiệu. 

Những chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đặng nhiều phước lợi, không c̣n phải đọa vào ác đạo nữa. 

Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nhẫn đến một người v́ người bịnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của một Đức Phật, thời người chết đó, trừ năm tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác đều tiêu sạch cả. 

Năm tội lớn vô gián kia dầu rất nặng nề đáng lẽ trải qua ức kiếp hẳn không ra khỏi đặng quả khổ, nhưng bởi lúc lâm chung, nhờ người khác v́ đó mà xưng niệm danh hiệu của Phật cho nên những tội nặng đó cũng lần lần tiêu sạch. 

Huống là chúng sanh tự ḿnh xưng danh hiệu của chư Phật, người này đặng vô lượng phước lành, trừ diệt vô lượng khổ. 

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Quyển Trung Hết

Mục lục | 01 | 02 | 03

Bổn hạnh Địa Tạng,   

Thệ nguyện rộng sâu,   

Gậy vàng châu sáng độ chúng sanh,   

Địa ngục khổ không ngằn,   

Tinh tấn kiền thành,   

Khỏi mắc khổ trầm luân. 

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp. (3 lần)   

Nam mô Địa Tạng Bồ Tát Ma-ha-Tát. (3 lần)

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Quyển Hạ

PHẨM THỨ MƯỜI: SO SÁNH NHƠN DUYÊN CÔNG ĐỨC CỦA SỰ BỐ THÍ  [M]

Lúc đó Ngài Địa-Tạng Bồ Tát ma-ha-tát nương oai thần của đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, qú gối chắp tay bạch cùng đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo so sánh về sự bố thí có nhẹ có nặng. Có người hưởng phước trong một đời, có người hưởng phước trong mười đời, hoặc đến hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, ngh́n đời. 

Những sự ấy tại làm sao thế? Cúi xin đức Thế-Tôn dạy cho'. 

Bấy giờ Đức Phật bảo Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Nay ta ở trong toàn thể chúng hội nơi cung trời Đao Lợi này giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diêm Phù Đề. Ông phải lóng nghe, ta sẽ v́ ông mà nói!'. 

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát bạch cùng Đức Phật rằng: 'Chính con nghi ngờ về việc ấy. Con xin ưa muốn nghe'. 

Đức Phật bảo Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng: 'Trong cơi Nam Diêm Phù Đề có các vị Quốc Vương, hàng Tể Phụ quan chức lớn, hàng đại Trưởng Giả, hàng đại Sát Đế Lợi, hàng đại Bà La Môn v.v... 

Nếu gặp kẻ hết sức nghèo túng, nhẫn đến kẻ tật nguyền câm ngọng, kẻ điếc ngây mù quáng, gặp những hạng người thân thể không được vẹn toàn như thế. 

Lúc các vị Quốc Vương đó v.v... muốn bố thí, nếu có thể đủ tâm từ bi lớn, lại có ḷng vui vẻ tự hạ ḿnh, tự tay ḿnh đem của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời ôn ḥa dịu dàng an ủi. 

Các vị Quốc Vương, Đại Thần đó v.v... đặng phước lợi bằng phước lợi công đức cúng dường cho một trăm hằng hà sa chư Phật vậy. 

Tại làm sao? Chính bởi vị Quốc Vương đó v.v... phát tâm đại từ bi đối với kẻ rất mực nghèo cùng và với những người tàn tật kia, cho nên phước lành được hưởng quả báo như thế này, trong trăm ngh́n đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ để thọ dùng như y phục đồ uống ăn v.v.... 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v... gặp chùa tháp thờ Phật, hoặc h́nh tượng Phật, cho đến h́nh tượng Bồ Tát, Thanh Văn hay Bích Chi Phật, đích thân tự sửa sang, cúng dường bố thí. 

Vị Quốc Vương đó, sẽ đặng trong ba kiếp làm vị trời Đế Thích hưởng sự vui sướng tốt lạ. 

Nếu có thể đem phước lành bố thí đó mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, thời vị Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị trời Đại Phạm Thiên Vương. 

Lại thế này nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, nếu có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v... gặp chùa tháp của đức Phật thuở trước, hoặc là kinh điển hay h́nh tượng bị hư sụp rách ră, liền có thể phát tâm tu bổ lại. 

Vị Quốc Vương đó, hoặc tự ḿnh đích thân lo sửa sang, hoặc khuyến hóa người khác cho đến khuyến hóa trăm ngh́n người khác cùng chung bố thí cúng dường để kết duyên lành. 

Vị Quốc Vương đó, trong trăm ngh́n đời thường làm Vua Chuyển Luân, c̣n những người khác chung cùng làm việc bố thí đó, trong trăm ngh́n đời thường làm vua nước nhỏ. 

Nếu lại ở trước chùa tháp có thể phát tâm đem công đức cúng dường bố thí đó mà hồi hướng về đạo vô thượng chánh giác, được như vậy thời vị Quốc Vương đó cho đến tất cả mọi người đều sẽ thành Phật cả, bởi quả báo ấy rộng lớn vô lượng vô biên. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương hay hàng Bà La Môn, gặp những người già yếu tật bịnh và kẻ phụ nữ sanh đẻ, nếu trong khoảng chừng một niệm sanh ḷng từ lớn đem thuốc men, cơm nước, giường chiếu bố thí, làm cho những kẻ ấy được an vui. 

Phước đức đó rất không thể nghĩ bàn đến được, trong một trăm kiếp thường làm Vua Trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường làm Vua sáu từng trời cơi Dục, không bao giờ c̣n đọa vào ác đạo, cho đến trong trăm ngh́n đời, lỗ tai không hề nghe đến tiếng khổ, rốt ráo sẽ thành Phật đạo. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! trong đời sau như có vị Quốc Vương và Bà La Môn, có thể làm những việc bố thí như thế sẽ đặng vô lượng phước lành. 

Nếu lại có thể đem phước đức đó hồi hướng đạo Bồ Đề, thời không luận là nhiều hay ít, rốt ráo sẽ thành Phật cả, huống ǵ cả những quả trời Phạm Vương, trời Đế Thích, Vua Chuyển Luân. 

Nầy Địa-Tạng Bồ Tát, v́ thế nên khuyến hóa tất cả chúng sanh đều phải học theo như thế. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong Phật pháp mà gieo trồng chút ít cội phước lành chừng bằng cái lông, sợi tóc, hột cát, mảy bụi, phước lợi của những người đó sẽ hưởng thọ không thể ví dụ thế nào cho được. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam cùng người thiện nữ nào gặp h́nh tượng Phật, h́nh tượng Bồ Tát, h́nh tượng Bích Chi Phật, h́nh tượng Vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thời đặng vô lượng phước lành, thường sanh ở cơi người, cơi trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu. 

Như có thể đem công đức hồi hướng cho cả pháp giới chúng sanh thời phước lợi của người ấy không thể ví dụ thế nào cho được. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển đại thừa hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được quả báo lớn vô lượng vô biên. 

Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới cho chúng sanh thời phước lợi này không thể ví dụ thế nào cho được. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và kinh điển đại thừa, nếu là kinh tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen chắp tay cung kính. 

Nếu gặp kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng ḿnh phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng đồng phát tâm. 

Những người đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. C̣n vị đàn việt chánh đó thường làm Vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ. 

Lại vầy nữa Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đă gieo trồng trong Phật pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, cho đến chừng bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hột cát, một giọt nước. 

Những sự lành như thế không luận nhiều ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh, thời công đức của người đó trong ngh́n đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu. 

C̣n như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự ḿnh được lợi ích thôi, như thế thời sẽ hưởng quả vui trong ba đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn. 

Này Địa-Tạng Bồ Tát! Những nhơn duyên công đức về sự bố thí như thế đó.

PHẨM THỨ MƯỜI MÔT: ĐỊA THẦN HỘ PHÁP  [M]

Lúc đó vị Kiên Lao Địa Thần bạch cùng Đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng vị đại Bồ Tát, đều là những bực trí huệ thần thông lớn không thể nghĩ bàn độ khắp mọi loài chúng sanh. 

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát chỗ thệ nguyện rất là sâu rộng. 

Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đây có nhơn duyên lớn với chúng sanh trong Diêm Phù Đề. 

Như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Ngài Quan Âm, Ngài Di Lặc cũng hóa hiện trăm ngh́n thân h́nh để độ chúng sanh trong sáu đường, nhưng chỗ phát nguyện của các Ngài c̣n có lúc hoàn măn. 

Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường trải đến kiếp số như số cát trong trăm ngh́n ức sông Hằng. 

Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của ḿnh ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất. 

Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc nắn h́nh tượng Địa-Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích. 

Những ǵ là mười điều? 

Một là đất cát tốt mầu, 

Hai là nhà cửa an ổn măi măi, 

Ba là người đă chết được sanh lên cơi trời, 

Bốn là những người hiện c̣n hưởng sự lợi ích, 

Năm là cầu chi cũng toại ư cả, 

Sáu là không có tai họa về nước và lửa, 

Bẩy là trừ sạch việc hư hao, 

Tám là dứt hẳn ác mộng, 

Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ, 

Mười là thường gặp bực Thánh Nhơn. 

Bạch đức Thế-Tôn! Chúng sanh trong đời sau cùng hiện tại nay, nếu ở nơi phần đất của ḿnh cư trụ mà có thể làm ra sự cúng dường Ngài Địa-Tạng như thế, thời được sự lợi ích như vậy'. 

Vị Kiên Lao Địa Thần lại bạch với đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Trong đời sau này, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong chỗ của ḿnh cư trụ mà có kinh điển này cùng h́nh tượng của đức Địa-Tạng Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường h́nh tượng của Bồ Tát. 

Thời con dùng thần lực của con thường hộ vệ người đó, cho đến tất cả sự tai họa như nước, lửa, trộm, cướp, nạn lớn, nạn nhỏ, v.v... thảy đều tiêu sạch'. 

Đức Phật bảo Kiên Lao Địa Thần rằng: 'Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng. 

V́ cớ sao? V́ đất đai trong cơi Diêm Phù Đề đều nhờ ông hộ trợ, cho đến cỏ cây, cát đá, lúa mè, tre lau, gạo thóc, của báu, tất cả những thứ từ đất mà có ra đều nhờ nơi sức thần của ông cả. 

Nay ông lại tuyên bày những sự lợi ích của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, thời công đức và thần thông của ông lại càng thêm trăm ngh́n lần trội hơn lúc thường. 

Này Địa Thần! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Địa-Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển này, chỉ có thể tu hành theo một việc mà trong kinh 'Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện' đă dạy. 

Thời ông nên dùng thần lực của ông mà ủng hộ người đó, chớ để tất cả sự tai hại cùng sự không vừa ư đến nghe nơi tai, huống nữa là để cho phải chịu. 

Chẳng phải chỉ riêng ḿnh ông hộ tŕ người đó, cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Đế Thích, quyến thuộc của chư Thiên ủng hộ người đó. 

Tại sao lại đặng các vị Hiền Thánh ủng hộ như thế? 

Đều do v́ những người ấy chiêm lễ h́nh tượng của Địa-Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh 'Bổn Nguyện' này, tự nhiên được rốt ráo xa ĺa biển khổ chứng đạo Niết Bàn an vui, v́ thế nên đặng ủng hộ một cách lớn lao như thế'. 

PHẨM THỨ MƯỜI HAI: THẤY NGHE ĐƯỢC LỢI ÍCH  [M]

1) ĐỨC PHẬT PHÓNG QUANG TUYÊN CÁO.- Lúc đó, từ trên đảnh môn đức Thế-Tôn phóng ra cả trăm ngh́n muôn ức tia sáng lớn. 

Như là: tia sáng sắc trắng, tia sáng sắc trắng lớn, tia sáng lành tốt, tia sáng ngọc, tia sáng ngọc lớn, tia sáng sắc tía, tia sáng sắc tía lớn, tia sáng sắc xanh, tia sáng sắc xanh lớn, tia sáng sắc biếc, tia sáng sắc biếc lớn, tia sáng sắc hồng, tia sáng sắc hồng lớn, tia sáng màu lục, tia sáng màu lục lớn, tia sáng màu vàng y, tia sáng màu vàng y lớn, tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn, tia sáng tướng ngh́n ṿng tṛn, tia sáng tướng ngh́n ṿng tṛn lớn, tia sáng ṿng tṛn báu, tia sáng ṿng tṛn báu lớn, tia sáng vừng mặt trời, tia sáng vừng mặt trời lớn, tia sáng vừng mặt trăng, tia sáng vừng mặt trăng lớn, tia sáng tướng cung điện, tia sáng tướng cung điện lớn, tia sáng tướng mây biển, tia sáng tướng mây biển lớn. 

Từ trên đảnh môn phóng ra những luồng ánh sáng như thế xong, lại nói ra những tiếng rất vi diệu mà bảo đại chúng rằng: 

'Này tám bộ chúng Trời, Rồng, người cùng phi nhơn v.v...! Lóng nghe hôm nay ta ở tại cung trời Đao Lợi tuyên bày ngợi khen những sự lợi ích trong hàng trời người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự về nhơn hạnh lên bực Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không lui sụt nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác... của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát'.

2) QUÁN THẾ ÂM CẦU THỈNH.- Lúc Đức Phật nói lời trên đó vừa dứt tiếng, trong Pháp-hội có một vị đại Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, qú gối chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Địa-Tạng Bồ Tát đầy đủ đức từ bi lớn, Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ ở trong muôn ngh́n ức thế giới, ngài hóa hiện ra ức thân bao nhiêu công đức và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn của Ngài, con đă từng nghe đức Thế-Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Dầu cho các Đức Phật trong thuở quá khứ, thuở hiện tại và thuở vị lai nói công đức của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát vẫn chẳng thể nói hết. 

Vừa rồi lại được đức Thế-Tôn bảo khắp trong đại chúng rằng đức Phật muốn tuyên nói các sự lợi ích của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Cúi mong đức Thế-Tôn v́ tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, làm cho tám bộ chúng Trời, Rồng,v.v...chiêm ngưỡng lễ lạy Ngài Địa-Tạng Bồ Tát để đặng phước lành'. 

3) ĐỨC PHẬT TÁN THÁN VÀ HỨA KHẢ.- Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: 'Ông có nhơn duyên rất lớn với chúng sanh trong cơi Ta Bà. Những hàng Trời, Rồng, hoặc Quỉ, cho đến chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường nếu kẻ nào nghe danh hiệu của ông, thấy h́nh tượng của ông, hay mến tưởng đến ông cùng khen ngợi ông. 

Thời những chúng sanh ấy đều ở nơi đạo vô thượng chánh giác quyết chẳng c̣n thối chuyển, thường được sanh vào cơi người, cơi trời hưởng đủ sự vui vi diệu, khi nhơn quả sắp thành thục liền được Phật thọ kư cho. 

Nay ông sẵn ḷng từ bi lớn thương xót các loài chúng sanh và tám bộ chúng Trời, Rồng, v.v... mà muốn nghe ta nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Ông nên lóng nghe cho kỹ, nay ta sẽ nói đó!' 

Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch rằng: 'Vâng! Bạch đức Thế-Tôn con xin ưa muốn nghe.' 

4) THẤY NGHE THÊM PHƯỚC TRỜI.- Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: 'Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, có vị trời nào, hưởng phước trời đă măn, năm tướng suy hao hiện ra nơi thân, hoặc có kẻ phải đọa lạc vào nơi chốn ác đạo. 

Các vị trời đó, hoặc nam hoặc nữ đương lúc tướng suy hao hiện, hoặc thấy h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, hoặc nghe tên Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ. 

Thời các vị trời đó càng thêm lớn phước trời, hưởng sự vui sướng rất nhiều không bao giờ c̣n phải bị đọa lạc vào ba ác đạo nữa. 

Huống chi là những người thấy h́nh tượng Bồ Tát, nghe danh hiệu Bồ Tát rồi đem các thứ hương hoa, đồ y phục, đồ uống ăn, vật báu, chuỗi ngọc... mà bố thí cúng dường, thời người này đặng vô lượng vô biên công đức phước lợi. 

5) NGƯỜI BỊNH ĐƯỢC LỢI - Lại vầy nữa này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, những hàng chúng sanh trong sáu đường, như có kẻ sắp mạng chung mà đặng nghe một tiếng danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát thoáng qua lỗ tai, th́ kẻ mạng chung đó không c̣n bị đọa vào chốn khổ ba ác đạo. 

Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến đem của cải nhà cửa, vật báu, y phục v.v... của người sắp mạng chung đó mà làm của chi phí để tô đắp hay họa vẽ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Rồi làm cho người bịnh lúc chưa chết, hoặc mắt thấy tai nghe biết rằng hàng thân quyến đem nhà cửa vật báu v.v... v́ ḿnh mà tô vẽ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Người bịnh đó nếu có nghiệp báo phải mang lấy bịnh nặng, thời nhờ công đức này liền được lành mạnh, tuổi thọ thêm lâu. 

C̣n nếu người bịnh đó có nghiệp báo số mạng đă hết, lại có đủ tất cả tội chướng nghiệp chướng đáng lẽ phải đọa vào chốn ác đạo, song v́ nhờ công đức này nên sau khi mạng chung, liền được sanh vào cơi trời, cơi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng thảy đều tiêu sạch. 

6) TIÊN VONG ĐƯƠC PHƯỚC.- Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có kẻ nam tử, người nữ nhơn nào, hoặc lúc c̣n bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, hoặc lúc lên năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất anh chị em. 

Đến khi người đó khôn lớn nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng thân quyến không rơ đọa lạc vào chốn nào, hay sanh về thế giới nào, hoặc sanh lên cơi trời nào? 

Người đó như có thể tô vẽ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, nhẫn đến nghe danh hiệu của Ngài rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm ban đầu, nghe danh hiệu thấy h́nh tượng chiêm lễ cúng dường. 

Thời quyến thuộc đă sớm khuất của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào ác đạo tính ra phải chịu đến số kiếp, nay nhờ công đức tô vẽ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát và chiêm lễ cúng dường của con cái, hay của anh em chị em, nên liền đặng giải thoát, được sanh lên cơi trời cơi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu. 

C̣n như quyến thuộc đă sớm khuất của người đó có phước lành, đă được sanh lên cơi trời cơi người hưởng thọ quả vui thù thắng vi diệu rồi, thời nhờ công đức này càng thêm lớn nghiệp nhơn về bực Thánh, hưởng vô lượng quả vui. 

Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày, chuyên ḷng chiêm lễ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát và niệm lấy danh hiệu của Ngài đủ số một muôn biến, sẽ đặng Địa-Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân, mách cho người đó rơ nơi cơi của hàng thân quyến sớm khuất kia đă sanh về. 

Hoặc trong giấc mộng, Địa-Tạng Bồ Tát hiện sức thần thông lớn, tự dắt người đó đến các thế giới thấy hàng quyến thuộc. 

Nếu người đó lại có thể trong mỗi ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát một ngh́n biến luôn đến một ngh́n ngày. 

Thời người đó sẽ được Bồ Tát sai các vị Quỉ Thần ở tại chỗ đó hộ vệ trọn đời, hiện đời món ăn đồ mặc dư dật, không có các thứ bịnh khổ, cho đến các sự tai vạ c̣n không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân. 

Rốt ráo rồi người đó được Ngài Địa-Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ kư cho. 

7) NGUYỆN LỚN SỚM THÀNH.- Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát ḷng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu đạo vô lượng chánh giác, muốn thoát khỏi tam giới. 

Những người đó thấy h́nh tượng và nghe danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, rồi chí tâm quy y hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn uống, v.v... để cúng dường chiêm ngưỡng đảnh lễ thời chỗ nguyện cầu của kẻ thiện nam cùng thiện nữ đó mau được thành tựu không bao giờ bị chướng ngại. 

Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, muốn cầu trăm ngh́n muôn ức điều nguyện trăm ngh́n muôn ức sự về hiện tại cùng vị lai, thời chỉ nên quy y chiêm ngưỡng đảnh lễ, cúng dường, ngợi khen h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Được như thế thời nguyện những chi và cầu những chi thảy đều thành tựu cả. 

Lại cầu mong Địa-Tạng Bồ Tát, vận đức từ bi rộng lớn ủng hộ măi cho, người đó trong giấc chiêm bao liền đặng Ngài Địa-Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ kư. 

8) ĐƯƠC TRÍ HUỆ.- Lại vầy nữa này Quán Thế Âm Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào sanh ḷng rất trân trọng đối với kinh điển đại thừa, phát tâm bất tư nghị muốn đọc muốn tụng kinh điển ấy. 

Dầu gặp đặng bực minh sư truyền dạy cho những người đó học tập, nhưng đọc rồi quên rồi, trải đến cả tháng cả năm vẫn không đọc tụng được. 

Những kẻ thiện nam đó v́ có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên ở nơi kinh điển đại thừa không có công năng đọc tụng. 

Nhưng hạng người này khi nghe danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, đem hết bổn tâm cung kính bày tỏ với Bồ Tát, rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn, tất cả đồ ngọa cụ, v.v... cúng dường h́nh tượng Bồ Tát. 

Dùng một chén nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó cung kính chắp tay thỉnh để uống, xây mặt về hướng nam. 

Khi nước vào miệng phải chí tâm trịnh trọng, uống nước xong, phải cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. 

Người thiện nam cùng thiện nữ đó trong giấc chiêm bao thấy Địa-Tạng Bồ Tát hiện thân vô biên rưới nước trên đảnh của người đó. 

Sau khi thức dậy, người đó liền đặng thông minh, một phen nghe đến những kinh điển đại thừa ấy liền sẽ nhớ măi, không bao giờ c̣n quên một câu kệ nữa. 

9) TAI NẠN TIÊU TRỪ.- Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về trong đời sau, như có những người nào ăn mặc không đủ, cầu chi cũng không toại nguyện, hoặc thân nhiều tật bịnh, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc chia ĺa, hoặc các sự tai vạ cứ đến khuấy nhiễu nơi thân luôn, trong giấc mộng thường phải kinh sợ. 

Những người như thế đó, khi nghe danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, thấy h́nh tượng của Địa-Tạng Bồ Tát nên chí tâm cung kính niệm đủ một muôn biến, thời những sự không toại ư trên đó sẽ tiêu sạch lần lần, liền đặng an vui, đồ ăn mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng thẩy đều an ổn vui vẻ. 

10) KHỎI HIỂM NGUY.- Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc nhơn sự làm ăn, hoặc nhơn sự công chuyện tư, hoặc nhơn sự sanh cùng tử, hoặc nhơn việc gấp mà phải vào trong rừng núi, hay là qua sông vượt biển hoặc gặp nước lụt lớn, hoặc đi ngang đường hiểm trở. 

Người ấy trước khi đi nên niệm danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát một muôn biến, được thế thời đi qua nơi nào chốn nào cũng có các vị Quỉ Thần hộ vệ, lúc đi đứng, khi nằm ngồi, đều được an ổn vui vẻ luôn, cho đến dầu gặp loài hùm sói sư tử... nhưng tất cả thứ độc hại đều không thể phạm đến người đó được. 

Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: 'Ngài Địa-Tạng Bồ Tát có nhơn duyên rất lớn với cơi Diêm Phù Đề. Nếu nói về những sự mà các hàng chúng sanh thấy h́nh nghe tên của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát được lợi ích, thời dầu nói đến trong trăm ngh́n kiếp cũng không biết được. 

Này Quán Thế Âm Bồ Tát! V́ thế Ông nên dùng thần lực mà lưu truyền kinh này làm cho chúng sanh trong cơi Ta Bà đây măi đến trăm ngh́n kiếp được hưởng những sự an vui luôn'. 

Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng: 

- Ta xem Địa-Tạng sức oai thần 

Kiếp số Hằng-sa khó tỏ trần, 

Thấy nghe một niệm chiêm ngưỡng lễ, 

Trời, người lợi ích sự không ngằn, 

- Hoặc Rồng hoặc Thần cùng nam - nữ 

Báo tận sẽ sa vào đường dữ, 

Chí tâm qui mạng Đại Sĩ thân, 

Tuổi thọ thêm nhiều trừ tội dữ. 

Trẻ thơ chết mất mẹ cùng cha, 

Huynh đệ chị em kẻ ruột rà, 

Lớn khôn nghĩ đến đều không biết, 

Nẻo dữ đường lành ở đâu là? 

Hoặc vẽ, hoặc tô Đại Sĩ h́nh 

Cảm thương chiêm lễ biệt chẳng đành, 

Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu. 

Bồ-tát hiện thân đến bên ḿnh: 

Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nào, 

Dầu sa ác thú cũng ra mau, 

Nếu được không lui ḷng kính ngưỡng, 

Thánh kư, Bồ-tát vuốt đầu trao. 

Bồ-đề vô thượng muốn tu hành, 

Mong ra ba cơi khỏi tử sinh, 

Người này đă phát ḷng bi lớn 

Trước nên chiêm lễ Đại Sĩ h́nh. 

Nghe tên quy y đấng trọn lành, 

Cúng dường cung kính phát ḷng thành, 

Nghiệp chướng chẳng hề ngăn chướng đặng 

Bao nhiêu mong ước sớm viên thành. 

Có kẻ phát tâm tụng kinh sách 

Muốn độ chúng sanh khỏi tai ách 

Dầu lập nguyện lớn chẳng nghĩ bàn 

Đọc rồi quên rồi luôn sót mất. 

Người này nghiệp chướng nó làm mê 

Học đại thừa kinh khó mọi bề 

Y phục, uống ăn, các ngọa cụ, 

Cúng dường Địa-Tạng với hương hoa. 

Dùng chén nước trong bày trước tượng, 

Cách một ngày đêm bưng lấy uống, 

Sanh ḷng ân trọng cữ ngũ tân 

Rượu thịt, tà dâm cùng dối luống. 

Trong hăm mốt ngày chớ sát sanh, 

Chuyên ḷng tưởng niệm Thượng Nhơn danh, 

Chiêm bao thấy rơ Tôn-dung hiện, 

Thức rồi, liền đặng trí khôn lanh. 

Đại Thừa kinh giáo nghe qua tai, 

Ngh́n vạn đời sau nhớ chẳng sai, 

Chính nhờ Đại Sĩ oai thần lớn 

Thầm giúp người kia có huệ tài. 

Chúng sanh nghèo khổ lại ốm đau, 

Cửa nhà họa hoạn, người ĺa nhau 

Ngủ mê mộng mị không an giấc, 

Cầu muốn hỏng hư chẳng được nào! 

Dốc ḷng chiêm lễ Địa-Tạng Ngài, 

Bao nhiêu việc ác thảy tiêu ngay 

Nhẫn đến chiêm bao đều an cả, 

Quỉ Thần pḥ hộ, của dư xài. 

Muốn qua sông biển, đến núi rừng, 

Cầm thú độc nguy, giặc đón đường, 

Ác Thần, ác Quỉ, mưa gió dữ, 

Nhiều nỗi gian nan khốn không lường, 

Sắp sửa ra đi đối trước tượng 

Cúng dường kính lễ cùng chiêm ngưỡng. 

Núi rừng biển cả có vào trong 

Ác tai tiêu sạch thường an sướng. 

Quán Âm lóng nghe ta nói rơ 

Địa-Tạng vô lượng oai thần đó, 

Trăm ngh́n muôn kiếp thuật chẳng rồi, 

Rộng tuyên Đại Sĩ đầy sức nọ! 

Như người nghe đến Địa-Tạng danh, 

Thấy h́nh chiêm lễ hết ḷng thành, 

Hương hoa, ăn uống, dưng y phục, 

Trăm ngh́n báo đẹp hưởng điều lành. 

Nếu hay đem công hồi pháp giới, 

Rốt ráo thành Phật, sanh tử khỏi, 

Quán Âm nên biết gắng tuyên bày, 

Truyền khắp Hằng-sa nhiều nước cơi

PHẨM THỨ MƯỜI BA: DẶN D̉ CỨU ĐỘ NHƠN THIÊN  [M]

1) ĐỨC PHẬT GIÁO PHÓ.- Lúc đó đức Thế-Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Ngài Địa-Tạng đại Bồ Tát mà bảo rằng: 

'Địa-Tạng! Địa-Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn. 

Dầu cho các Đức Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ông trăm ngh́n muôn kiếp cũng chẳng hết đặng. 

Này Địa-Tạng! Địa-Tạng! Ông nên nhớ hôm nay ta ở trong cung trời Đao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm ngh́n muôn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các đức Phật, các vị Bồ Tát, các hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa chưa ra khỏi ba cơi, mà giao phó cho ông. 

Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào các ác đạo dầu là chừng một ngày, một đêm, huống chi lại để cho chúng nó phải bị đọa lạc vào địa ngục ngũ vô gián cùng địa ngục A Tỳ, măi đến ngh́n muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư. 

Này Địa-Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cơi Diêm Phù Đề không định, phần đông đều quen theo thói ác, thoảng hoặc có người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, c̣n như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng. 

Cũng v́ lẽ đó, nên ta phải chia thân này ra trăm ngh́n ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của chúng nó hầu làm cho chúng nó được giải thoát. 

Này Địa-Tạng! Hôm nay ta ân cần đem chúng Trời, Người giao phó cho ông. 

Trong đời sau, như có hàng Trời, Người cùng thiện nam, thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phập-pháp, chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh vô thượng, chớ để họ thối thất. 

Lại vầy nữa, này Địa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào chốn ác đạo, đến khi bị đọa vào ác đạo vừa bước đến cửa địa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ kinh điển đại thừa. 

Ông nên dùng thần lực của ông t́m phương chước cứu vớt các chúng sanh đó, ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan địa ngục làm cho họ được sanh lên cơi trời hưởng những sự vui vi diệu thù thắng'. 

Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng: 

Đời nay đời sau chúng Thiên, Nhơn 

Nay ta ân cần dặn bảo ông; 

Dùng đại thần thông quyền độ họ, 

Đừng cho ác đạo đọa vào trong. 

2) BỒ TÁT TUÂN CHỈ.- Bấy giờ Ngài Địa-Tạng đại Bồ Tát quỳ gối chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Cúi xin đức Thế-Tôn chớ lo. 

Trong đời sau, nếu có người thiện nam cùng kẻ nữ nào, đối với trong Phật-pháp có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm ngh́n phương tiện độ thoát người đó, làm cho mau đặng giải thoát trong đường sanh tử, huống nữa là nghe các việc lành rồi luôn luôn tu hành, tự nhiên ở nơi đạo vô thượng không bao giờ c̣n thối chuyển'.

3) HƯ KHÔNG TẠNG BẠCH HỎI.- Lúc Ngài Địa-Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng đức Phật rằng: 

'Bạch đức Thế-Tôn! Từ khi con đến cung trời Đao Lợi này nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát. 

Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng Trời, Rồng v.v... nghe kinh điền này và nghe danh tự của Địa-Tạng Bồ Tát, cùng với chiêm lễ h́nh tượng Địa-Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều phước lợi? 

Cúi mong đức Thế-Tôn v́ tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho'. 

4) HAI MƯƠI TÁM ĐIỀU LỢI- Đức Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: 'Lóng nghe! lóng nghe cho kỹ! Ta sẽ v́ ông mà nói rơ việc ấy cho. 

Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát và nghe kinh này, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi sau đây: 

1

- Các hàng Trời, Rồng thường hộ niệm

 

2

- Quả lành càng ngày càng thêm lớn

 

3

- Chứa nhóm nhơn vô thượng của Thánh

 

4

- Măi không c̣n thối thất đạo Bồ Đề

 

5

- Đồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ

 

6

- Những bịnh tật không đến nơi thân

 

7

- Khỏi những tai nạn về lửa và nước

 

8

- Không có bị hại v́ trộm cướp

 

9

- Người khác thấy đến sanh ḷng cung kính

 

10

- Các hàng Quỉ Thần theo hộ tŕ

 

11

- Đời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai

 

12

- Đời sau sẽ làm con gái các hàng Vương Giả, Đại Thần

 

13

- Thân tướng xinh đẹp

 

14

- Phần nhiều được sanh về cơi trời

 

15

- Hoặc làm bực vua chúa

 

16

- Có trí sáng biết rơ việc trong những đời trước

 

17

- Có mong cầu chi cũng được toại ư

 

18

- Quyến thuộc an vui

 

19

- Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch

 

20

- Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn

 

21

- Đi đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại

 

22

- Đêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ

 

23

- Những người thân tộc đă chết nếu có tội thời được khỏi khổ

 

24

- Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cơi vui sướng

 

25

- Các bực Thánh ngợi khen

 

26

- Căn tánh lanh lợi thông minh

 

27

- Giàu ḷng từ mẫn

 

28

- Rốt ráo thành Phật

 

5) BẨY ĐIỀU LỢI - Lại vầy nữa, nầy Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở hiện tại và vị lai nghe danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, đảnh lễ h́nh tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, hoặc nghe các sự về bổn nguyện tu hành của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát mà ngợi khen chiêm lễ, thời sẽ đặng bảy điều lợi ích: 

1

- Mau chứng bực Thánh

 

2

- Nghiệp ác tiêu diệt

 

3

- Chư Phật đến ủng hộ

 

4

- Không thối thất Bồ Đề

 

5

- Bổn lực được tăng trưởng

 

6

- Việc đời trước đều rơ biết

 

7

- Rốt ráo thành Phật'

 

6) ĐẠI HỘI TÁN THÁN.- Bấy giờ, bất khả thuyết tất cả các Đức Phật và đại Bồ Tát cùng tám bộ chúng Trời, Rồng ... ở mười phương đến dự Pháp-hội đó, nghe đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngợi khen tuyên bày sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa-Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có. 

Lúc đó trời Đao Lợi rưới vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa-Tạng Bồ Tát xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ chắp tay mà lui ra.

KINH ĐIA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN QUYỂN HẠ HẾT

Mục lục | 01 | 02 | 03

Kệ tán:

Kinh Địa Tạng Bổn Thệ,
So sánh các nghiệp nhân,
Ốm đau, tàn tật, câm ngọng do đời trước,
Đời này đọc tụng Đại Thừa,
Được phước lợi vô cùng,
Quyết định sen báu văng sanh.
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật.
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp.
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng.

 

          Hồi Hướng

MA HA BÁT NHĂ BA LA MT ĐA TÂM KINH

 

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhă ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.

 

Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

 

Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng: bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố, không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhăn nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư, vô sắc, thinh hương, vị, xúc, pháp, vô nhăn giới năi chí vô ư thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận, năi chí vô lăo tử, diệc vô lăo tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhă ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

 

Tam thế chư Phật y Bát nhă ba la mật đa cố, đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cố tri Bát nhă ba la mật đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thế khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát nhă ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

 

BẠT NHỨT THẾ NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BỔN ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ LA NI

 

Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa, tất đam bà tỳ. A di rị đa, tỳ ca lan đế. A di rị đa, tỳ ca lan đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần)  

A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu di,
Cám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ tát chúng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. 

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới, đại từ, đại bi A Di Đà Phật.

Nam mô A Di Đà Phật. (108 lần)
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. (10 lần)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát. (10 lần)
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ tát. (10 lần)
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát. (10 lần)

Mục lục | 01 | 02 | 03


Thích Nghĩa  [M]

(1) Trời Đao Lợi: là từng trời thứ hai trong 6 từng trời ở cơi Dục. Đao lợi là tiếng Phạn, dịch là “tam thập tam” nghĩa là ba mươi ba, từng trời này ở tại núi Tu di nơi đó chia ra làm 33 nước trời, 32 nước ở bốn phương xung quanh, mỗi phương 8 nước; chính giữa là Thiện Kiến thành, cung của trời Đế Thích, vị trời này quyền thống nhiếp cả 33 nước trời.

Đương thời đó đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại cung trời này mà thuyết pháp trong 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Thánh mẫu là bà Ma Gia phu nhân sinh mẫu của Thái Tử Sĩ Đạt Ta. 7 ngày sau khi hạ sinh thái tử, bà bỏ thân người sinh lên cơi trời Đao Lợi. Bấy giờ đức Phật sắp nhập diệt, ngài ngự lên đó nói pháp, trước để đáp ơn sinh thành, sau nhân đó mà giáo hóa hàng chư Thiên, cùng Long, Thần bát bộ và cả thảy Thánh, phàm.

(2) Vô lượng, vô biên, vô số, bất khả thuyết, bất tư nghị v.v... đều là những con số lớn thường dùng bên Thiên Trúc.

(3) Đời ác ngũ trược: là hiện thời đủ cả năm điều nên thành đời ác.

1. Kiếp trược: thời gian biến đổi không ngừng, có đủ bốn món trược dưới đây.

2. Kiến trược: Sự thấy biết sai làm, tin nhận tà vạy chính là món “lợi sử” vậy.

3. Phiền năo trược: Tham, sân hừng hẩy, si mê, điên đảo v.v... chính là những tính về “độn sử” vậy.

4. Chúng sinh trược: Sinh tử, tử sinh nối luôn không dứt.

5. Mạng trược: Thọ mạng ngắn ngủi.

Cang cường: Là tính t́nh ương ngạnh khó bảo khó dạy.

Pháp khổ pháp vui: tức là tứ chân đế lư:

1/ Khổ đế: Ba cơi sinh tử, già, đau, sống, chết v.v... không lường sự khổ hoạn, tức là quả khổ.

2/ Tập đế: phiền năo chứa nhóm kết thành nghiệp nhân sinh tử, tức là nhân khổ.

3/ Diệt đế: Dứt hẳn phiền năo, khỏi hẳn sinh tử, an vui vắng lặng (Niết bàn), tức là quả vui.

4/ Đạo đế: các thánh đạo những phương pháp tu hành để đoạn phiền năo, chứng quả thánh, tức là nhân vui.

Trong bốn đế lư trên, khổ là quả báo khổ, tập là nghiệp nhân xấu, do nhân xấu mà phải thọ lấy quả báo khổ, đó là “pháp khổ”.

Diệt là quả an vui, đạo là đạo hành lành mà chứng lấy quả an vui, đó là “pháp”. Đức Phật dạy cho chúng sinh biết rơ pháp khổ để dứt trừ cũng thoát ly, dạy cho chúng sinh biết rơ pháp vui để tu hành cùng chứng lấy.

(4) Thị giả: là người hầu hạ, người hầu hạ Phật tức là Bồ tát vậy.

(5) Cơi dục có sáu từng trời:

1. Trời Tứ Thiên Vương, trời này ở giữa chừng núi Tu di.

2. Trời Đao Lợi, trời này ở tại đỉnh núi Tu di (2 từng trời này dùng ánh sáng mặt trời).

3. Trời Tu diệm ma, cũng gọi là trời Da ma.

4. Trời Đâu suất đà.

5. Trời Hóa Lạc.

6. Trời Tha hóa tự tại (4 từng trời này tự có ánh sáng riêng, và nương mây mà ở)

Từ trời Phạm chúng, trời Phạm phụ đến trời sắc cứu cánh, trời Ma hê thủ la thuộc về cơi Sắc (có sắc nhưng không c̣n ḷng dục nhiễm).

Cơi vô sắc có 4 từng:

1. Không Vô biên Xứ Thiên,

2. Thức vô biên Xứ Thiên.

3. Vô Sở Hữu Xứ Thiên.

4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (4 từng trời này chỉ có định quả thân chớ không có thân về sắc chất)

(6) Tám bộ chúng:

1. Thiên chúng, hàng chư Thiên chúng (Thiên tướng).

2. Long chúng (loài rồng).

3. Dạ xoa chúng (các thần Dạ xoa).

4. Càn thát bà chúng (các thần đánh nhạc của trời Đế Thích).

5. A tu la chúng (thần Phi Thiên).

6. Ca lâu la chúng (loài Kim sí điểu).

7. Khẩn na la chúng (thần múa hát của trời Đế Thích).

8. Ma hầu la dà chúng (Đại măng xà thần).

(7) Sông Hằng: là một con sông to lớn, nguồn từ dăy núi Hy mă chảy ngang qua xứ Ấn Độ rồi đổ vào Ấn Độ dương, ḷng sông cùng hai bên băi, có rất nhiều cát mịn. Đương thời đức Phật thường nói pháp ở các nước thuộc lưu vực sông Hằng nên phàm nói một số lớn, đức Phật lấy một số cát trong sông Hằng để chỉ, mà nói là “hằng hà sa số”

Bồ tát thuộc về Đại thừa, có ba mươi bậc Hiền:

(Trụ vị 10 bậc, Hạnh vị 10 bậc, Hướng vị 10 bậc)

10 bậc thánh, tức là Thập Địa:

1. Hoan Hỷ địa

2. Ly Cấu địa

3. Pháp Quang địa

4. Diệm Huệ địa

5. Nan Thắng địa

6. Hiện Tiền địa

7. Viễn Hành địa

8. Bất Động địa

9. Thiện Huệ địa

10. Pháp Vân địa.

Trên Pháp Vân địa có bậc Đẳng giác Bồ tát, măn bậc Đẳng giác thời thành Diệu giác (Phật quả).

Bích chi Phật thuộc về trung thừa có 2 hạng

A. Độc giác, ra đời không gặp Phật và Phật pháp, do sẵn có căn lành, ngó thấy cảnh tang thương hoa tàn, lá úp v.v... ngộ lư vô thường, phát tâm xuất ly dục trần tự tu tập vô thường mà chứng quả vô sinh khỏi ṿng sinh tử trong tam giới.

B. Duyên giác, ra đời gặp Phật và Phật pháp tu tập thập nhị nhân duyên quán mà chứng quả vô sinh.

Hai hạng Bích chi Phật trên, về phần tu tập thời khác với Thanh văn, nhưng quả chứng thời đồng với bậc A la hán.

Thanh văn thuộc về tiểu thừa, y theo thánh giáo của Phật dạy tu tập tứ đế lư mà chứng Thánh quả. Có 4 bậc: 1. Tu đà hoàn (Dự lưu quả), 2. Tư đà hàm (Nhất lai quả), 3. A na hàm (Bất lai quả), 4. A la hán (Vô sinh quả).

(8) Ác đạo: ba đường dữ (Súc sinh đạo, Ngạ quỉ đạo và Địa ngục đạo).

(9) Ba ngôi báu quư: Phật, Pháp, Tăng.

(10) Chính kiến: kiến giải (thấy biết nhận hiểu chân chính). Phàm chỗ nhận hiểu đúng Phật pháp thời là chính kiến, ngoài Phật pháp mà nhận hiểu khác thời đều là tà kiến.

(11) Vô gián địa ngục: ở phẩm thứ ba có nói rơ.

(12) Quỷ vương: chúa loài quỉ.

(13) Oai thần: thần thông các bậc Thánh. Nghiệp lực: sức nghiệp ác của chúng sinh gây tạo ra.

(14) Do tuần: Cứ lấy số trung b́nh một do tuần độ 40 dặm.

(15) Ba nghiệp: thân, khẩu, ư. Nghiệp nghĩa là tạo tác thi vi, ba chỗ này có công năng tạo tác thi vi nên gọi là ba nghiệp.

(16) Mười hạnh lành:

Ba hạnh thuộc về thân: 1. Không sát sinh mà phóng sinh, 2. Không trộm cướp mà bố thí, 3. Không tà dâm mà đoan chính.

Bốn hạnh thuộc về khẩu: 1. Không nói dối mà nói thiệt, 2. Không nói lời chia rẽ mà nói ḥa giải, 3. Không nói lời thô ác mà nói lời ôn ḥa, nhă nhặn. 4. Không nói lời thêu dệt mà nói lời chắc đúng.

Ba hạnh thuộc về ư: 1. Không có ḷng tham lam bỏn sẻn mà sinh ḷng rộng răi xả thí, 2. Không có ḷng hờn giận ganh ghét mà sinh ḷng tùy hỷ xót thương, 3. Không có ḷng si mê tà kiến mà sinh ḷng sáng suốt nhận hiểu chân chính.

(17) Nghĩa của các địa ngục:

Cực Vô gián: cùng tột Vô gián (nghĩa Vô gián đă có ở phẩm trước)

Đại A tỳ (Vô gián lớn)

Tứ giác (bốn góc)

Phi đao (đao bay)

Hỏa tiễn (tên lửa)

Giáp sơn (núi ép)

Thông thương (phóng dâm)

Thiết xa (xe sắt)

Thiết sàng (giường sắt)

Thiết ngưu (trâu sắt)

Thiết y (áo sắt)

Thiên nhẫn (ngh́n mũi nhọn)

Thiết lư (lừa sắt)

Dương đồng (nước đồng sôi)

Bảo trụ (ôm cột đồng)

Lưu hỏa (lửa văng)

Canh thiệt (cày lưỡi)

Tỏa thủ (chém đầu)

Thiêu cước (đốt chân)

Đạm nhăn (móc mắt)

Thiết hoàn (hoàn sắt)

Tranh luận (căi cọ)

Thiết thù (thù sắt)

Đa sân (nhiều giận).

(18) Các địa ngục như thế:

Kiếu oán (kêu la)

Bạt thiệt (kéo lưỡi)

Phẩn niếu (phẩn tiểu)

Đồng tỏa (khóa đồng)

Hỏa tượng (voi lửa)

Hỏa cẩu (chó lửa)

Hỏa mă (ngựa lửa)

Hỏa ngưu (trâu lửa)

Hỏa sơn (núi lửa)

Hỏa thạch (đá lửa)

Hỏa sàng (giường lửa)

Hỏa lương (sà lửa)

Hỏa ưng (diều lửa)

Cứ nha (cưa răng)

Bác b́ (lột da)

Ẩm huyết (uống máu)

Thiêu thủ (đốt tay)

Đảo thích (đâm ngược)

Hỏa ốc (nhà lửa)

Hỏa lang (sói lửa).

(19) Năm tướng suy hao: khi một vị trời nào số thọ đă măn, th́ trước khi chết có năm tướng này hiện ra:

1. Hoa trên măo khô héo

2. Mất hào quang nơi thân.

3. Ḿnh rịn chất hôi.

4. Ở không an

5. Quyến thuộc nhàm lánh

BÀI TỰA VỀ VĂN MƯỜI PHƯƠNG

Bài hồi hướng. “Thập phương”, văn chữ hán (số A) vốn là của ngài Đại Từ Bồ tát soạn ra. Sau khi tụng kinh cùng niệm Phật, tụng bài này cốt để đem bao nhiêu công đức tụng niệm đều hồi hướng cầu được văng sinh về cơi Tây phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Tụng bài này phước đức lớn lắm nên từ xưa đến nay, ở nước ta cũng như nước Tàu, trong các chốn Thiền môn, luôn luôn dùng bài này phổ vào các thời khóa.

C̣n từ “nhất giả” đến “thập giả” (số B) là mười điều nguyện rút ra trong phẩm “Phổ Hiền hạnh nguyện” của kinh Hoa Nghiêm. Trong kinh mỗi một nguyện ngài Phổ Hiền Bồ tát v́ ngài Thiện Tài Đồng Tử và chúng hội Bồ tát mà giảng giải rất rộng, 10 câu tổng nên về mỗi nguyện thôi.

Phàm tụng văn hồi hướng, cần nhất người tụng phải hiểu rơ nghĩa lư trong văn, v́ có hiểu thời chỗ hồi hướng phát nguyện mới thiết thiệt, tâm quán tưởng mới xác thật, công đức mới tăng trưởng. Nếu tụng mà không hiểu chi hết, thời hồi hướng đó là hồi hướng về đâu? Phát nguyện đó là phát những ǵ và như thế nào? Thành ra chỉ có tụng theo lệ suông thôi chắc khó thành tựu công đức được.

V́ lẽ trên đây, nên tôi không quản tài sơ văn vụng phỏng theo nguyên văn và y cứ nơi nghĩa trong kinh mà dịch cả hai bài (số A và số B) ra quốc văn. Dịch xong lại c̣n ngại v́ trong sám văn có nhiều nghĩa sâu ẩn, khuất khúc, nên viết thêm đoạn thích nghĩa sau đây, (số 20 và 21) để giải rơ bổn quốc văn, ngơ hầu khi tụng đến, tụng chữ hiểu nghĩa, tâm và lư tương tương ứng khi hiệp, lâu lâu tinh thuần, thiện căn công đức chắc chắn là vô cùng vô tận vậy.

HÂN TỊNH TỲ KHEO

Cẩn chí

(20) Trong khoảng không gian vô tận, chẳng phải chỉ có nội một cơi Ta bà của đức giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật mà chúng ta hiện ở đây thôi, kỳ thật ngoài Ta bà ra c̣n có vô biên thế giới khác. Phàm hễ có một thế giới thời có một đức Phật làm giáo chủ, thế giới đă vô biên thời là có vô lượng chư Phật. Chẳng những hiện tại đây vô biên thế giới ở mười phương (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, trên và dưới) có vô lượng chư Phật, và về thời kỳ quá khứ đă có vô lượng chư Phật và đến thời kỳ vị lai cũng sẽ có vô lượng chư Phật. Nên trong văn nói: Mười phương chư Phật ba đời.

Trong vô lượng chư Phật ở mười phương ba đời đó, suy ra thời đức Phật A Di Đà là bậc nhất.

Về Phật quả thời Phật đồng chứng như nhau, đồng trí viên, đồng hạnh măn, đồng đức đủ, đồng nguyện toàn, công đức của chư Phật đă đồng sao lại nói Phật A Di Đà là bậc nhất? –Đây nói bậc nhất là cứ nơi ứng hóa thân của Phật mà so sánh thôi, chớ không phải nói đến pháp thân và báo thân, về pháp thân và báo thân của chư Phật quyết hẳn là đồng, v́ hai thân đó là thật thân quả chứng của chư Phật vậy. C̣n ứng hóa thân là những chiếc thân v́ chúng sinh cảm cách đến Phật mà ứng hóa ra, chúng sinh cơ cảm có sai khác nên thân ứng hóa của chư Phật cùng tùy đó mà sai khác, lại sự sai khác đó cũng do v́ bổn nguyện của chư Phật lúc c̣n tu hạnh Bồ tát không đồng nhau vậy.

Về sự thù thắng nơi ứng thân của đức Phật A Di Đà lược kể về phần đại khái thời có 4 điều nói:

A. Quang minh thường chiếu suốt các cơi nước ở mười phương không bị che ngăn, như Trong kinh Tiểu bổn A Di Đà nói Quang minh của đức Phật đó vô lượng chiếu các cơi nước ở mười phương không bị chướng ngại, nên hiệu A Di Đà”.

Trong kinh Đại bổn A Di Đà nói: “Giả sử khi ta đặng thành Phật mà quang minh có hạn lượng, ít nhất là chẳng soi suốt trăm ngh́n ức na do tha cơi nước của chư Phật, thời ta nguyện không chứng quả chính giác” (điều nguyện thứ 12 trong 48 điều nguyện).

C̣n quang minh nơi ứng thân của chư Phật, phần nhiều có hạn lượng, hoặc chiếu một do tuần, 10 do tuần, 100, 1.000... do tuần, hoặc chiếu 1 thế giới, 10, 100, 1.000... thế giới. Như quang minh nơi ứng thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ chiếu có 1 tầm!

V́ quang minh vô lượng nên đức Phật A Di Đà có 12 biệt hiệu như trong Đại bổn kinh:

1. Vô Lượng Quang,

2. Vô Biên Quang,

3. Vô Ngại Quang,

4. Vô Đối Quang,

5. Viêm Vương Quang (có chỗ để Diệm Vương Quang),

6. Thanh Tịnh Quang,

7. Hoan Hỷ Quang,

8. Trí Huệ Quang,

9. Nan Tư Quang,

10. Bất Đoạn Quang,

11. Vô Xứng Quang,

12. Siêu Nhật Quang.

Do đây nên về quang minh thường nơi ứng thân, thời đức A Di Đà được phần thù thắng trong hàng chư Phật vậy.

B. Thọ mạng ứng hiện ra đời của chư Phật phần nhiều đều có hạn lượng; hoặc 100 tuổi, 1.000 tuổi... hoặc 1 kiếp, 10 kiếp, 100 kiếp, 1.000 kiếp, v.v... như đức Phật Thích Ca ở đời chỉ có 80 năm.

C̣n về ứng thân của đức Phật A Di Đà, thọ mạng vô lượng. Trong Tiểu bổn kinh nói: “Đức Phật đó sống lâu vô lượng vô biên vô số kiếp, nên hiệu là A Di Đà”. Điều nguyện thứ 13 trong Đại bổn kinh nói: “Giả sử khi ta đặng thành Phật mà thọ mạng có hạn lượng, ít nhất không được trăm ngh́n ức na do tha kiếp đó, thời ta nguyện không chứng quả chính giác”. Nên đức Phật A Di Đà cùng hiệu là Vô Lượng Thọ Phật.

Đây là thọ mạng của đức Phật A Di Đà có phần thù thắng trong hàng chư Phật vậy.

C. Về phần đồng cư nơi Cực Lạc, là cơi nước của đức Phật A Di Đà cực kỳ trang nghiêm, thuần vui thanh tịnh, tuyệt không có mảy may khổ năo, như trong Đại bổn kinh, Tiểu bổn kinh và Quán kinh đă rộng thuật.

Lại trong bộ Yếu giải nói: “Cực Lạc đồng cư, tứ độ viên dung, thọ lạc viên dung Ở nơi đồng cư độ (cơi phàm) mà viên kiến cả ba bộ trên (3 cơi thánh: Phương tiện độ, Thật báo độ, Thường tịch quang độ cơi trước là cơi của Nhị thừa thánh nhân, kế là cơi của đại Bồ tát, sau rốt là cơi của đức Phật).

Chứ so với các cơi khác, như Ta bà chẳng hạn, nơi chúng ta đồng sống đây chính là đồng cư độ của cơi Ta bà vậy, thời lại đủ thứ uế nhơ, nào tam khổ, bát khổ, vô lượng điều khổ sở ngũ trược v.v... lại hạng phàm phu không thể dự phần nơi cảnh Thánh.

Đây là cơi đức Phật A Di Đà, về phần đồng cư độ có phần đặc biệt trong các cơi nước ở mười phương vậy.

D. Nhân dân trong nước của đức Phật A Di Đà dầu là phàm, nhưng cũng đều trụ bậc “bất thối chuyển”, nghĩa là ở vào địa vị thẳng măi đến thành Phật, không c̣n ngưng trệ lui sụt. Nói chi các bậc Thánh! Trong hàng Thánh của nước Cực Lạc, cứ về bậc “Nhất sinh bổ xứ Bồ tát” như ngài Quán Âm Thế Chí, hay là như Di Lặc v.v... số nhiều vô hạn, huống là bậc Thập địa, Địa tiền, cùng Thanh văn Duyên giác! Trong tiểu bổn kinh nói: “Nơi nước Cực Lạc, chúng sinh nào sinh về đó đều là bậc bất thối chuyển. A la hán và Bồ tát đều đồng vô lượng vô biên, không thể tính đếm mà biết được, chỉ có thể gượng nói là vô lượng vô biên vô số thôi”.

Bậc Thánh trong cơi khác hoặc là có số hạn, như cơi Ta bà có 62 ức hằng hà sa vị Bồ tát v.v...

Lại nhân dân nơi Cực Lạc tuổi thọ đồng với Phật, nghĩa là vô lượng, như Tiểu bổn kinh nói: “Thọ mạng của đức Phật đó và thọ mạng của nhân dân của ngài, vô lượng, vô biên, vô số kiếp”.

Đấy là nhân dân, La hán, Bồ tát của đức Phật A Di Đà trong các cơi nước mười phương vậy.

V́ những phần đặc thắng trên đây, nên trong văn nói:

Mười phương chư Phật ba đời, Di Đà bậc nhất.

Đối với chúng sinh, đức Phật A Di Đà có nguyện lực độ sinh rất lớn. Nguyện lực đó rơ ràng nhất là đă nêu bày trong 48 điều nguyện của ngài: những nguyện độ khắp Thánh phàm trong mười phương! Lại trong Quán kinh có câu: “Phật tâm đó là ḷng đại từ bi vậy dùng vô duyên từ nhiếp độ các chúng sinh”. Kinh lại nói: “Đức Vô Lượng Thọ Phật có 84.000 tướng, trong mỗi tướng đều có 84.000 tùy h́nh hảo, trong mỗi h́nh hảo lại có 84.000 áng sáng, mỗi ánh sáng chiếu khắp các cơi nước ở mười phương. Ánh sáng này nhiếp thủ chúng sinh niệm Phật không ĺa bỏ”.

Đức Phật A Di Đà có ḷng từ, nguyện lớn, phóng quang minh tiếp độ chúng sinh không ĺa bỏ, nên trong văn nói:

Di Đà bậc nhất chẳng rời quần sinh.

Do nguyện lực của đức Phật A Di Đà, nên những người được sinh về cơi Cực Lạc của ngài đều từ trong hoa sen báu nơi ao thất bảo mà hóa sinh, nghĩa là mượn hoa sen làm bào thai mà cho thân h́nh. Đó gọi là “liên hoa thanh tịnh hóa sinh”, cũng có câu “liên hoa vi phụ mẫu”. V́ người văng sinh về đó nơi trí có cao thấp, nơi phước có nhiều ít không đồng nhau, nên hoa sen là chỗ thác sinh cũng có nhiều hạng, đại khái chia làm chín phẩm:

1. Thượng phẩm thượng sinh.

2. Thượng phẩm trung sinh.

3. Thượng phẩm hạ sinh (ba phẩm này thuộc bậc đại thừa Bồ tát).

4. Trung phẩm thượng sinh.

5. Trung phẩm trung sinh (hai phẩm đây thuộc hàng nhị thừa Thánh nhân).

6. Trung phẩm hạ sinh (một phẩm đây thuộc hàng có công đức lành ở đời).

7. Hạ phẩm thượng sinh.

8. Hạ phẩm trung sinh.

9. Hạ phẩm hạ sinh (ba phẩm này thuộc về hạng người tạo ác nghiệp).

Cứ nơi chín phẩm trên thấy, thời thấy rằng từ bậc đại thừa Bồ tát, nhị thừa Thánh nhân, người lành tốt trong đời cho đến kẻ tạo ác nghiệp, phạm ngũ nghịch thập ác v.v... mà có gia công niệm Phật, thời đều được văng sinh về cơi Cực Lạc cả (trừ người hủy báng Tam Bảo).

Đức Phật A Di Đà sẳn đức từ bi nguyện lực, dùng chn phẩm liên hoa báu để chực chờ tiếp dẫn chúng sinh về nước của ngài. Nên trong văn nói:

Sen vàng chín phẩm sẵn dành.

Oai lực linh thông của Phật vô cùng, đức lành của Phật vô cực. Trí quang chiếu phá sự mê tối của chúng sinh khắp mười phương, đó là “oai lực”. Chúng sinh niệm Phật, thời liền hộ niệm giữ ǵn cho được an ổn không thối không thất, và hiện vô lượng thân đến khắp vô lượng thế giới để tiếp dẫn chúng sinh về Cực Lạc. Đây là “linh thông”. Tâm của Phật không lúc nào quên chúng sinh, như cha mẹ hiền nhớ con, thương con. Lại không công đức nào mà Phật không hoàn măn đây là “đức lành”. Như tiểu bổn kinh nói: “Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nghe nói đến đức Phật A Di Đà rồi hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, chấp tŕ danh hiệu nhất tâm bất loạn. Người này đến lúc lâm chung, đức Phật A Di Đà và hàng Thánh chúng hiện ra nơi trước, người lúc chết tâm hồn không điên đảo, liền đặng văng sinh về nước Cực Lạc của Phật A Di Đà”. Kinh Lăng Nghiêm có câu: “Các đức Như Lai trong mười phương thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con”. Lại có câu: “Người nào niệm danh hiệu Phật, thời hào quang của Phật chiếu đến người đó, làm cho các sự tai vạ tà ma, quỷ quái không đến gần được”.

Oai lực linh thông của Phật vô cùng, đức dày của Phật lại vô cực nên văn nói:

Oai linh đức cả đă dành vô biên.

Từ đây nhẫn lên là giải một câu kệ về phần tán thán công đức của Phật:

Mười phương chư Phật ba đời,

Di Đà bậc nhất chẳng rời quần sinh.

Sen vàng chín phẩm sẵn dành

Oai linh đất cả đă dành vô biên.

Đă rơ nơi đức Phật A Di Đà có vô lượng công đức thù thắng nếu không quy y với Phật c̣n quy y với ai. Quy y là đem cả thân mạng ḿnh nương nơi Phật, gửi nơi Phật, giao phó cho Phật. Lại dùng ḷng chí thành mà quy y. Trong văn nói:

Nay con dưng tấm ḷng thiềng, quy y với Phật...

Từ thưở trước đến ngày nay, v́ say mê nên đă lỡ lầm gây tạo ra không biết bao nhiêu tội lỗi. Ngày nay nhờ nghe kinh thấy Phật mà tỉnh ngộ, đă biết tự xét ăn năn, nên cũng mau mau dùng ḷng chí thành mà sám hối tội lỗi, nghĩa là ăn năn tội trước, chừa cải lỗi sau. Nên trong văn nói:

Sám liền tội căn.

Nay tự suy lấy ta – Trong những đời đă qua, chắc có lẽ ta cũng đă có tu tạo ít nhiều phước lành chớ chẳng không, v́ nếu không có phước lành thời quyết hẳn là không được sinh làm người, v́ loài người thuộc về thiện đạo trong lục đạo. Lại trong kinh nói: gặp được Phật pháp là điều rất khó. Rất khó mà nay ta được nghe, thời chắc chắn ta đă có căn lành sẵn rồi, dầu có nhưng v́ ta mê muội nên cách đời mà quên đi. Lại trong đời này, những ngày qua, hiện tại nay, và sau này, thời ta đă có làm lành, hiện tu tập và sẽ vun trồng cội phước. Dầu thế song c̣n thuộc hạng phàm phu, phiền năo, nghiệp chướng đầy dẫy, thời làm lành đâu dám chắc là thiệt lành, làm phước đâu dám tự hào là thiệt phước, chỉ có trí huệ của đức Phật mới có thể nhận thiệt mà thôi, nên trong văn nói:

Phước lành con có chi chăng?

Nương phước mà ở măi nơi Ta bà, thời chỉ được hưởng sự vui tạm bợ, hết phước tất phải khổ, huống trong ṿng luân hồi, từ say mê càng vào mê, hễ mê thời dễ gây nghiệp, đâu bằng đem công đức hồi hướng cầu văng sinh Cực Lạc thế giới ở Tây phương, để được hưởng sự vui thanh tịnh và bảo đảm giải thoát, đây văn nói:

Ít nhiều quyết cũng nguyện rằng về Tây.

Từ đây trở lên là giải về bốn câu kệ quy y, sám hối và hồi hướng:

Nay con dưng tấm ḷng thiềng (thành)

Quy y với Phật, sám liền tội căn.

Phước lành con có chi chăng?

Ít nhiều cũng quyết niệm rằng về Tây.

Pháp lữ đề huề, thân cận thiện hữu, là điều cần thiết mà từ đức Phật đến chư Tổ đều luôn luôn nhắc nhở. Cùng dạy bảo cho nhau, những sự nghĩa chân chính, những lư thú thâm huyền. Cùng nhau đồng hành pháp sự, đồng tu tịnh nghiệp. Cùng nhau tùy hỷ khi đắc ích, khuyên răn lúc sái lười... Mến nhau như ruột thịt, coi nhau như tay chân. V́ thế nên chẳng phải chỉ nghĩ riêng về phần ḿnh, mà tâm tâm niệm niệm không quên mong mỏi cho thiện hữu, cũng như trông cầu cho tự ḿnh, sớm đặng kết thành ứng nghiệm lành trên đường tu tập: chính là nguyện bạn cùng ḿnh, trong ngày hiện tại nơi đời sống này, hoặc lúc thiền quán, hoặc lúc mộng mơ, cảm cách đến Phật, đến Thánh chúng, đến Cực Lạc, mà được thấy kim thân của đức Phật, hoặc thấy hào quang, hoặc thấy liên hoa, hoặc thần du cơi Cực Lạc v.v... để cho ḷng tin thêm kiên cố, nguyện hành càng tiến triển. Nên trong văn nói:

Nguyện cùng với bạn tu đây,

Tùy thời cảm ứng hiện ngay điềm lành.

Có nhân tất có quả. Nhân là tu tịnh nghiệp: niệm Phật cầu văng sinh Cực Lạc quốc. Qủa là khi măn báo thân trược uế được thác chất liên hoa nơi ao báu ở Tây phương Cực Lạc thế giới. Trước ngày lâm chung, nguyện đức Phật tin cho biết rơ ngày giờ, để vững ḷng chờ đợi. Đến lúc lâm chung, xin đức Phật y lời bổn nguyện lực, hiện thân vàng cùng cảnh Thánh cho ḿnh được thấy, nói pháp cho ḿnh được đă được thấy Phật, nghe pháp rồi, thời chính niệm càng tinh tấn, bội hơn ngày thường nên văn nói:

Biết giờ biết khắc rơ rành

Lâm chung tạn mặt cảnh lành Tây phương.

Thấy nghe chính niệm hơn thường.

Chính niệm tinh tấn, tâm không mê muội, không điên đảo liền đặng văng sinh về nước Cực Lạc thác chất nơi hoa sen thất bảo. Sau khi hoa nở, tâm nhăn khai thông đôi mắt thanh tịnh, thấy rơ thân quang minh tướng hảo của đức Phật, được Phật v́ ḿnh mà thuyết pháp mầu, liền ngộ lư vô sinh, chứng bậc bất thối, thoát hẳn ṿng sinh tử luân hồi. Rồi cũng như đức Phật, dùng thần thông trí lực, vận dụng từ bi, hiện thân đến thập phương độ khắp mọi loài chúng sinh, đồng được giải thoát như ḿnh đă được giải thoát. Như trong văn:

Văng sinh lạc quốc đồng nương hoa vàng

Hoa nở thấy Phật rơ ràng

Thoát ṿng sinh tử độ an muôn loài.

Từ đây nhẫn lên là giải về 8 câu kệ v́ ḿnh v́ người mà phát nguyện:

Nguyện cùng với bạn tu đây,

Tùy thời cảm ứng hiện nay điềm lành.

Biết giờ biết khắc rơ rành

Lâm chung tạn mặt cảnh lành Tây phương.

Thấy nghe chính niệm hơn thường.

Văng sinh lạc quốc đồng nương hoa vàng

Hoa nở thấy Phật rơ ràng

Thoát ṿng sinh tử, độ an muôn loài.

Muốn sau khi vào Cực Lạc được ở phẩm cao, thời phải có hạnh nguyện đại thừa v́ ba thượng phẩm trong chín phẩm chỉ có đại thừa Bồ tát mới được dự phần. Nên người tu Tịnh độ cần phát “Tứ hoằng thệ nguyện”. Bốn nguyện này là những điều nguyện chung mà tất cả chúng đại thừa ai cũng phải đủ.

I. Thệ dứt tất cả phiền năo, dầu là vô biên như văn nói:

Phiền năo vô biên, thệ dứt trừ.

II. Nguyện học thông và tu tập tất cả pháp môn chính đạo của đức Phật truyền dạy, dầu là vô lượng như văn nói:

Pháp môn tu học, chẳng c̣n dư.

III. Lợi tha là chính hạnh của đại thừa, là hoài băo của Bồ tát. Nên thệ độ tất cả chúng sinh dầu là vô tận, độ đến đâu? Độ đến giác ngạn kia. Như nói:

Chúng sinh nguyện độ, bờ kia đến.

IV. Và mục đích cuối cùng, là nguyện ḿnh cùng tất cả muôn loài đồng viên măn chính trí, chứng nhập như như, tức là thành Phật đạo hoàn toàn, Phật đạo vô thượng. Như văn nói:

Phật đạo cùng nhau chứng trí Như.

Từ đây nhẫn lên là giải về bốn câu hoằng thệ viết theo thể tứ cú để cho có phần đặc biệt, là ư muốn người tụng đến phải chú ư:

Phiền năo vô biên, thệ dứt trừ,

Pháp môn tu học, chẳng c̣n dư,

Chúng sinh nguyện độ, bờ kia đến

Phật đạo cùng nhau chứng trí Như.

Từ đây nhẫn xuống là 4 câu kết thúc lập chí bền chắc, giữ nguyện kiên cố, hư không chẳng bao giờ cùng tận, cái không cùng tận mà giả tỷ cho nó cùng tận đi nữa, nhưng những điều mà đă thệ nguyện ở trên đó, quyết không cùng tận, không mảy may dời đổi. Đây là ư nguyện của ta bền chắc vững vàng hơn cơi hư không. Những loài t́nh thức (người, vật v.v...) cùng với những loài không t́nh thức (núi, sông v.v...) khắp trong thế giới, ta đều b́nh đẳng nguyện cầu cho tất cả đồng viên thành trí huệ nhiệm mầu của Phật. Như văn nói:

Hư không cơi nọ dầu cùng,

Nguyện trên c̣n măi chẳng cùng chẳng thiên.

Không t́nh cùng có đồng nguyền,

Trí mầu của Phật đồng viên đồng thành.

Hỏi: Loài có t́nh thức tu tập viên thành Phật trí th́ phải, c̣n vô t́nh sao cũng đồng thành?

Đáp: Có hai nghĩa:

A. Vô t́nh là y báo, hữu t́nh là chính báo. Y báo là do chính báo cảm ra. Nên khi chính báo (hữu t́nh) thành Phật trí thời y báo (vô t́nh) cũng chuyển thành Phật cảnh. V́ nơi Phật, cảnh cùng trí không sai biệt, nên đồng viên thành Phật trí cũng không ngại, đó là lấy trí nhiếp cảnh vậy.

B. Giác tính ở nơi hữu t́nh thời gọi là Phật tính, ở nơi vô t́nh thời gọi là Pháp tính. Phật tính và pháp tính đều là giác tính. Thành Phật là viên chứng giác tính, ráo rốt b́nh đẳng viên dung, thời đâu c̣n có hữu và vô sai biệt cách ngại như phàm phu. Như thế, há lại không phải là đồng viên đồng thành đó ư?

(21) V́ muốn cho các điều hạnh nguyện trên được dung thông pháp giới, rộng lớn tuyệt đối, nên tiếp tục mười điều nguyện vương của ngài Phổ Hiền Bồ tát tuyên thuyết nơi Hoa Nghiêm đại hội. Viên măn 10 nguyện vương này thời tức là măn quả Phật vậy.

Phật dạy: chúng sinh lưu lăng trong ṿng sinh tử, chính là v́ trái quên tính giác và dong ruổi theo trần lao. Trần lao là món vô thường nên theo đó tất cả cũng lưu chuyển như nó. Nếu chúng sinh thức tỉnh, biết xét trở lại, rời trần lao mà xoay về giác tính thời hẳn luân hồi, v́ giác tính là bổn thể bất động.

Bậc chứng cùng giác tính là đức Phật nên đều nguyện thứ nhất lễ Phật đây là biểu tượng trái trần lao hiệp giác tính. Như văn nói:

Một là nguyện lạy Thế Tôn,

“Phật Thế Tôn” là đấng vô thượng chính giác tôn quư nhất trong thế gian và xuất thế gian.

Lạy Phật như thế nào?

Trong phẩm Hạnh nguyện, ngài Phổ Hiền có giảng giải điều đó như thế này: “Tất cả vi trần số chư Phật ở mười phương ba đời, do ta dùng sức hạnh nguyện Phổ Hiền, nên thâm tâm tin giải như đối trước mắt. Đều dùng thân, ngữ, ư ba nghiệp mà thường cung kính đảnh lễ luôn. Nơi mỗi đức Phật ta đều hiện ra vi trần số thân. Mỗi mỗi thân đảnh lễ khắp vi trần số đức Phật. Sự lễ kính của ta đây không có cùng tận, niệm niệm nối luôn không xó xen hở, ba nghiệp không có nhàm mỏi”.

Trong văn tóm tắt:

Hiện thân trước Phật hết ḷng kính tin.

2. Điều nguyện vương thứ hai là “khen ngợi Như Lai”.

Về điều nguyện này trong “Hạnh nguyện phẩm” nói: “Tất cả cơi nước trong mười phương ba đời có bao nhiêu vi trần, trong mỗi vi trần đều có vi trần số Phật, nơi chỗ của mỗi đức Phật đều có hải hội Bồ tát vây quanh. Ta đều phải dùng sức thắng giải hiện tiền tri kiến rất sâu, đều dùng thiệt căn nhiệm mầu hơn cả Biện Tài Thiên nữ. Mỗi mỗi thiệt căn vang ra biển, âm thanh vô tận, mỗi mỗi âm thanh diễn ra biển tất cả lời nói ngợi khen tán thán biển các công đức của tất cả Như Lai, cùng tột thuở vị lai nối luôn không ngớt, tận hư không đều cùng khắp cả”.

Tóm nghĩa kinh, văn nói:

Hai, khen Phật đức rộng thinh,

Lời hay tiếng tốt tận t́nh ngợi ca.

3. Điều nguyện vương thứ ba là “Rộng sắm cúng dường”.

Hạnh nguyện phẩm giải rằng: Trong vi trần của tất cả cơi nước mười phương ba đời, mỗi mỗi đều có vi trần số cơi Phật, nơi chỗ của mỗi đức Phật, đều có hải hội các hàng Bồ tát vây quanh, ta do sức hạnh nguyện Phổ Hiền mà sinh tri kiến hiện tiền tín giải rất sâu, đều đem các thức đồ cúng dường thượng diệu để mà cúng dường. Những là mây hoa, mây tràng hoa, mây âm nhạc trời, mây tàn lọng, mây y phục trời, các thứ hương trời: hương xoa, hương bột, hương xông... mỗi mỗi thứ mây đó lượng lớn như núi Tu di. Thắp các thứ đèn, đèn tô, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, mỗi tim đèn lượng như ḥn núi Tu di, dầu trong mỗi đèn như nước biển lớn. Dùng các thứ đồ cúng dường như thế thường đem cúng dường.

Này thiện nam tử! Pháp cúng dường là hơn hết trong các cách cúng dường. Đó là: đúng theo lời Phật dạy mà tu hành để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sinh để cúng dường, thay thế sự khổ cho chúng sinh để cúng dường, siêng tu căn lành để cúng dường, chẳng bỏ hạnh nguyện Bồ tát để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ đề để cúng dường.

Này thiện nam tử! với chừng một phần công đức của pháp cúng dường đem vô lượng phần công đức của tài cúng dường ở trước mà so sánh cũng không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngh́n, v.v...

Bởi sao? v́ các đức Như Lai đều tôn trọng pháp vậy, v́ tu hành đúng theo lời Phật dạy thời là xuất sinh các đức Phật vậy. Nếu các vị Bồ tát tu hành về pháp cúng dường, thời việc cúng dường đức Như Lai được thành tựu. Tu hành như thế là chân thật cúng dường. Cho nên đây là sự cúng dường rộng lớn tối thắng...”

Nơi văn lược nói:

Ba, thời sắm đủ hương hoa,

Tràng phan bảo cái dưng ra cúng dường.

4. Điều nguyện thứ tư là “sám hối nghiệp chướng”. “Sám” là phạm âm nói đủ là “sám ma”. Tàu dịch là “Hối quá”. Lấy chữ “sám” trong sám ma c̣n chữ “hối” trong hối quá mà gọi chung là ‘sám hối”, nghĩa là ăn năn chừa cải. “Nghiệp” là những việc tạo tác không lành của thân, khẩu, ư, nghiệp này nó làm ngại đường lành, nó ngăn đạo Thánh, nên gọi là nghiệp chướng.

Về điều nguyện này, trong phẩm giải rằng:

“Bồ tát tự nghĩ như vầy: ta trong vô thỉ kiếp về quá khứ, do ḷng tham lam, sân hận, ngu si, phát ra nơi khẩu, ư mà đă làm ra vô lượng vô biên nghiệp chẳng lành. Nếu nghiệp ác đó mà có thể tưởng thiệt, thời tất cả cơi hư không cũng không thể dung thọ cho hết. Nay ta đều đem ba nghiệp thanh tịnh, đối khắp trước tất cả chư Phật cùng chúng Bồ tát, mà thành tâm sám hối, về sau không phạm nữa, luôn trụ nơi giới pháp thanh tịnh tất cả công đức...”

Trong văn nói:

Bốn, v́ mê chấp lầm đường,

Tham sân nghiệp chướng con thường sám luôn.

5. Điều nguyện vương thứ năm là “tùy hỷ công đức”.

Thấy người khác có công đức mà ḿnh thật tâm vui mừng tán thành, đó gọi là “tùy hỷ công đức”.

Về điều nguyện này, trong phẩm giải rằng:

Vi trần số chư Phật Như Lai, từ khi mới phát tâm v́ cầu nhất thiết chủng trí mà siêng tu phước và huệ, chẳng tiếc thân mạng, trải qua vi trần số kiếp. Trong mỗi kiếp xả thí vi trần số đầu mắt tay chân, thật hành tất cả hạnh khổ khó làm như thế. Viên măn các môn Ba la mật, chứng nhập các trí địa Bồ tát, thành tựu đạo vô thượng Bồ đề của chư Phật cho đến nhập Niết bàn phân chia Xá Lợi... Nơi đức Phật có bao nhiêu thiện căn thời ta đều tùy hỷ cả.

Và trong tất cả thế giới ở mười phương kia tất cả mọi loài lục đạo tứ sinh... có bao nhiêu công đức cho đến chừng một mảy trần ta đều tùy hỷ cả.

Tất cả Thanh văn và Bích Chi Phật, hàng hữu học cùng vô học trong mười phương ba đời, có bao nhiêu công đức ta đều tùy hỷ cả.

Bao quát nghĩa trên, trong văn nói:

Năm, suy công đức vàn muôn,

Của Phàm (tứ sinh) của Thánh (Phật, Bồ tát) con đồng vui ưa.

6. Điều nguyện vương thứ sáu là “Thỉnh chuyển pháp luân”.

“Thỉnh” là cầu thỉnh với đức Phật. “Chuyển” là diễn nói dạy trao. “Pháp luân” có hai nghĩa:

A. Ṿng pháp, ư nói không cùng không tận, vô thỉ vô chung, không thể phân biệt nghĩ bàn, như ṿng tṛn.

B. Bánh xe pháp. Pháp của đức Phật có thể đưa người tu hành từ mê đến giác, từ phàm đến Thánh, từ khổ sang vui, từ sinh tử đến trường tồn lại hay phá trừ tứ ma các chướng v.v... Như bánh xe lăn từ đây sang kia, cán rạp chông gai sạn sỏi v.v...

Trong Hạnh nguyện phẩm giải rằng: “Trong vi trần của tất cả cơi nước ở mười phương ba đời, mỗi mỗi đều có vi trần số cơi nước rộng lớn, trong mỗi cơi nước niệm niệm đều có vi trần số đức Phật thành bậc Đẳng Chính Giác, mỗi đức Phật đều có tất cả hải hội Bồ tát vây quanh. Ta đều dùng thân, khẩu, ư đủ các phương tiện, để ân cần thỉnh tất cả chư Phật chuyển diệu pháp luân...”.

Bày nghĩa trên, văn nói:

Sáu, khi Phật chứng thượng thừa,

Pháp mầu con thỉnh đă vừa truyền trao.

“Thượng thừa” chính là tối thượng thừa, là Phật thừa chứng Phật thừa là thành Phật. “Pháp mầu” là vi diệu pháp luân. “Đă vừa” là vừa đến thời, vừa phải cơ.

Đức Phật thành Phật là v́ chúng sinh mà thành Phật. Đă v́ chúng sinh sao c̣n chờ cầu thỉnh?

a. V́ muốn cho chính pháp có phần quư trọng, có quư trọng mọi người mới sinh ḷng hi hữu khao khát ngưỡng vọng, có khao khát ngưỡng vọng mới có thể được lợi ích.

b. Ḷng của Bồ tát lúc nào cũng tha thiết nong nả đối với sự lợi người lợi ḿnh. Ḿnh cùng người được lợi không ǵ bằng được nghe Phật thuyết pháp, nên đức Phật chưa nói, mà Bồ tát đă cầu thỉnh trước.

7. Điều nguyện vương thứ bảy là “thỉnh Phật trụ lại đời”.

Trong Hạnh nguyện phẩm giải rằng: “vi trần số chư Phật Như Lai trong mười phương ba đời toan muốn nhập Niết bàn, và các Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác, hữu học, vô học, cho đến các vị thiện tri thức... ta đều cầu thỉnh tất cả xin chớ nhập Niết bàn, xin ở măi nơi đời trải qua vi trần kiếp v́ muốn cho tất cả chúng sinh được lợi lạc...”

Như trong văn nói:

Bảy, ḷng chẳng chút lăng xao,

Cầu xin chư Phật chớ vào vô dư!

“Ḷng chẳng lăng xao” là tâm tâm niệm niệm cầu thỉnh luôn không ngừng không hở. “Vô dư” là vô dư y Niết bàn. “Niết bàn”, là cảnh giới sở chứng của các bậc Thánh xuất thế, nơi đó “tịch tịnh an thường”, “tịch tịnh an thường là nghĩa chính của “Niết bàn” khác hẳn với cảnh phàm phiền nhiễu loạn động.

Niết bàn có 4:

1. Hữu dư y Niết bàn

2. Vô dư y Niết bàn

3. Vô trụ xứ Niết bàn

4. Tinh tịnh Niết bàn.

Đây về vô dư y Niết bàn, là quả Niết bàn không c̣n thừa những báo và vô minh. Báo là thân hiện tại nơi thế. Ngoài đức Phật ra, từ Đẳng giác Bồ tát trở xuống đến Bích chi Phật, A la hán, đều c̣n vô minh. Nên cứu cánh vô dư y Niết bàn chỉ có bậc Phật là cùng tột.

Các bậc Thánh xuất thế không c̣n hệ lụy trong ṿng sinh tử, nên muốn ở đời bao lâu vẫn được tự tại vô ngại. Do đó mới khuyến thỉnh vậy.

8. Điều nguyện vương thứ tám là “Thường học theo Phật”.

Trong Hạnh nguyện phẩm giải rằng: “Như đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai trong cơi Ta bà này, từ khi mới phát tâm, thời tinh tấn luôn không lui sụt. Đem bất khả thuyết bất khả thuyết thân mạng mà bố thí. Ngài lột da làm giấy, chẻ xương làm viết, chích máu làm mực, để biên chép kinh điển, chứa nhiều như núi Tu di. V́ trọng pháp mà ngài không tiếc thân mạng, huống nữa là ngôi vua, thành ấp v.v... và các hạnh khổ khó làm khác. Cho đến dưới gốc cây ngài chứng quả Bồ đề. Ngài thị hiện và các món thần thông, khởi các thứ biến hóa hiện các hạng Phật thân ở các nơi chúng hội: hoặc ở trong chúng hội đạo tràng của các bậc đại Bồ tát, hoặc chúng hội đạo tràng Thanh văn, Bích chi Phật, cho đến chúng hội đạo tràng của Thiên, Long, bát bộ... Ở trong những chúng hội như thế, ngài dùng âm thanh viên măn như sấm lớn vang dội, tùy theo chỗ hạp nghi của mỗi chúng hội mà nói pháp giáo hóa chúng sinh cho đến ngài thị hiện nhập Niết bàn. Tất cả công hạnh của ngài như thế ta đều học theo. Như với đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn với tất cả chư Phật ở mười phương ta cũng luôn luôn học theo cả.

Ngụ bày những ư nghĩa trên, trong văn nói:

Nguyện thường tu học Đại thừa,

Bao giờ bằng Phật mới vừa ḷng con.

Đă muốn bằng Phật sẽ tất nhiên là phải học theo Phật.

9. Điều nguyện thứ chín là “tùy thuận chúng sinh luôn”.

“Tùy thuận” đây chính ư là thiết tha lân mẫn chúng sinh, chiều theo chỗ hạp nghi, ḷng nguyện vọng trong sạch của chúng sinh, mà thi hành những phương pháp ǵ để chúng sinh được lợi ích trên đường giải thoát khỏi khổ.

Hạnh nguyện phẩm giải rằng: “Bao nhiêu chúng sinh chủng loại sai khác ở mười phương, những là loài tứ sinh, hoặc loài nương nơi đất, nước, gió, lửa mà sinh trụ. Hoặc là loài nương nơi hư không và cỏ cây mà an trụ... cho đến Thiên, Long bát bộ, người cùng phi nhân, hoặc loài không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, loài có sắc không sắc, có tưởng không tưởng v.v... Ở nơi các thứ như thế, ta nên tùy thuận mà thật hành những điều kính thờ, cúng dường, kính như kính cha mẹ, sư trưởng, A la hán cho đến như kính đức Như Lai không khác.

Với kẻ bệnh khổ thời ta là ông lương y; với kẻ lạc đường thời ta là người chỉ con đường chính; với kẻ trong đêm tối thời ta là người soi sáng; với kẻ nghèo cùng thời ta làm cho họ được kho báu. Bồ tát b́nh đẳng, lợi ích tất cả chúng sinh như thế. Tại làm sao? V́ nếu có thể tùy thuận chúng sinh, thời là tùy thuận cúng dường chư Phật, ở nơi chúng sinh nếu có thể tôn trọng thừa sự Như Lai, nếu làm cho chúng sinh sinh ḷng vui mừng thời là làm cho tất cả đức Như Lai vui mừng.

Tại làm sao? V́ chư Phật Như Lai dùng tâm đại bi mà làm thể vậy.

Nhân nơi chúng sinh mà sinh ḷng đại bi, nhân nơi đại bi mà phát Bồ đề, nhân tâm Bồ đề mà thành bậc Đẳng Chính Giác.

Ví như trong đồng trống sa mạc có cây thọ vương lớn, nếu như cây đó được thấm nhuần, thời nhánh lá bông trái thảy đều sum suê.

Cây thọ vương trong đồng trống sinh tử cũng lại như thế, tất cả chúng sinh là gốc rễ của cây, chư Phật, Bồ tát là bông trái. Dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sinh, thời tất có thể thành tựu bông Bồ tát cùng trái trí tuệ của chư Phật.

Bởi sao vậy? V́ nếu các Bồ tát dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sinh thời có thể thành tựu vô thượng chính đẳng chính giác. V́ thế Bồ tát thuộc nơi chúng sinh, nếu không chúng sinh, thời tất cả Bồ tát trọn hẳn chẳng hề thành bậc vô thượng chính đẳng chính giác. Này thiện nam tử! Đối với nghĩa đó, ông nên hiểu như thế.

Bởi ở nơi chúng sinh mà tâm b́nh đẳng, thời có thể thành tựu đức đại bi viên măn. Dùng ḷng đại bi để tùy thuận chúng sinh như thế...”

Lược nghĩa trên, văn nói:

Chín, thề chẳng dám mỏi ṃn,

Dắt d́u muôn loại đều tṛn pháp thân.

“Pháp thân” là thân của chư Phật. Độ muôn loài viên măn Phật quả chính là chỗ tùy thuận cứu cánh làm lợi ích cho chúng sinh vậy.

10. Điều nguyện vương thứ mười là “Đều hồi hướng khắp cả”.

Trong Hạnh nguyện phẩm giải rằng: “Từ việc lễ bái” đầu tiên cho đến “tùy thuận chúng sinh” mà có bao nhiêu công đức, ta thảy đều đem cả hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Ta nguyện cho chúng sinh thường được an vui, không có các bệnh khổ. Như họ có muốn làm việc ác, thảy đều không thành. C̣n những nghiệp lành của họ tu, thời đều mau thành tựu. Đóng bít tất cả cửa ác đạo, mở bảy đường chính: nhân, thiên, Niết bàn.

Nếu các chúng sinh, nhân v́ họ gây tạo các nghiệp mà phải cảm vời lấy quả khổ rất nặng, thời ta nguyện chịu thế, để cho chúng sinh đó đặng giải thoát, rốt ráo thành tựu đạo vô thượng chính giác.

Bồ tát tu nguyện hồi hướng như thế...”

Gồm ư trên, trong văn nói:

Mười, đem tất cả công huân,

Mọi loài cùng hưởng, khắp trần cùng vui.

Trong Hạnh nguyện phẩm, sau khi giảng giải mười điều nguyện vương xong, nơi đoạn đắc ích, về trường hàng có nói như vầy: “Lại nữa, người đó lúc mạng chung đến sát na rốt sau, tất cả các căn thảy đều tán, hoại, tất cả hàng thân thuộc đều xa ĺa, tất cả oai thế đều thối thất, nào quan phụ tướng đại thần, nào cung thanh nội ngoại, voi ngựa xe cộ của báu kho đụn... tất cả những món như thế không c̣n theo nhau, chỉ có 10 nguyện vương chẳng xa rời nhau, trong tất cả lúc nó dẫn đường nơi trước, trong khoảng một sát na liền đặng văng sinh về cơi Cực Lạc. Đến rồi, liền thấy đức Phật A Di Đà, ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, ngài Phổ Hiền Bồ tát, ngài Quán Tự Tại Bồ tát, ngài Di Lặc Bồ tát v.v...

Và về phần kệ có những câu này:

Nguyện đến lúc tôi sắp mạng chung

Sạch trừ tất cả những chướng ngại,

Tận ắt thấy đức A Di Đà

Liền đặng văng sinh về Cực Lạc,

Phật kia chúng hội đều thanh tịnh,

Ta liền từ thẳng liên hoa sinh,

Thấy rơ đức Phật Vô Lượng quang,

Hiện tiền trao tôi “Bồ đề kư”

Được đức Như Lai thọ kư xong,

Tôi hóa vô số trăm ức thân,

Sức tŕ “rộng lớn” khắp mười phương,

Lợi ích tất cả cơi chúng sinh.

V́ nương theo văn trong phẩm mà cũng chính là mục đích của người tu về pháp môn tịnh độ, nên sau mười nguyện liên tiếp nói:

Phổ Hiền nguyện lớn nguyện rồi,

Nguyện về Cực Lạc nguyện ngồi ṭa sen.

Tất cả những đoạn giải thích trên đây, toàn là y cứ nơi kinh cả. Hoặc khi tụng sám văn, hoặc lúc xem thích nghĩa, chính đó là tụng xem nghĩa lư trong kinh thời công đức vô lượng. Như trong phẩm có nói: “Như có người thiện nam, người thiện nữ nào dùng của báu thượng diệu đầy đủ cả vi trần thế giới v.v... để bố thí chúng sinh trong tất cả thế giới, để cúng dường cho chư Phật, Bồ tát trong tất cả thế giới luôn luôn như vậy trải đến vi trần số kiếp không ngớt, công đức của người thiện nam hay thiện nữ này đặng sánh không bằng một phần trăm công đức, một phần ngh́n công đức v.v... của người nghe nguyện vương này một phen thoáng qua tai...

Công đức của chúng sinh nào đọc tụng nguyện vương này và khắp v́ người mà giảng nói, ngoài đức Phật ra không ai có thể biết được.

Dầu thế nào, đây cũng thuộc về phần tóm tắt. Nếu người nào muốn hiểu biết rơ ràng đầy đủ hơn, xin tụng đọc những bộ này:

1. Phật thuyết A Di Đà kinh, tức là tiểu bổn A Di Đà kinh.

2. Vô Lượng Thọ kinh, tức là Đại Bổn A Di Đà kinh.

3. Quán Vô Lượng Thọ kinh tức là Quán kinh.

4. Phổ Hiền hạnh nguyện phẩm.

-o0o-

NAM MÔ ĐẠI THÁNH ĐẠI TỪ

Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Mục lục | 01 | 02 | 03

 

[ TRANG CHỦ KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]