* Buddha Mountain * Phật Sơn

Calgary Alberta Canada

[中文ENGLISH]

[ TRANG CHỦ | KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]

Số 0159

KINH ĐẠI THỪA BẢN SINH TÂM ĐỊA QUÁN

Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Bát-nhă, người nước Kế tân

Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Quyển 1

 

Trang Chủ

Kinh Điển

Đại Tạng Kinh

Thần Chú

Hình Ảnh

Liên Lạc

 

Số 0159

KINH ĐẠI THỪA BẢN SINH TÂM ĐỊA QUÁN 8 Quyển

Quyển 1

Quyển 2

Quyển 3

Quyển 4

Quyển 5

Quyển 6

Quyển 7

Quyển 8

 

Chính tôi được nghe:

        Một thời Đức Phật ở trong núi Kỳ xà quật, thuộc thành Vương xá cùng với ba vạn hai ngàn đại Tỳ kheo. Các vị đều là bậc A la hán: tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát, chỗ tạo tác đă xong, bỏ mọi gánh nặng, việc lợi ḿnh đă được, hết mọi sự ràng buộc trong các cơi, đạt được đại tự tại, an trụ trong giới phẩm thanh tịnh, phương tiện khéo léo, trí tuệ trang nghiêm, chứng được tám pháp giải thoát, đến bờ Niết bàn. Tên của các vị ấy là Cụ thọ A-Nhă-Kiều-Trần-Như, A-Sử-Bỉ-Thất-Đa, Ma-Ha-Na-Ma, Ba-Đế-Lợi-Ca, Ma-Ha Ca-Diếp, Kiều-Phạm-Ba-Đề, La-Ba-Đa, Ưu-Lâu-Tần-Loa Ca-Diếp, Na-Đề Ca-Diếp, Già-Gia Ca-Diếp, Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Ma-ha Ca-Chiên-Diên, Ma-ha Ca-Tỳ-Na, Chân-Đề-Na, Phú-Lâu-Na, Di-Đa-La-Ni-Tử, A-Ni-Lâu-Đà, Vi-Diệu-Tư, Tu-Bồ-Đề, Bạc-Câu-La, Tôn-Đà-La-Nan-Đà, La-Hầu-La... các vị như thế đều là Cụ thọ, A la hán.

        Và có những bậc Hữu học như ông A-Nan... đều cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc, cùng nhau đảnh lễ chân Phật, rồi lui ra ngồi về môt bên.

        Lại có tám vạn bốn ngàn vị Đại Bồ tát cùng ở chỗ Đức Phật. Các vị đều là Đại Pháp vương tử, Nhất sinh bổ xứ, có uy đức lớn như Đại Long vương, trăm phước viên măn, thân quang chói lọi như ngàn mặt trời làm quang đăng mọi tối tăm, trí tuệ lắng suốt, hơn cả biển lớn; hiểu thấu cảnh giới bí mật của chư Phật, đốt đuốc đại pháp, dẫn dắt chúng sinh; làm bậc Đại thuyền sư trong bể sinh tử, thương xót chúng sinh như con đỏ, thường bố thí cho chúng sinh sự an vui trong mọi lúc, tiếng khen đồn khắp mười phương thế giới; thần thông vi diệu, lực dụng tự tại, đă thấu rơ được các môn Tổng tŕ; đủ bốn pháp biện tài vô ngại tự tại, đă viên măn được đại nguyện tự tại, thành tựu tốt đẹp sự nghiệp tự tại, đă chứng nhập được Tam muội tự tại, hoàn toàn viên măn phước đức tự tại; thường là người bạn không phải thỉnh của chúng sinh, trải qua vô lượng kiếp siêng tu Sáu độ, luôn phụng sự chư Phật khắp nơi, không an trụ nơi Niết bàn; dứt mọi phiền năo, chủng tử tập khí đều trừ, tuy sinh trong sáu đường nhưng không hề vướng mắc lỗi lầm, luôn hiện thân khắp mười phương giảng thuyết diệu pháp, trong vô lượng thế giới, giáo hóa, đem lại lợi ích cho mọi loài; ngăn ngoại đạo, nén dẹp tâm tà, xa ĺa nhân chấp đoạn, chấp thường, làm cho chúng sinh sinh ra chánh kiến mà không c̣n có tướng dao động, lui tới; chẳng phải trang nghiêm mà là làm trang nghiêm cả mười phương cơi Phật, không nói mà như nói ra tất cả diệu lư tịch diệt, an trụ nơi vô sở trụ, độ chúng sinh trong các cơi trời, người; thọ nhận nơi vô sở thọ các pháp mầu vui vẻ, rộng lớn; mặc áo giáo tinh tấn, cầm gươm trí tuệ, đánh vang trống pháp, phá bọn ma quân; thân thường thị hiện ngồi khắp trong đạo tràng, thổi loa đại pháp để giác ngộ mọi loài; tất cả các loài hữu t́nh đều được nhờ lợi ích, ai nghe qua tên hiệu, trông thấy sắc thân đều có được ba trí, ngộ được pháp của ba đời; biết rơ các căn lanh lợi, ngu độn của chúng sinh, tùy bệnh cho thuốc, không c̣n mọi thứ nghi hoặc; chia rải mây pháp lớn, rưới mưa cam lộ, chuyển trí ấn pháp luân không thoái chuyển, đóng ngục sinh tử, mở cửa Niết bàn; phát thệ nguyện rộng cho đến khi hết đời vị lai, nguyện độ thoát tất cả quần sinh. Các vị Bồ tát ấy không bao lâu sẽ được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị ấy là: Bồ tát Vô-Cấu, Bồ tát Di-Lặc, Bồ tát Sư-Tử-Hống, Bồ tát Diệu-Cát-Tường, Bồ tát Duy-Ma-Cật, Bồ tát Quán-Tự-Tại, Bồ tát Đắc-Đại-Thế, Bồ tát Kim-Cang-Tạng-Vương, Bồ tát Địa-Tạng-Vương, Bồ tát Hư-Không-Tạng-Vương, Bồ tát Đà-La-Ni Tự-Tại-Vương, Bồ-tát Tam-Muội Tự-Tại-Vương, Bồ tát Diệu-Cao-Sân-Vương, Bồ tát Đại-Hải-Thâm-Vương, Bồ tát Diệu-Biện-Nghiêm-Vương, Bồ tát Hoan-Hỷ-Cao-Vương, Bồ tát Đại-Thần-Biến-Vương, Bồ tát Pháp-Tự-Tại-Vương, Bồ tát Thanh-Tịnh-Vũ-Vương, Bồ tát Dược-Vương, Bồ tát Dược-Thượng, Bồ tát Liệu-Phiền-Năo-Bệnh, Bồ tát Bảo-Sân, Bồ tát Bảo-Tài, Bồ tát Bảo-Thượng, Bồ tát Bảo-Đức, Bồ tát Bảo-Tạng, Bồ tát Bảo-Tích, Bồ tát Bảo-Thủ, Bồ tát Bảo-Thủ-Ấn, Bồ tát Bảo-Quang, Bồ tát Bảo-Thí, Bồ tát Bảo-Tràng, Bồ tát Đại-Bảo-Tràng, Bồ tát Bảo-Vũ, Bồ tát Bảo-Đạt, Bồ tát Bảo-Trượng, Bồ tát Bảo-Kế, Bồ tát Bảo-Cát-Tường, Bồ tát Bảo-Tự-Tại, Bồ tát Chiên-Đàn-Hương, Bồ tát Đại-Bảo-Cự, Bồ tát Đại-Bảo-Nghiêm, Bồ tát Nhật-Quang, Bồ tát Nguyệt-Quang, Bồ tát Tinh-Quang, Bồ tát Hỏa-Quang, Bồ tát Điện-Quang, Bồ tát Năng-Niệm-Tuệ, Bồ tát Phá-Ma, Bồ tát Thắng-Ma, Bồ tát Thường-Tinh-Tấn, Bồ tát Bất-Hưu-Tức, Bồ tát Bất-Đoạn-Đại-Nguyện, Bồ tát Đại-Danh-Xưng, Bồ tát Vô-Ngại-Biện-Tài, Bồ tát Vô-Ngại-Chuyển-Pháp-Luân. Các vị Bồ tát như Đại Bồ tát Vô-Cấu... trên đây như thế, cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Đức Phật thuyết pháp.

        Lại có ức vạn Thiên tử nơi sáu cơi trời thuộc Dục giới như  Thiên tử Thiện-Trụ, Thiên tử Uy-Đức, Thiên tử Phổ-Quang, Thiên tử Thanh-Tịnh-Tuệ, Thiên tử Cát-Tường, Thiên tử Đại-Cát-Tường, Thiên tử Tự-Tại, Thiên tử Đại-Tự-Tại, Thiên tử Nhật-Quang, Thiên tử Nguyệt-Quang... Trong số các vị Thiên tử đó, Thích Đề-Hoàn-Nhân  làm Thượng thủ. Và, các vị đều ưa thích diệu pháp Đại thừa, nguyện theo và phụng sự Như Lai trong ba đời, vào cảnh giới bí mật bất tư nghị, làm trang nghiêm các hội đạo tràng của chư Phật. Tất cả các vị Thiên tử ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều đến pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có hằng hà sa Thiên tử trong cơi sắc như Thiên tử Đại-Quang-Phổ-Chiếu, Thiên tử Vô-Cấu-Trang-Nghiêm, Thiên tử Thần-Thông-Du-Hư, Thiên tử Tam-Muội-Tự-Tại, Thiên tử Đà-La-Ni Tự-Tại, Thiên tử Đại-Đà-La-Diên, Thiên tử Viên-Măn-Thượng-Nguyện, Thiên tử Vô-Ngại-Biện-Tài, Thiên tử Cát-Tường-Phước-Tuệ, Thiên tử Thường-Phát-Đại-Nguyện... Trong số các vị Thiên tử này, Quang-Minh-Đại-Phạm Thiên vương làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ các pháp Tam muội, thần thông, ưa thuyết giảng, giỏi biện tài, thường phụng sự chư Phật Như Lai trong ba đời từ khi ở bên gốc cây Bồ đề, ngồi ṭa Kim cang phá ma quân rồi, chứng đạo Bồ đề cho đến khắp các chúng hội và đều ở trong lúc đầu tiên, khuyến thỉnh Như Lai chuyển xe diệu pháp, mở cửa cam lộ, độ tất cả chúng sinh trong cơi trời, người; khéo ngộ được nghĩa lư sâu xa bí mật của chư Phật, đối với đạo Đại Bồ đề, không c̣n thoái chuyển. Tất cả các vị Thiên tử ấy cùng với tất cả trăm ngàn quyến thuộc, đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có bốn vạn tám ngàn vị Đại Long vương như Long vương Ma-Na-Tư, Long vương Đức-Xoa-Ca, Long vương Nan-Đà, Long vương Bạt-Nan-Đà, Long vương A-Nốc-Đạt-Tŕ, Long vương Đại-Kim-Diện, Long vương Như-Ư-Bảo-Châu, Long vương Vũ-Diệu-Trân-Bảo, Long vương Thường-Chú-Cam-Vũ, Long vương Hữu-Đại-Uy-Đức, Long vương Cường-Lực-Tự-Tại... Trong các vị Long vương này, Long vương Sa-Kiệt-La làm Thượng thủ. Các vị ấy đều ưa thích diệu pháp Đại thừa, phát thệ nguyện rộng, cung kính hộ tŕ chánh pháp. Tất cả các vị đại Long vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có năm vạn tám ngàn thần Dược xoa như thần Dược xoa Đại-Sư-Tử vương, thần Dược xoa Chuyển-Luân-Quang-Chiếu, thần Dược xoa Diệu-Na-La-Diên, thần Dược xoa Thậm-Khả-Bố-Úy, thần Dược xoa Liên-Hoa-Quang-Sắc, thần Dược xoa Chư-Căn-Mỹ-Diệu, thần Dược xoa Ngoại-Hộ-Chánh-Pháp, thần Dược xoa Cúng-Dường-Tam-Bảo, thần Dược xoa Vũ-Chúng-Trân-Bảo, thần Dược xoa Ma-Ni-Bát-la, ... Trong số các vị thần này, thần Dược xoa Tăng-Thận-Nhĩ-Tà làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ ánh sáng trí tuệ khó nghĩ bàn, ngọn đuốc trí tuệ khó nghĩ bàn, hành tướng trí tuệ khó nghĩ bàn, giới đức trí tuệ khó nghĩ bàn, thường v́ chúng sinh chế phục những loại ác quỷ, khiến họ được an vui lớn, làm cho phước đức, trí tuệ được tăng trưởng; luôn nối tiếp và giữ ǵn pháp Đại thừa không bị đoạn tuyệt. Tất cả các vị thần Dược xoa này cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có tám vạn chín ngàn Càn-thát-bà vương như Càn-thát-bà vương Đỉnh-Thượng-Bảo-Quan, Càn-thát-bà vương Phổ-Phóng-Quang-Minh, Càn-thát-bà vương Kim-Cang-Bảo-Tràng, Càn-thát-bà vương Diệu-Âm-Thanh-Tịnh, Càn-thát-bà vương Biến-Chí-Chúng-Hội, Càn-thát-bà vương Phổ-Hiện-Chư-Phương, Càn-thát-bà vương Ái-Nhạo-Đại-Thừa, Càn-thát-bà vương Chuyển-Bất-Thoái-Luân... Trong số các vị Càn-thát-bà vương này, Càn-thát-bà vương Chư-Căn-Thanh-Tịnh làm Thượng thủ. Các vị ấy đối với Đại thừa đều sinh ḷng ái kính sâu xa, làm lợi lạc cho chúng sinh, không bao giờ lười chán, mệt mỏi. Tất cả các vị Càn-thát-bà vương ấy cùng với hàng trăm, ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có ngàn ức A-tu-la vương như A-tu-la vương La-hầu-La, A-tu-la vương Tỳ-Ma-Chất-Đa, A-tu-la vương Xuất-Hiện-Uy-Đức, A-tu-la vương Đại-Kiên-Cố-Lực, A-tu-la vương Mỹ-Diệu-Âm-Thanh, A-tu-la vương Quang-Minh-Biến-Chiếu, A-tu-la vương Đấu-Chiến-Hằng-Thắng, A-tu-la vương Thiện-Xảo-Hiển-Hóa... Trong số các vị A-tu-la vương này, có A-tu-la vương Quảng-Đại-Diệu-Biện làm Thượng thủ. Các vị ấy đều khéo tu tập, xa ĺa ngă mạn, thọ tŕ pháp Đại thừa, tôn kính Tam bảo. Tất cả các vị A-tu-la vương ấy cùng với trăm ngàn quyến thuộc tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có năm ức Ca-lâu-la vương như Ca-lâu-la vương Bảo Kế, Ca-lâu-la  vương Kim-Cang-Tịnh-Quang, Ca-lâu-la vương Tốc-Tật-Như-Phong, Ca-lâu-la vương Hư-Không-Tịnh-Tuệ, Ca-lâu-la vương Diệu-Thân-Quảng-Đại, Ca-lâu-la vương Tâm-Bất-Thoái-Chuyển, Ca-lâu-la vương Quảng-Mục-Thanh-Tịnh, Ca-lâu-la vương Đại-Phúc-Bảo-Măn, Ca-lâu-la vương Hữu-Đại-Uy-Đức, Ca-lâu-la vương Trí-Tuệ-Quang-Minh. Trong số các vị Ca-lâu-la vương này, Ca-lâu-la vương Như-Ư-Bảo-Quang làm Thượng thủ. Các vị ấy đều thành tựu Pháp nhẫn bất khởi, khéo đem lại được những sự lợi ích cho tất cả chúng sinh. Tất cả các vị Ca-lâu-la vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có chín ức Khẩn-na-la vương như Khẩn-na-la vương Động-Địa, Khẩn-na-la vương Diệu-Bảo-Hoa-Tràng, Khẩn-na-la vương Bảo-Thọ-Quang-Minh, Khẩn-na-la vương Thiện-Pháp-Quang-Minh, Khẩn-na-la vương Tối-Thắng-Trang-Nghiêm, Khẩn-na-la vương Hỏa-Pháp-Quang-Minh, Khẩn-na-la vương Thọ-Tŕ-Diệu-Pháp, Khẩn-na-la vương Diệu-Bảo-Nghiêm-Sức, Khẩn-na-la vương Thành-Tựu-Diệu-Quán... Trong số các Khẩn-na-la vương này, Khẩn-na-la vương Duyệt-Ư-Nhạc-Thanh làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ diệu tuệ thanh tịnh, thân tâm vui thích, dụng lực tự tại. Tất cả các vị Khẩn-na-la vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có chín vạn tám ngàn Ma-hầu-la-già vương như Ma-hầu-la-già vương Diệu-Kế, Ma-hầu-la-già vương Cụ-Đại-Uy-Đức, Ma-hầu-la-già vương Trang-Nghiêm-Bảo-Kế, Ma-hầu-la-già vương Tịnh-Nhăn-Vi-Diệu, Ma-hầu-la-già vương Quang-Minh-Bảo-Tràng, Ma-hầu-la-già vương Sư-Tử-Hung-Ức, Ma-hầu-la-già vương Như-Sân-Bất-Động, Ma-hầu-la-già vương Khả-Ái-Quang-Minh... Trong số các vị Ma-hầu-la-già vương này, Ma-hầu-la-già vương Du-Hư-Thần-Thông làm Thượng thủ. Các vị ấy đă tu tập được phương tiện thiện xảo, làm cho chúng sinh bỏ hẳn mọi sự trói buộc của ái dục. Tất cả các vị Ma-hầu-la-già-vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có các vị Chuyển luân thánh vương trong vạn ức quốc độ ở phương khác như Chuyển luân thánh vương Kim-Luân, Chuyển luân thánh vương Ngân-Luân, Chuyển luân thánh vương Đồng-Luân, Chuyển luân thánh vương Thiết-Luân, cùng với quyến thuộc là ngàn người con và bảy thứ báu hết sức trang nghiêm với vô lượng voi, ngựa, xe cộ, vô số cờ phướn báu giăng treo, vô số ṿng hoa, lọng báu, tơ lụa, phất trần trắng, đủ thứ loại châu báu, chuỗi ngọc vô cùng quư giá, các thứ hương xoa, hương bột, ḥa hợp muôn thứ hương lạ vi diệu. Và mỗi người mang theo ḷ hương bằng mọi thứ báu vô giá, đốt hương đại bảo cúng dường Đức Thế Tôn, cùng đem những lời nói vi diệu khen ngợi trí tuệ của Đức Như Lai hết sức thâm diệu như biển rộng, rồi bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, nay chúng con không cầu quả báo hữu lậu trong ba cơi của hàng trời, người. Chúng con chỉ cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác xuất thế gian mà thôi. Sở dĩ như thế là v́ trong ba cơi tuy ở nơi tôn quư, hưởng phước vui nơi hàng trời, người, nhưng, khi phước đời trước hết lại phải sinh vào nẻo xấu ác chịu vô lượng khổ, như thế ai là người có trí tuệ lại ưa thích sự vui sướng ở thế gian này!

        Các vị Chuyển luân nói lời ấy rồi đều nhất tâm chắp tay và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc của họ đều an tọa nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có mười sáu vị Đại Quốc vương như Đại vương Tịnh Phạn nước Ca-tỳ-la, Tần-Bà-Sa-La vương nước Ma-già-đà, Đại vương Ca-Tư nước Ba-la-nại, Đại vương Vu-Xiển nước Hữu-Vu-Đà, Ca-tỳ-na vương nước Sa-La... Trong mười sáu Đại vương và các Tiểu vương ấy, vua Ba-tư-nặc quốc chủ nước Xá-Vệ tên là Nguyệt-Quang làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ phước đức trí tuệ thần thông, có uy đức lớn như Chuyển luân vương, tất cả oán địch đều tự nhiên hàng phục, nhân dân đông đảo sung túc, đất nước giàu có, an vui. Các vị ấy từng vun trồng căn lành nơi vô thượng chư Phật nên thường được chư Phật hộ niệm. Trong kiếp Trang nghiêm quá khứ có ngàn Đức Phật ra đời, các vị Đại vương, Tiểu vương ấy thường làm thí chủ; trong Hiền kiếp hiện tại với ngàn Đức Phật ra đời, các vị Đại vương, Tiểu vương ấy cũng làm thí chủ; trong kiếp Tinh tú sau này với ngàn Đức Phật ra đời, các vị ấy sẽ làm thí chủ; cho đến đời vị lai tất cả chư Phật xuất hiện nơi thế gian, các vị vua ấy đều dốc hết sức mạnh của bản nguyện, thường làm việc bố thí tạo mọi lợi ích cho loài hữu t́nh, tùy nghi hội nhập các cửa phương tiện. Tuy làm Quổc vương, nhưng các vị vua ấy không tham đắm sự vui sướng của thế gian, đều chán bỏ sinh tử, tu nhân giải thoát, dốc cầu Phật đạo, ưa thích pháp Đại thừa, luôn giáo hóa đem lợi lạc cho quần sinh, không chấp trước các tướng, nối ḍng Tam bảo, khiến hạt giống đó không hề đoạn tuyệt. Các vị ấy v́ duyên nghe pháp cúng dường Như Lai, sắm sửa nhiều đồ ăn quư giá, kính cẩn đem hương hoa đến nơi Phật, cùng với một vạn, hai vạn cho đến ngàn vạn các quyến thuộc đều ngồi nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có các phu nhân của mười sáu Đại Quốc vương như phu nhân Vi-Đề-Hy, phu nhân Diệu-Thắng-Man, phu nhân Thậm-Khả-Ái-Nhạo, phu nhân Tam-Giới-Vô-Tỷ, phu nhân Phước-Báo-Quang-Minh, phu nhân Như-Ư-Bảo-Quang, phu nhân Mạt-Lỵ, phu nhân Diệu Đức…Trong các vị phu nhân ấy, phu nhân Thù-Thắng-Diệu-Nhan làm Thượng thủ. Các vị phu nhân ấy đă khéo nhập được vô lượng các pháp chánh định. Song v́ muốn hóa độ chúng sinh, các phu nhân ấy thị hiện nữ thân, dùng ba pháp môn giải thoát tu tập tâm ḿnh mà có trí tuệ lớn, phước đức viên măn, thể hiện tâm đại từ đại bi, dứt mọi duyên chấp, không hề bị ngăn ngại, thương xót chúng sinh như con đỏ. Do sức mạnh từ bản nguyện, các phu nhân ấy được gặp Thế Tôn và v́ muốn nghe pháp nên tới nơi Phật, chiêm ngưỡng tôn nhan, mắt không hề chớp. Các vị phu nhân ấy đem vô lượng các thứ vật cúng dường thượng diệu trong cơi người, kính dâng lên Thế Tôn cùng với vô số chuỗi ngọc báu quư giá bậc nhất cúng dường lên Đức Như Lai, rồi các phu nhân ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc thảy ngồi lại nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có vô số người như Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, các Bà-la-môn, Sát-đế-lỵ, Phệ-xá, Thú-đạt-la, cùng các Trưởng giả, Cư sĩ, tất cả nhân dân trong các cơi nước. Các đại chúng ấy phát khởi ḷng tin thanh tịnh, ân sâu nặng, v́ xưa kia đă từng vun trồng căn lành, nên sinh ra được gặp Phật nghe pháp và v́ cầu đạo xuất thế, nên khởi ra tưởng khó gặp, mà tới chỗ Phật. Tới nơi, các vị ấy đều phát tâm, chắp tay và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều ngồi nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có vô số đồ chúng ngoại đạo như Khổ-hạnh ngoại đạo, Thế-trí ngoại đạo, Nhạo-viễn-ly ngoại đạo, Lộ-già-gia-đà ngoại đạo, mà Lộ-già-gia-trị-ca-nễ ngoại đạo làm Thượng thủ. Các ngoại đạo ấy đă thành tựu năm pháp thần thông bay đi tự tại và phát tâm hy hữu, v́ nhân duyên nghe pháp nên đi tới chỗ Đức Phật; mỗi vị cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có vô lượng vô số phi nhân ngạ quỷ như quỷ Vô Tài, quỷ Thực-Nhân-Thổ, quỷ Năo-Chúng-Sinh, quỷ Thực-Di-Thóa, quỷ Thọc-Bất-Băo, quỷ Xú-Cực-Xú, quỷ Thực-Phẩn-Uế, quỷ Thực-Nhân-Thai, quỷ Thực-Sinh-Tử, quỷ Thực-Bất-Tịnh, quỷ Sinh-Cát-Tường. Trong các loại quỷ ấy, đại Quỷ thần vương Tỳ-Lô-Đà-Già làm Thượng thủ. Các quỷ ấy đều ĺa bỏ tâm độc ác, quy y Phật, Pháp, Tăng và hộ vệ chánh pháp của Như Lai. Các quỷ ấy v́ duyên nghe pháp nên đến nơi Phật, năm vóc gieo xuống đất cung kính lễ Phật và v́ khao khát được ngưỡng mộ công đức của Đức Thế Tôn nên các quỷ ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều ngồi tại pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có vô lượng, vô số các vua của hàng chim, thú như Mạng-mạng-điểu vương, Anh-vũ-điểu vương, cùng Sư-tử vương, Tượng vương, Lộc vương. Trong tất cả các vua của hàng chim thú ấy, Kim-sắc Sư tử vương làm Thượng thủ. Các vua của hàng chim thú ấy đều quy mạng Bậc Đại Sư Như Lai, v́ muốn nghe pháp nên đi đến nơi Phật và tùy theo nguyện lực mà cúng dường Đức Thế Tôn. Các vua của hàng chim thú ấy bạch Phật:

        -Kính xin Đức Như Lai thương xót nhận lấy sự cúng dường ít ỏi của chúng con! Chúng con mong ĺa bỏ hẳn hạt giống ác nghiệp trong ba đường, để được hưởng quả báo phước lạc trong cơi trời, người; xin Như Lai mở rộng pháp môn cam lộ Đại thừa, để chúng con chóng dứt được ngu si và sẽ được giải thoát!

        Khi các vua cầm thú nói lời ấy rồi th́ đều nhất tâm, chắp tay chiêm ngưỡng Như Lai và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc cùng ngồi lại nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

        Lại có trăm ngàn Diễm-ma-la vương cùng vô số các Đại La-sát với đủ mọi h́nh loại, mọi ác vương, quan thuộc chốn u minh và những ngục lại coi giữ việc h́nh, tra xét tội phước, nhờ uy lực Phật, dứt bỏ tâm ác, cùng Diễm-ma-la vương đến nghe pháp và bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, tất cả chúng sinh v́ ngu si, tham đắm năm dục lạc, tạo năm tội nghịch nên bị đọa vào trong các địa ngục, luân chuyển vô cùng tận. Sở dĩ bị như thế, là do chỗ nghiệp nhân của ḿnh mà phải chịu khổ năo nhiều, cũng như con tằm, cái kén ở đời, tự ḿnh làm ra sự ràng buộc lấy ḿnh liên tục! Kính xin Như Lai tuôn mưa pháp lớn để diệt lửa địa ngục, tỏa gió mát lành, mở cửa giải thoát để đóng kín ba nẻo ác! Khi Diễm-ma vương nói lời ấy rồi, liền đem mọi thứ châu báu cúng dường Như Lai, nhất tâm cung kính nhiễu quanh Phật trăm ngàn ṿng và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều lễ xuống chân Phật, rồi lui về một bên để nghe Phật thuyết pháp.

        Bấy giờ, Đức Thế Tôn ngồi trên ṭa sư tử kết hoa sen báu. Ṭa sư tử ấy màu lưu ly biếc, do các thứ ngọc lạ tô điểm xen kẽ tạo thành; ngọc báu pha lê làm cuống sen, vàng ṛng màu tía làm cánh sen và dùng ngọc Ma-ni làm tua hoa trong đài sen. Có tám vạn bốn ngàn hoa sen lớn quư bằng vàng tốt của châu Nam Diêm-phù-đề làm quyến thuộc. Đức Phật được đại chúng nhiễu quanh trước sau cung dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.

        Khi ấy, Đức Thế Tôn ngồi kiết già trên ṭa Sư tử, diện mạo uy nghi thù thắng như núi Tu-di do bốn thứ báu tạo thành ở trong bể lớn, tự nhiên phát ra trăm ngàn mặt trời soi sáng khắp hư không, phóng ra vô lượng ánh sáng, phá mọi tối tăm; và cũng như ức vầng trăng tṛn ở trong các v́ sao, tỏa ra ánh sáng mát lành cả thế giới. Lúc ấy Đức Như Lai nhập pháp Tam-muội Hữu-đỉnh-thiền-cực-thiện gọi là Tâm-anh-lạc-bảo trang nghiêm vương, an trụ nơi định ấy thân tâm không động.

        Cùng lúc, tất cả các vị Thiên tử ở cơi Vô sắc tung rải vô lượng thứ hoa hương vi diệu, từ trong hư không như mây sa xuống. Mười tám vị Phạm vương trên các cơi trời thuộc sắc giới, rải vô số những thiên hoa tạp sắc, cùng trăm ngàn vạn thứ diệu hương nơi cơi Phạm thiên, đầy khắp hư không như mây sa xuống. Chư Thiên cùng chúng Thiên tử trên sáu cơi trời thuộc Dục giới, dùng phước lực của cơi Thiên, tung rải các thứ hoa, như hoa Ưu-đàm-bát-la, hoa Ba-đầu-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà-lợi, hoa Chiêm-bặc-ca, hoa A-đề-mục-đa, hoa Ba-lợi-thi-ca, hoa Tô-ma-na, hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha mạn-thù-sa ở trong hư không lớp lớp rơi xuống, cúng dường Phật và chúng Pháp bảo. Lại rắc những bảo hương vô giá trên cơi trời, bảo hương ấy như mây, hóa thành màu sắc trăm báu và dùng thần lực của cơi trời, làm cho hương thơm lan tỏa khắp các thế giới ở cơi này để cúng dường đại hội.

        Khi Đức Thế Tôn từ trong thiền định dậy, ngay nơi bản tọa Ngài lại nhập Sư-tử-phân-tấn Tam muội, hiện đại thần thông, khiến tam thiên đại thiên thế giới này bày đủ sáu thứ chấn động là: động, động mạnh, động mạnh khắp; tóe ra, tóe ra mạnh, tóe ra mạnh khắp; rung, rung mạnh, rung mạnh khắp; đánh, đánh mạnh, đánh mạnh khắp; gầm, gầm mạnh, gầm mạnh khắp; nổ, nổ mạnh, nổ mạnh khắp. Lại, thế giới này, phương Đông tóe ra, phương Tây tắt đi; phương Tây tóe ra, phương Đông tắt đi; phương Nam tóe ra, phương Bắc tắt đi; phương Bắc tóe ra, phương Nam tắt đi; ở giữa tóe ra, ở bên tắt đi; ở bên tóe ra, ở giữa tắt đi. Đất của thế giới này trang nghiêm, trong sạch và đều mềm nhũn, làm cho cỏ cây sinh sôi nảy nở, tạo lợi ích cho muôn loài. Do những chấn động ấy, trong tam thiên giới không c̣n có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh nữa và những chúng sinh trong các nẻo ác khác bị đau khổ không được rảnh rang cũng đều được khỏi khổ, xả thân này, được sinh vào cơi người và sáu cơi trời thuộc Dục giới. Họ đều biết thân mạng của kiếp trước, thảy đều vui mừng hớn hở và đồng đến nơi Phật, đem tâm nhớ tới ân sâu nặng đảnh lễ chân Phật mang các thứ ngọc báu, cùng vô số chuỗi ngọc cúng dường lên Phật và giác ngộ nghĩa Tam-luân-không để báo ân Phật.

        Bấy giờ, ở nơi ngực và những lỗ chân lông của Như Lai phóng ra hào quang sáng lớn tên là Chư Bồ tát du hư thần thông, khiến các Bồ tát tâm không thoái chuyển đối với quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Sắc của hào quang ấy như sắc của thứ vàng nơi Nam Diêm-phù-đề. Và sắc hào quang vàng ấy soi khắp tam thiên đại thiên thế giới cùng các thế giới khác. Cho đến trăm ức ngọn Diệu cao sơn vương, tất cả Tuyết sơn, Hương sơn, Hắc sơn, Kim sơn, Bảo sơn, Di-lâu sơn, Đại-di-lâu sơn, Mục-chân-lân-đà sơn, Đại-mục-chân-lân-đà sơn, Tiểu-thiết-vi sơn, Đại-thiết-vi sơn, sông lớn, sông nhỏ, biển cả, suối chảy, ao tắm và đến trăm ức thế giới trong bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng, sao, thiên cung, long cung, các tôn thần cung, những quốc ấp, vương cung, làng xóm, cùng nơi cơi Diễm-ma-la có những tướng trạng của chúng sinh do nghiệp tạo tội phải chịu khổ trong tám ngục hàn, tám ngục nhiệt và các địa ngục khác. Cả đến những h́nh tướng thọ khổ của hàng súc sinh, ngạ quỷ trong mười phương, những tướng trạng chịu sướng, khổ của chúng sinh thuộc năm cơi trong tất cả thế gian..., tất cả những tướng trạng như thế đều hiện trong ánh hào quang lớn sắc vàng này.

        Lại nữa, trong ánh hào quang này hiện rơ mọi tướng mạo của các vị Bồ tát tu hành Phật đạo. Như Bồ tát Thích-ca trong thời xa xưa làm vua Quang Minh, khi mới bắt đầu phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho đến lúc thành Phật đạo bên gốc cây Bồ đề, nhập Niết bàn trong rừng Sa la; và trong khoảng ấy, ba vô số trăm vạn kiếp, có tất cả những sự về Từ, Bi, Hỷ, Xả, cùng tám vạn bốn ngàn pháp môn Ba la mật cũng đều hiện đủ. Trong thời quá khứ, Bồ tát làm Kim-luân vương, cai trị bốn thiên hạ cho đến tận cùng biển cả, Bồ tát đem chánh pháp giáo hóa thế gian qua vô lượng kiếp, nhân dân rất thịnh, đất nước giàu vui, tất cả của cải quư báu đầy dẫy quốc giới. Khi ấy, Kim-luân vương kia quán sát thế gian đều là vô thường, chán năm dục lạc, bỏ ngôi Kim-luân, xuất gia học đạo. Hoặc khi Bồ tát làm người con yêu quư của vị Đại Quốc vương, xả thân mạng, gieo ḿnh vào nơi hổ đói. Hoặc khi Bồ tát làm Thi-tỳ vương cắt thịt ḿnh cứu chim bồ câu. Hoặc khi Bồ tát xả thân nai chúa cứu con hươu đang có mang. Hoặc khi Bồ tát v́ cầu nửa bài kệ mà xả toàn thân nơi núi Tuyết. Hoặc hiện thân thọ sinh nơi nhà vua Tịnh Phạn, bỏ sáu vạn thể nữ, cùng bỏ mọi thứ kỹ nhạc tuyệt hay nơi hậu cung mà vượt thành xuất gia; sáu năm tu khổ hạnh, ngày chỉ ăn hạt vừng, hạt gạo, hàng phục được các ngoại đạo; nơi gốc Bồ đề phá tan ma quân, đạt được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tất cả tướng mạo của trăm ngàn hằng sa hạnh nguyện khó nghĩ bàn như thế đều hiện rơ trong ánh hào quang lớn sắc vàng này.

        Lại nữa, trong ánh hào quang này hiện rơ ra tám bảo tháp lớn không thể nghĩ bàn được của Như Lai là bảo tháp kỷ niệm nơi sinh trong cung vua Tịnh Phạn nước Câu-sa-la; bảo tháp kỷ niệm khi thành Phật dưới gốc cây Bồ đề, bên thành Già-gia nước Ma-già-đà; bảo tháp kỷ niệm khi Ngài bắt đầu Chuyển pháp luân độ sinh trong vườn Lộc dă nước Ba-la-nại; bảo tháp tại vườn của ông Cấp-Cô-Độc trong nước Xá-vệ kỷ niệm nơi Ngài cùng các ngoại đạo luận nghị sáu tháng mà Ngài được xưng tụng là Bậc Nhất Thiết Trí; bảo tháp bên thành Khúc nữ nước An-đạt-la kỷ niệm sự thần dị khi Ngài lên Đao lợi thiên thuyết pháp cho thân mẫu, cùng Phạm thiên vương, Thiên đế Thích và mười hai vạn thính chúng, từ cơi trời Ba mươi ba hiện ra ba đường thềm báu xuống cơi Diêm-phù, bảo tháp tại núi Kỳ-xà-quật bên thành Vương xá, nước Ma-kiệt-đà kỷ niệm khi Ngài nói về các kinh Đại thừa: Đại Bát nhă, Pháp Hoa Nhất Thừa Tâm Địa kinh...; bảo tháp tại rừng Am-la-vệ, nước Tỳ-xá-ly kỷ niệm lúc ông Trưởng giả Duy-Ma-Cật hiện bệnh trong sự bất khả tư nghị; bảo tháp kỷ niệm lúc sẽ viên tịch của Ngài trong rừng Sa-la, bên sông Bạt-đề nước Câu-thi-na. Tám tháp báu như thế là phương thức giáo hóa của bậc Đại thánh, là chốn quy y, cung kính cúng dường, làm nhân thành Phật của hữu t́nh trong cơi người và cơi trời. Như thế các âm thanh cùng h́nh ảnh những sự kiện khó nghĩ bàn ở ba đời đều hiện rơ trong ánh hào quang lớn này.

        Lại, chư Phật trong ba đời ở mười phương thế giới cùng các Đại Bồ tát tụ hội đông đủ nơi đạo tràng, các sự việc về thần thông biến hóa hiếm có và những tiếng nói pháp vi diệu của các Đức Như Lai nói ra, đều ghi rơ như tiếng vang ứng hợp trong ánh hào quang lớn sắc vàng này không ǵ là không trông thấy, nghe thấy. Tất cả chúng sinh gặp được ánh hào quang này, thấy tướng lành kia đều phát tâm Vô đẳng đẳng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi đại chúng trông thấy thần lực bất khả tư nghị của Phật, ai cũng đều khen chưa từng có bao giờ và đều bảo nhau:

        -Ngày nay Như Lai nhập chánh định, phóng ra hào quang sáng lớn soi khắp mười phương thế giới khiến chúng ta được thấy Như Lai trong thuở xa xưa có những sự khó nghĩ bàn để điều phục những chúng sinh tà kiến trong đời ác trược, khiến họ phát sinh sự hiểu biết chân chánh và dốc hướng về đạo Bồ đề. Đức Như Lai là bậc hiếm có, Ngài đúng là Cha của tất cả thế gian, trong vô lượng kiếp khó thấy được Ngài. Chúng ta nhiều kiếp tu các hạnh nguyện, nên nay mới được gặp Bậc Đại Sư của trời, người trong ba cơi. Kính mong Đức Từ Tôn thương xót thế gian, từ thiền định dậy, nói pháp sâu xa, chỉ dạy cho chúng sinh đạt được những lợi lạc, vui vẻ! Tất cả chúng sinh nói lên lời ây rồi đứng im, chiêm ngưỡng dung nhan Đức Từ Tôn.

        Bấy giờ, trong pháp hội có một vị Bồ tát tên là Sư-Tử-Hống, trong ba vô số kiếp, Bồ tát đă tu hành về phước đức, trí tuệ, trong Hiền kiếp này Bồ tát sẽ chứng đắc quả vị Phật nhận ngôi Quán đảnh làm Bậc Đại Pháp Vương. Bồ tát hướng về bốn phương xem xét đại chúng trong hải hội, cất tiếng nói lớn:

        -Trong vô lượng kiếp xa xưa tôi đă phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đă phụng sự hằng sa chư Phật, đă từng ở nơi đệ nhất chúng hội đạo tràng, được thấy những thần thông biến hóa bất tư nghị của chư Phật. Nhưng tôi chưa từng trông thấy ánh hào quang sắc vàng này, hiện rơ tất cả hạnh nguyện của Bồ tát, cùng hiện ra mọi tướng mạo của Như Lai, làm cho tôi được thấy những sự khó nghĩ bàn trong ba đời. Vậy, kính mong các Nhân giả nhất tâm, chắp tay, chiêm ngưỡng Tôn nhan, từ thiền định dậy Ngài sẽ trao cho chúng sinh thuốc cam lộ, trừ những bệnh nhiệt năo, làm cho chúng sinh chứng được Pháp thân thường, lạc, ngă, tịnh. Các Đức Như Lai có hai pháp mà các Ngài không ở lâu trong chánh định: một là Đại Từ, hai là Đại Bi. Nương vào Đại Từ phải cho chúng sinh được an vui, dựa vào Đại Bi phải nhổ sạch mọi đau khổ cho chúng sinh. Do hai pháp ấy, trong vô số kiếp các Ngài đă dốc tu tập, hun đúc nơi tâm các Ngài mà thành ngôi Chánh giác. Chúng sinh trong thế gian chịu nhiều khổ năo, do nhân duyên ấy, không bao lâu nữa Đức Như Lai từ chánh định dậy, sẽ v́ chúng sinh diễn thuyết về diệu pháp Tâm địa quán môn của Đại thừa. Tôi xin kính cáo đại chúng: “Đại chúng không nên cầu các phước lạc trong trời, người mà nên cầu ngay đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác xuất thế gian. Sở dĩ thế là sao? Ngày nay, Đức Thế Tôn từ nơi ngực phóng ra hào quang sắc vàng, những nơi được soi tới cũng đều như sắc vàng cả, đó là sự hiển thị của Phật có ư nghĩa rất sâu xa mà tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác ở thế gian dù hết sức suy nghĩ lường tính cũng không thể biết được. Các vị c̣n ở trong phàm phu địa, không quán tự tâm, nên phải bị trôi giạt trong bể sinh tử! Chư Phật, Bồ tát v́ quán được tâm, nên vượt qua được bể sinh tử, đến bờ Niết bàn. Pháp của Như Lai trong ba đời đều như thế, các Ngài phóng ra hào quang tỏa sáng ấy, không phải là không có nhân duyên!”. Tất cả chúng hội nghe Đại sĩ nói như thế, trong tâm đều vui mừng hớn hở, cho rằng gặp được sự chưa từng có bao giờ.

        Bấy giờ, Bồ-tát Ma-ha-tát Sư-Tử-Hống muốn nhấn mạnh lại nghĩa ấy bằng lời kệ sau đây:

        Kính lễ Thiên Nhân Đại Giác Tôn

        Hằng sa phước trí đều viên măn

        Chúng sinh trông thấy sinh ḷng mến

        Tướng Kim quang trăm phước trang nghiêm.

        Ḿnh ở ngôi tôn hơn ba cơi

        Công đức tối thắng không ǵ sánh

        Dùng sức thần thông tự tại khắp

        Tùy chỗ tạo nghiệp, hiện trước họ

        Tôi dùng Thiên nhăn quán thế gian

        Tất cả không ai bằng được Phật

        Hiện có kim dung như trăng tṛn

        Hiếm có c̣n hơn hoa Ưu-đàm.

        Vô biên phước trí lợi quần sinh

        Đại quang soi như ngàn mặt trời

        Chúng sinh ngu si khổ nhiều kiếp

        Nhờ hào quang soi trừ được cả.

        Tôi quán Như Lai hạnh nguyện xưa,

        Thân cận cứng dường vô số Phật

        Trải qua vô số vô lượng kiếp

        V́ chúng sinh, hướng tới Bồ đề.

        Thường ở trong bể khổ sinh tử

        Làm Đại thuyền sư vớt mọi loài

        Diễn nói pháp chân tịnh cam lộ

        Khiến vào cửa Vô vi giải thoát.

        Ba vô số kiếp độ chúng sinh

        Siêng tu tám muôn Ba la mật

        Nhân tṛn, quả đủ thành Chánh giác

        Trụ yên thọ mạng không đi, lại.

        Mỗi một tướng tốt khắp pháp giới

        Tướng thập phương Phật đều thế cả

        Cảnh giới sâu xa khó nghĩ bàn

        Tất cả trời, người không lường được.

        Thể, dụng chư Phật không sai khác

        Như ngàn đèn soi sáng càng thêm

        Trí tuệ như không, không bờ bến

        Ứng vật hiện h́nh như trăng nước.

        Vô biên pháp giới thường vắng lặng

        Như như bất động ví hư không

        Như Lai thanh tịnh diệu pháp thân

        Tự nhiên đầy đủ hằng sa đức.

        Khắp cả pháp giới không cùng tận

        Không sinh, không diệt, không đi, lại

        Pháp vương thường ở Diệu pháp cung

        Ánh sáng Pháp thân soi khắp cả.

        Pháp tánh Như Lai không vướng ngại

        Tùy duyên ứng khắp, lợi quần sinh

        Chúng sinh đều thấy ngay trước mặt

        V́ ḿnh tuyên nói pháp cam lộ.

        Tùy tâm dốc diệt các phiền năo,

        Mọi khổ trời, người đều giũ sạch

        Pháp vương kỳ diệu phá sinh tử

        Ánh sáng soi tỏa như núi vàng.

        V́ độ chúng sinh khỏi thế gian

        Hay đốt đuốc pháp xua tăm tối

        Chúng sinh ch́m trong bể sinh tử

        Quẩn quanh năm nẻo không hẹn ra.

        Thiện Thệ hằng làm thuyền pháp diệu

        Ngăn chặn ḍng ái, tới bờ giác

        Đại trí phương tiện không thể lường

        Thường cho chúng sinh vui vô tận.

        Ngài là cha lành của thế gian

        Thương xót tất cả loài hữu t́nh

        Như Lai ra đời rất khó gặp

        Vô số ức kiếp một lần hiện.

        Ví như hoa Ưu-đàm, điềm “Diệu-thụy”

        Là hoa hiếm có trong người, trời

        Trong vô lượng kiếp một lần hiện

        Thấy Phật ra đời cũng đồng vậy.

        Các chúng sinh ấy không phước tuệ

        Thường đắm ch́m trong bể sinh tử

        Ức kiếp không thấy các Như Lai

        Theo các nghiệp ác thường chịu khổ.

        Chúng ta vô số trăm ngàn kiếp

        Tu bốn Vô lượng, ba Giải thoát

        Nay thấy Đại Thánh Mâu Ni Tôn

        Cũng như rùa mù gặp gỗ nổi.

        Nguyện trong hằng sa kiếp đời sau

        Niệm niệm không rời Thiên Nhân Sư

        Như bóng theo h́nh không hề ĺa

        Ngày đêm siêng tu về“Chủng trí”.

        Kính mong Thế Tôn thương xót tôi

        Thường cho được thấy Đại Từ Tôn

        Ba nghiệp tinh tấn thường phụng tŕ

        Nguyện cùng chúng sinh thành Chánhgiác.

        Nay Đại Đạo Sư trong ba cơi

        Trên ṭa kiết già nhập chánh định

        Một ḿnh vắng lặng nhà Không tịch

        Thân tâm chẳng động như Tu-di.

        Thế gian tất cả Phạm, Thiên, Ma

        Không thể biết rơ Như Lai định

        Phàm, Thánh cơi này và phương khác

        Đều biết Điều Ngự ở trong thiền

        Đặt nhiều đồ cúng rất nhiệm mầu

        Kính dâng Năng Nhân-Đức Tối Thắng.

        Chư Thiên cơi Dục lại cúng dường

        Hoa trời rơi rộn khắp hư không

        Nén hương vô giá do Thập thiện

        Biến hóa mây hương màu trăm báu

        Che khắp vô lượng chúng trời, người

        Mưa chen báu diệu hiến Như Lai.

        Hơi hương ngào ngạt trước Tam bảo

        Trăm ngàn kỹ nhạc vang cơi không

        Không gảy tự tấu thành diệu khúc

        Cúng dường Thế Tôn đủ phước tuệ.

        Mười tám cơi Phạm rải hoa trời

        Và tuôn nhiều báu ngàn muôn thứ

        Chuỗi ngọc Ma-ni cơi Phạm ma

        Mọi báu tô điểm nơi Thiên y.

        Cờ phướn tươi, lớn bằng vật báu

        Cầm đến cúng dường Mâu Ni Tôn

        Cơi trời Vô sắc rải hoa quư

        Hoa ấy rộng lớn như vành xe.

        Rải hương vi tế đầy thế giới

        Cúng dường chánh định khó bàn, nghĩ

        Long vương, Tu la, Nhân, Phi nhân

        Dâng bao châu báu do cảm mến

        Đều đem cúng Bậc Thiên Trung Thiên

        Ưa nghe đạo Bồ đề tối thắng.

        Khi Đấng Thế Tôn: Đại y vương,

        Khéo chữa phiền năo khổ của đời

        Lực Tam muội Sư tử tần thân

        Sáu thứ chấn động khắp tam thiên

        Dùng đó giác ngộ kẻ có duyên

        Trong ấy vô duyên khó biết được.

        Tùy trời, người kia khó thể độ

        Thấy các thần thông của Đức Phật

        Chiêm ngưỡng dung quang Mâu Ni Tôn

        Ba nghiệp sạch rồi đều vân tập.

        Như Lai tâm Từ dứt duyên chấp

        Lợi ích chúng sinh thành thắng đức

        Nơi ngực phóng đại quang minh này

        Là“Chư Bồ tát bất thoái chuyển”.

        Như khi kiếp hết, bảy mặt trời

        Hiện phóng ngàn tia sáng chói lọi

        Tất cả ánh sáng thế gian có

        Không bằng tia sáng chân lông Phật.

        Vô lượng đại thần quang vô ngại

        Soi khắp mười phương các cơi Phật

        Phước trí Như Lai đều viên măn

        Chỗ phóng thần quang cũng khó lường.

        Hào quang rực rỡ như sắc vàng

        Soi khắp mười phương bao quốc độ

        Bóng hiện trong kim quang của Phật

        Sắc tượnq thế gian đều thấy rơ

        Tam thiên đại thiên thế giới này

        Trong có tất cả các sơn vương

        Bốn báu tạo thành núi Diệu cao

        Tuyết sơn, Hương sơn, Thất Kim sơn

        Mục-chân-lân-đà, Di-lâu sơn

        Đại thiết vi sơn và Tiểu sơn

        Biển cả, sông ng̣i cùng ao tắm

        Vô số trăm ức bốn đại châu

        Mặt trời, trăng, sao mọi cung báu

        Thiên cung, Long cung, các cung thần

        Quốc ấp, vương cung, các làng xóm

        Hào quang đều hiển hiện như thế.

        Lại hiện nhân xưa của Như Lai

        Tích công, góp đức cầu Phật đạo  

        Như Lai xưa ở nước Thi-tỳ

        Từng làm Nhân vương trên tôn vị

        Ngọc báu đầy dẫy trong quốc giới

        Thường đem chánh pháp giác hóa đời

        Từ, Bỉ, Hỷ, Xả thường không mỏi

        Bỏ sự khó bỏ, hướng Bồ tát.

        Cắt thân cứu chim cáp nào hối

        Thâm tâm thương xót cứu chúng sinh.

        Thuở xưa khi Phật tại phàm phu

        Vào trong non Tuyết cầu Phật đạo

        Nhiếp tâm, dũng mănh chăm tinh tấn

        V́ cầu nửa kệ xả toàn thân.

        Do nhân duyên cầu chánh pháp

        Trong mười hai kiếp vượt sinh tử

        Khi xưa Ngài là Tiên Ma-nạp

        Trải tóc cúng dường Phật Nhiên Đăng

        Bởi v́ nhân duyên tinh tấn ấy

        Tám kiếp vượt qua bể sinh tử.

        Thuở xưa làm Vương tử Tát-đỏa

        Bỏ thân yêu quư gieo miệng hổ

        V́ nhân duyên lợi người, lợi ḿnh

        Vượt nhân sinh tử mười một kiếp.

        Trưởng giả Lưu-Thủy Đại y vương

        B́nh đẳng cứu giúp bao chúng sinh

        Vớt cá đều được sinh Thiên thượng

        Trời mưa chuỗi ngọc báo ân lại.

        Bảy ngày kiễng chân tán Như Lai

        Do v́ tinh tấn vượt chín kiếp.

        Thuở trước làm voi trắng sáu ngà

        Ngà đẹp lạ lùng không ǵ sánh

        Bỏ thân mạng ḿnh cho người săn

        Cầu Vô thượng Bồ đề của Phật.

        Hoặc làm Viên măn phước trí vương

        Cho mắt, tinh tấn cầu Phật đạo,

        Lại làm Kim sắc đại lộc vương

        Xả thân, tinh tấn cầu Phật đạo,

        Làm vua Từ-Lực nước Ca-thi

        Toàn thân thí cho năm Dạ-xoa.

        Lại làm Trang-Nghiêm vương nước lớn

        Đem vợ con cho không tiếc lẫn,

        Hoặc làm Tối thượng thân Bồ tát

        Đầu, mắt, tay, năo cho chúng sinh

        Từ bi, Bồ tát làm như thế

        Đều nguyện cầu chứng đạo Bồ đề.

        Phật xưa từng làm Chuyển luân vương

        Ngọc báu bốn châu đầy khắp cả

        Gồm đủ ngàn con cùng quyến thuộc

        Thập thiện dạy người trăm ngàn kiếp.

        Đất nước yên ổn như thiên cung

        Hưởng năm an lạc vô cùng tận

        Khi Luân vương kia hiểu thân ḿnh

        Và cả thế gian không bền chắc:

        Chư Thiên Vô tưởng tám muôn tuổi

        Phước hết trở về trong nẻo ác

        Như mộng, ảo ảnh cùng bọt, bóng

        Như sương sớm mai và ánh chớp.

        Thấu rơ ba cơi như nhà lửa

        Tám khổ đầy dẫy khó thoát khỏi

        Chưa được giải thoát lên bờ giác

        Ai người có chí thích luân hồi?

        Chỉ có Như Lai thân xuất thế

        Không sinh, không diệt thường an lạc

        Những hạnh Bồ tát khó làm ấy

        Tất cả hiện trong hào quang vàng.

        Trong hào quang này hiện tám tháp

        Là ruộng phước tốt của chúng sinh:

        Tháp cung Tịnh Phạn nhớ nơi sinh    

        Tháp gốc Bồ đề ghi thành Phật

        Tháp trong vườn Lộc chuyển xe pháp

        Tháp vườn Cô độc ghi tiếng khen

        Tháp báu dựng bên thành Khúc nữ        

        Tháp nơi Linh-thứu tuyên Bát-nhă

        Tháp Duy-Ma-Cật tại Am-la

        Tháp trong Sa-la ghi viên tịch

        Tám tháp của Phật ghi như thế

        Chư Thiên, Long thần thường cúng dâng

        Kim cang Mật Tích bốn Thiên vương

        Ngày đêm ǵn giữ thường không rời.

        Nếu xây tám tháp để cúng dường

        Hiện thân phúc thọ được lâu dài

        Trí tuệ thêm lên, chúng tôn kính

        Nguyện thế, xuất thế đều viên măn.

        Nếu ai lễ bái và tâm niệm

        Tám tháp như thế không nghĩ bàn

        Hai người được phúc như nhau cả

        Chóng chứng đạo Vô thượng Bồ đề

        Những sự lợi ích ba đời ấy .

        Ở trong hào quang đều thấy rơ.

        Bố tát trong mười phương cơi Phật

        Các Linh Tiên đầy đủ thần thông

        Chuyển luân vương trong muôn ức cơi

        Theo hào quang này đều vân tập

        Đều dùng thần lực lại cúng dường

        Rải ngọc như ư dâng Từ Tôn.

        Kỹ nhạc chư Thiên trăm ngàn thứ

        Không gảy tự ngân tiếng diệu kỳ,

        Hoa trời rơi rộn đầy hư không

        Mọi hương xông khắp trong đại hội

        Cờ phướn báu, vô số chuỗi ngọc

        Cầm đem cứng dường Nhân Trung Tôn.

        Kệ tụng nhiệm mầu khen Như Lai:

        Quư thay thường nhập trong chánh định!

        Hiện đại thần lực chẳng nghĩ bàn

        Điều phục chúng sinh khó hóa độ

        Khiến tâm an trụ, không thoái chuyển.

        Tôi nơi chỗ Phật dốc tùy hỷ

        Kính mong Thế Tôn ra khỏi định

        V́ mọi chúng sinh Chuyển pháp luân.

        Dứt hẳn tất cả các phiền năo.

        Trụ nơi vô trụ Đại Niết bàn

        Như hàng chúng tôi tâm thanh tịnh

        Từ muôn ức cơi lại nghe pháp

        Dùng sức chánh định thường xét kỹ

        Vật mọn kính xin Ngài thương nhận!

        Người cho, người nhận và của cho

        Ở trong ba đời vô sở đắc.

        Chúng tôi an trụ tâm tôi thắng

        Cúng dường tất cả mười phương

        Phật Đời đời thân cận Đại Bi Chủ

        Thường thường phụng sự Đại Từ Tôn

        Đem căn diệu thiện vô sở đắc

        Pháp giới viên dung về chân giác.

        Quá khứ Như Lai vào tịch định

        Hiện đại thần thông chuyển xe pháp

         Nay Phật Thế Tôn cũng lại thế

        Nhập định, phóng quang đồng chư Phật.

        V́ vậy nghĩ rằng Thích Sư Tử

        Quyết định muốn nói Tâm địa môn.

        Nếu muốn xa ĺa nhân sinh tử

        Quyết đạt quả chân thường ba đời

         Các vị chắp tay nhất tâm đợi

        Sẽ vào cung Như Lai an lạc.

Quyển 1Hết

KINH ĐẠI THỪA BẢN SINH TÂM ĐỊA QUÁN

Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Bát-nhă, người nước Kế tân

Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Quyển 2

Phẩm 2: BÁO ÂN

(Phần 1)

        Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ chánh định khoan thai trở dậy, bảo Đại Bồ tát Di Lặc:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Đại sĩ các ông, các hàng Thiện nam v́ muốn được gần gũi bậc Cha lành của thế gian, v́ muốn được nghe pháp xuất thế, v́ muốn suy nghĩ đúng như diệu lư, v́ muốn tu tập Trí-Như-như nên mới đến nơi Phật cung kính cúng dường. Nay Ta diễn nói về Tâm địa diệu pháp (pháp diệu nơi cơi tâm), để dẫn dắt chúng sinh, khiến họ chứng nhập trí tuệ của Phật. Diệu pháp như thế, chư Phật Như Lai trải qua vô lượng kiếp tu tập giáo hóa mới tuyên giảng. Như hoa Ưu-đàm, Như Lai Thế Tôn ra đời rất khó gặp được và Như Lai xuất hiện ở đời nói diệu pháp này lại càng khó gặp hơn! Sở dĩ thế là sao? Tất cả chúng sinh xa ĺa hạnh nguyện của Bồ tát Đại thừa, nhằm hướng về Bồ đề của Duyên giác, Thanh văn, chán ngán sinh tử, mong nhập Niết bàn măi, chứ không thích diệu quả thường lạc của Đại thừa. Song, các Như Lai chuyển bánh xe pháp, xa ĺa bốn lỗi mà nói pháp tương ứng. Một là nói không trái nơi chốn tức hợp hoàn cảnh. Hai là nói không lỗi thời tức hợp thời. Ba là nói không trái căn khí tức hợp tŕnh độ chúng sinh, Bốn là nói không trái pháp tức hợp chánh pháp. Theo bệnh cho thuốc, khiến bệnh được dứt tức là đức Bất cộng của Như Lai. Hàng Thanh văn, Duyên giác c̣n chưa được cảnh giới bất cộng tự tại của các chúng Bồ tát huống là được đức Bất cộng của Như Lai. Do nhân duyên ấy nên họ khó thấy, khó nghe được Pháp môn tâm địa của Chánh đạo của Bồ đề! Nhưng nếu có các thiện nam, thiện nữ nào một lần nghe được diệu pháp ấy chỉ trong khoảng chốc lất, nhiếp niệm quán tâm được, là họ hun đúc thành hạt giống Đại Bồ đề Vô thượng, không bao lâu nữa họ sẽ ngồi trên ṭa báu Kim cang, nơi cây Bồ đề, được thành Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

        Khi ấy, nơi thành lớn Vương Xá có năm trăm vị Trưởng giả tên là: Trưởng giả Diệu-Đức, Trưởng giả Dũng-Mănh, Trưởng giả Thiện-Pháp, Trưởng giả Niệm-Phật, Trưởng giả Diệu-Trí, Trưởng giả Bồ-Đề, Trưởng giả Diệu-Biện, Trưởng giả Pháp-Nhăn, Trưởng giả Quang-Minh, Trưởng giả Măn-Nguyện... Các vị Trưởng giả giàu có nổi tiếng ấy đă thành tựu được chánh kiến, nên tới cúng dường Như Lai cùng các Thánh chúng. Các Trưởng giả đó nghe Đức Thế Tôn tán thán pháp môn Tâm địa của Đại thừa liền nghĩ rằng: “Chúng ta thấy Đức Như Lai phóng hào quang sắc vàng, hiện rơ những sự khổ hạnh khó làm của Bồ tát. Chúng ta không có tâm ưa thích thực hiện hạnh khổ hạnh! Ai lại trong nhiều kiếp ở nơi sinh tử, v́ chúng sinh mà chịu bao thứ khổ năo được?”. Các Trưởng giả ấy nghĩ thế rồi, liền từ ṭa đứng dậy, để trần vai bên phải, gối phải quỳ xuống đất, chắp tay cung kính, tuy khác miệng nhưng đồng âm, bạch trước Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, chúng tôi không ưa thích những hạnh của các Bồ tát Đại thừa, cũng không thích nghe những âm thanh nói về khổ hạnh, sở dĩ thế là sao? v́ tất cả hạnh nguyện tu tập của các Bồ tát, đều không phải là những sự tri ân, báo ân. V́ sao? V́ các vị ấy xa ĺa cha mẹ, dốc chí xuất gia, đem vợ con ḿnh cho những kẻ ham muốn; cho đến đầu, mắt, tủy, năo tùy theo sự mong muốn của họ, đều bố thí cả, để ḿnh chịu các sự bức năo; trong ba vô số kiếp tu tập đủ các pháp Độ, với tám vạn bốn ngàn hạnh Ba-la-mật, vượt ḍng sinh tử, mới đến được cơi Bồ đề đại an lạc; chẳng bằng quyết hướng về đạo quả Thanh văn, Duyên giác, chỉ khoảng ba đời hay trăm kiếp tu tập tư lương, dứt được nhân sinh tử, chứng quả Niết bàn, chóng đến nơi yên vui, như thế mới gọi là báo ân!

        Đức Phật bảo năm trăm vị Trưởng giả:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Các ông nghe Ta tán thán pháp Đại thừa, liền sinh tâm thoái chuyển, nhưng các ông lại phát khởi ra ư nghĩa sâu xa, để đem lại lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh không biết ân đức trong đời mai sau. Các ông hăy nghe cho kỹ, nghe cho kỹ và nhớ nghĩ cho khéo, nay Ta sẽ v́ các ông mà phân biệt, diễn nói về những chỗ có ân của thế gian và xuất thế gian để các ông hiểu.

        Này thiện nam, những lời của các ông nói chưa có thể gọi là đúng lư. Sao vậy? Ân của thế gian và xuất thế gian có bốn bậc: Một là ân cha mẹ. Hai là ân chúng sinh. Ba là ân Quốc vương. Bốn là ân Tam bảo. Bốn ân như thế, tất cả chúng sinh đều b́nh đẳng gánh chịu.

        Thiện nam, ân cha mẹ là cha có ân từ, mẹ có ân bi. Ân bi của mẹ, nếu ta ở đời trong một kiếp để nói về ân ấy cũng không thể hết được. Nay Ta v́ các ông nói một ít phần về công ân ấy để các ông hiểu. Giả sử có người v́ việc phước đức, cung kính, cúng dường một trăm vị đại Bà-la-môn tịnh hạnh, một trăm vị đại Thần tiên được năm pháp thần thông, một trăm người bạn lành, xếp đặt cho các vị ấy ở yên trong nhà được xây bằng bảy báu rất đẹp, đem trăm ngàn thứ đồ ăn ngon quư, y phục bằng mọi thứ báu tua rủ, các chuỗi ngọc, dựng các pḥng xá bằng gỗ Chiên-đàn, trầm hương, chăn gối, giường nằm trang nghiêm bằng trăm báu, cùng trăm thứ thuốc thang chữa khỏi các bệnh và nhất tâm cúng dường trọn trăm ngàn kiếp, cũng không bằng một niệm để tâm hiếu thuận, đem chút ít vật nuôi nấng sắc thân mẹ hiền. Và theo chỗ cúng dường hầu hạ ấy, đem so sánh với công đức trước thời đến trăm ngàn vạn phần cũng không thể nào xét lường kịp.

        Sự thương nhớ con của mẹ hiền ở thế gian không ǵ sánh được. Ân ấy đến với con ngay từ khi chưa có h́nh hài. Nghĩa là bắt đầu từ khi thọ thai, trải trong mười tháng, đi, đứng, ngồi, nằm, mẹ chịu mọi khổ năo, không thể dùng miệng mà nói hết được. Tuy có những sự vui thú, ăn uống, may mặc, nhưng mẹ vẫn không sinh tâm ưa thích, mà tâm mẹ chỉ luôn luôn lo nghĩ đến con không chút quên lăng.

        Hăy tự suy nghĩ: Khi sắp sinh sản, mẹ âm thầm chịu đựng mọi khổ, ngày đêm sầu năo, nhưng đến lúc lâm bồn và sự đau khổ ấy quá đỗi như trăm ngàn mũi nhọn bâu vào cắt xé, thực không thể nào xiết được, có khi đến chết. Sinh nở rồi, mẹ không c̣n bị khổ năo ǵ nữa, lúc đó họ hàng thân thích vui mừng vô tận, cũng như người đàn bà nghèo được ngọc Như ư. Khi đứa con cất tiếng khóc chào đời, mẹ như là nghe được âm nhạc. Mẹ dùng ngực ḿnh làm chỗ ngủ nghỉ của con, hai đầu gối mẹ là nơi chơi giỡn của con và ngực mẹ tuôn ra những ḍng sữa như nước suối cam lộ để nuôi lớn con. Ân nuôi lớn ấy nhiều hơn trời đất và đức thương xót ấy rộng lớn không ǵ sánh được. Thế gian, núi non là cao, ân của mẹ hiền c̣n cao hơn thế, cao hơn cả núi Tu-Di. Thế gian cơi đất là nặng, ân của mẹ hiền c̣n nặng hơn thế!

        Thảng hoặc có con trai, con gái nào bội ân, không hiếu thuận với cha mẹ, làm cho cha mẹ sinh tâm oán niệm, mà mẹ bực bội thốt ra một lời nói ác, tức thời con phải đọa theo lời nói ấy, hoặc vào địa ngục, hay ngạ quỷ, súc sinh. Thế gian, nhanh ǵ hơn gió dữ, một chút oán niệm của cha mẹ c̣n nhanh hơn gió ấy, tất cả Như Lai, chư Thiên, Kim cang cùng các vị Tiên được năm pháp thần thông cũng không thể cứu giúp được.

Nếu các thiện nam, thiện nữ nào nghe lời dạy bảo của mẹ hiền và vâng thuận không trái, thời được chư Thiên hộ niệm, phước lạc vô tận. Những nam, nữ ấy tức là ḍng giống tôn quư của trời, người hoặc là Bồ tát v́ độ chúng sinh, hiện làm nam, nữ đem lại lợi ích cho cha mẹ.

        Như thiện nam, thiện nữ nào v́ báo ân cha mẹ, suốt một kiếp, mỗi ngày ba thời, tự cắt thịt ḿnh để nuôi cha mẹ, cũng chưa trả được công ân một ngày của cha mẹ. Sở dĩ thế là sao? Tất cả nam, nữ lúc ở trong thai mẹ, miệng nút cuống vú, uống huyết mẹ, khi ra khỏi bào thai, trước thời ấu thơ, uống hết đến một trăm tám mươi hộc sữa của mẹ; mẹ được chút vị bổ nào đều cho con cả, ngay đến những y phục quư tốt cũng đều như thế. Và dù rằng sinh phải đứa con ngu si, xấu xí đi nữa t́nh yêu con của mẹ cũng chỉ là một không hai. Xem như xưa kia, có người đàn bà đi chơi xa tại nước khác, bế con lội qua sông Hằng, không ngờ nước sông lên to, chảy xiết, sức yếu không vượt qua nổi, lại yêu mến con quá, không nỡ rời bỏ con, nên cả hai mẹ con đều chết ch́m. Song do sức của tâm Từ và căn lành ấy tức thời người mẹ được sinh lên cơi trời sắc cứu cánh, làm Đại Phạm vương.

        Do nhân duyên ấy, mẹ có mười đức:

        -Như đại địa: v́ trong thai mẹ là chỗ nương tựa của con.

        -Năng sinh: mẹ phải trải qua mọi sự khổ năo mới sinh được con.

        -Năng chánh: thường là do tay mẹ ve vuốt, uốn nắn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân con.

        -Dưỡng dục: mẹ phải theo hợp bốn mùa mà nuôi nấng con khôn lớn.

        -Bậc trí: mẹ thường dùng phương tiện làm cho con sinh trí tuệ.

        -Trang nghiêm: mẹ lấy những chuỗi ngọc đẹp trang sức cho con.

        -An ổn: mẹ ôm ấp, làm cho con nghỉ ngơi an lành.

        -Dạy, trao: mẹ dùng phương tiện khéo để dẫn dắt con.

        -Răn bảo: mẹ dùng lời lành để con xa ĺa những điều ác.

        -Cho gia nghiệp: mẹ thường đem gia nghiệp giao lại cho con.

        Này thiện nam, ở thế gian này, cái ǵ gọi là rất giàu? Điều ǵ là rất nghèo? Mẹ hiền c̣n sống nơi gia đ́nh là giàu; mẹ hiền khuất bóng là nghèo; mẹ hiền c̣n sống là mặt trời giữa trưa, mẹ hiền mất đi là mặt trời đă lặn; mẹ hiền c̣n sống là mặt trăng sáng, mẹ hiền mất đi là đêm tối tăm! Thế nên, các ông phải siêng năng gia tăng việc tu tập về sự hiếu dưỡng đối với phụ mẫu, thời như người cúng dường Phật, phước báo ấy và phước báo này bằng nhau không khác! Các ông nên báo ân cha mẹ như thế!

        Này thiện nam, ân chúng sinh là tất cả chúng sinh từ thời vô thỉ đến nay, luân chuyển trong năm đường: Trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trải qua trăm ngàn kiếp và ở trong nhiều đời thường làm cha mẹ lẫn nhau; v́ làm cha mẹ lẫn nhau nên tất cả nam tử là cha lành, tất cả nữ nhân là mẹ hiền và trong đời đời kiếp kiếp xưa kia cũng có ân lớn như ân của cha mẹ hiện tại không khác. Như thế, các ân xưa chưa trả được, rồi hoặc nhân vọng nghiệp sinh ra các sự thuận nghịch, v́ sự chấp trước lại thành ra oán hại lẫn nhau. Sao vậy? Xưa có trí tuệ sáng suốt nhưng v́ vô minh che lấp không hiểu đời trước ḿnh đă từng làm cha mẹ lẫn nhau, nên phải trả ân và đem lại lợi ích cho nhau; không làm được điều ấy là bất hiếu! Do nhân duyên ấy, các loài chúng sinh trong tất cả các thời, cũng đều có ân lớn, thực là khó trả. Những sự như thế gọi là ân chúng sinh!

        Ân quốc vương: Vị đứng làm chủ một nước là người có đủ phước đức tối thắng. Vị ấy tuy sinh trong cơi nhân gian nhưng được tự tại, các Thiên tử trong cơi trời Ba mươi ba luôn giúp sức, thường hộ tŕ và đối với cơi nước, sông núi, đất đai, tận cùng biển cả đều thuộc quyền nơi Quốc vương. Vị ấy là một người có phước đức tối thắng hơn tất cả phước của chúng sinh. Vị ấy là bậc Đại Thánh vương dùng chánh pháp giáo hóa, khiến chúng sinh đều được an vui. Ví như tất cả cung điện, nhà cửa của thế gian, trụ (cột) là căn bản; nhân dân thịnh vượng, vui vẻ, Quốc vương là căn bản, v́ phải dựa vào chánh pháp của Quốc vương mới có. Như ngoại đạo cho Phạm vương sinh ra muôn vật, th́ đây Thánh vương đặt ra pháp luật trị nước, làm lợi ích chúng sinh cũng vậy. Thánh vương cũng hay quan sát thiên hạ, đem lại sự yên vui cho nhân dân. Quốc vương làm mất chánh trị th́ nhân dân không có chỗ nương tựa. Nếu Quốc vương đem chánh pháp giáo hóa, tám sự khủng bố lớn lao không xâm nhập vào trong nước đựợc. Tám sự khủng bố ấy là: nước ngoài xâm lấn, phản nghịch ở ngay trong cơi, ác quỷ gieo rắc tật bệnh, đất nước đói thiếu, gió mưa trái thời, nhật thực, nguyệt thực và tinh tú biến hiện quái lạ. Nhân vương dùng chánh pháp giáo hóa, đem lại lợi ích cho nhân dân th́ tám nạn như thế không xâm phạm được. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một con, yêu mến hơn hết, ông luôn luôn thương xót con, cho con sự lợi ích, cho con sự yên vui, ngày đêm không rời. Vị đại Thánh vương trong nước cũng như thế, đồng coi quần sinh như con một, tâm ủng hộ họ ngày đêm không rời. Nhân vương như thế hay khiến chúng sinh tu mười điều thiện, nên gọi là Phước đức chủ, vị nào không làm cho chúng sinh tu thiện là Phi phúc chủ. Sở dĩ thế là sao? Nếu một người tu thiện ở trong vương quốc, sự tạo phúc của họ chia làm bảy phần, người làm thiện được năm phần, Quốc vương kia được hai phần. Trái lại, nhân lành của Quốc vương tu, nhân dân cũng đồng được phúc lợi. Và nếu tạo mười nghiệp ác cũng như thế, nghĩa là, cũng đồng như sự ấy. Tất cả những vật sinh nơi ruộng đất, vườn rừng trong nước đều chia làm bảy phần, cũng lại như thế. Nếu có Nhân vương thành tựu chánh kiến, theo đúng pháp dạy đời, thời gọi vị ấy là Thiên chủ. V́ vị ấy đem pháp lành của cơi trời dạy thế gian nên chư Thiên, Thiện thần cùng Hộ thế vương thường lại giúp đỡ và giữ ǵn vương cung. Nhân vương tuy ở nhân gian nhưng tu hành theo nghiệp của cơi Thiên, nên tâm thưởng, phạt không thiên lệch. Chánh pháp của tất cả các bậc Thánh vương đều như thế! Thánh vương như thế gọi là Chánh pháp vương. Và do nhân duyên ấy nên Chánh pháp vương thành tựu được mười đức:

        -Soi sáng (năng chiếu): đem mắt trí tuệ soi sáng thế gian.

        -Trang nghiêm: đem phước đức, trí tuệ làm trang nghiêm đất nước.

        -Làm cho vui (dữ lạc): đem an lạc lớn cho nhân dân.

        -Dẹp oán (phục oán): tất cả giặc oán tự nhiên quy phục.

        -Khởi sợ (ly bố): đẩy lùi tám nạn, ĺa khỏi sợ hăi.

        -Trọng dụng bậc hiền tài: hợp các người hiền bàn bạc việc nước.

        -Pháp bản (giữ lấy gốc chánh pháp): muôn họ an cư nương nhờ Quốc vương.

        -Tŕ thế (giữ ǵn thế gian): đem pháp của Thiên vương giữ ǵn thế gian.

        -Nghiệp chủ (chủ của mọi nghiệp): các nghiệp thiện ác đều thuộc Quốc vương.

        -Nhân chủ: tất cả nhân dân, Quốc vương là chủ.

        Tất cả Quốc vương, do phước đức từ đời trước nên đă thành tựu

mười thắng đức như vậy. V́ thế, Đại Phạm thiên vương cùng Đao lợi thiên thường giúp Nhân vương hưởng thọ những sự vui thắng diệu; các La sát vương và chư Thần... tuy không hiện thân giúp đỡ, nhưng âm thầm lại hộ vệ Nhân vương cùng với quyến thuộc.

Nhân vương thấy nhân dân tạo các ác nghiệp mà không ngăn cấm được th́ chư Thiên, Thần đều xa tránh. Nếu thấy nhân dân tu thiện th́ chư Thiên, Thần vui mừng tán thán và tất cả đều xướng : rằng: “Thánh vương ta!...” Long, Thiên vui mừng rưới nước mưa cam lộ, năm thứ lúa thóc hoa màu dồi dào, nhân dân vui vẻ, thịnh vượng. Nếu Nhân vương không gần những người ác, chăm làm lợi ích cho khắp thế gian, đều theo nẻo hành hóa chánh đáng, thời ngọc báu Như ư hiện ngay trong vương quốc, các vua nước láng giềng đều quy phục, Nhân, Phi nhân đều khen ngợi. Và nếu có ác nhân ở trong vương quốc sinh tâm phản nghịch th́ trong chốc lát, phúc của người ấy tự suy diệt, khi mất đi, phải bị đọa trong địa ngục, trải qua loài súc sinh chịu đủ mọi thứ đau khổ. Sở dĩ thế là sao? Bởi v́ kẻ ấy không biết ân đức của Thánh vương, khởi ra những nghiệp ác, phản bội nên phải chịu quả báo như thế. Nếu có nhân dân thực hành tâm thiện, hết ḷng giúp đỡ Nhân vương và tôn quư kính trọng như Phật, th́ người ấy ngay trong đời hiện tại luôn được yên ổn, thịnh vượng, vui vẻ, có mong cầu ǵ đều được vừa ḷng. Sở dĩ thế là sao? Tất cả quốc vương trong thời quá khứ đă từng thọ giới cấm thanh tịnh của Như Lai và đă thường làm Nhân vương hưởng sự an ổn, vui sướng. V́ nhân duyên ấy, quả báo trái ngược hay thuận hợp đều như vang ứng tiếng. Ân đức của Thánh vương rộng lớn như thế !

        Này thiện nam, ân Tam bảo là ân không thể nghĩ bàn được, v́ Tam bảo luôn luôn đem lại lợi lạc cho chúng sinh không có thời nào và chỗ nào dừng nghỉ.

        Thân tướng của chư Phật là chân thiện vô lậu, do tu nhân trong vô số đại kiếp mà chứng được. Chư Phật dứt sạch hết mọi nghiệp quả trong ba cơi, công đức như núi báu rực rỡ, không ǵ so sánh kịp, mà tất cả hữu t́nh không thể nào biết hết. Phước đức chư Phật rất sâu như biển cả, trí tuệ vô ngại như hư không, thần thông biến hóa tràn đầy thế gian, ánh sáng soi khắp mười phương, ba đời.

        Tất cả chúng sinh do bị phiền năo nghiệp chướng ngăn che không hiểu biết đúng đắn, nên phải ch́m đắm trong bể khổ sinh tử vô cùng. Tam bảo ra đời làm Đại thuyền sư, ngăn chặn ḍng ái dục, để chúng sinh vượt lên bờ Niết bàn. Những bậc có trí ai cũng đều chiêm ngưỡng.

        Này thiện nam, chỉ một ngôi Phật bảo đă gồm đủ ba thân: Một là Tự tánh thân. Hai là Thọ dụng thân. Ba là Biến hóa thân.

        Thân Phật thứ nhất có Đại đoạn đức, là chỗ hiển lộ nhị không, tất cả chư Phật đều b́nh đẳng.

        Thân Phật thứ hai có Đại trí đức, chân thực thường hằng, dứt sạch các lậu, tất cả chư Phật đều cùng một ư.

        Thân Phật thứ ba có Đại ân đức, an định, thông hợp, biến hiện, tất cả chư Phật đều đồng sự.

        Này thiện nam, tự tánh thân của Phật là vô thỉ, vô chung, ĺa tất cả các tướng, dứt hết mọi thứ hư luận, tṛn đầy, cùng khắp, không c̣n bờ bến và tịch nhiên thường trụ.

        Thọ dụng thân ấy có hai tướng: Một là Tự thọ dụng thân. Hai là Tha thọ dụng thân.

        Tự thọ dụng thân do tu muôn hạnh, đem lại lợi ích yên vui cho các chúng sinh trong ba vô số kiếp, đạt được Thập địa măn tâm, vận dụng thân lực đi thẳng đến cơi trời sắc cứu cánh, ra khỏi tam giới, làm nghiêm tịnh quốc độ vi diệu, ngồi trên hoa sen vô số lượng châu báu lớn, mà các chúng Bồ tát đông đảo không thể nêu bày hết được, ở trong hải hội vây quanh trước sau, đem lụa vô cấu kết trên đỉnh đầu, cúng dường cung kính, tôn trọng, tán thán, như thế gọi là “Lợi ích của phước báo tối hậu”. Khi ấy, Bồ tát nhập Kim cang định, dứt bỏ tất cả sở tri chướng, phiền năo chướng vi tế, chứng được Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; diệu quả như thế gọi là “Lợi ích của phước báo hiện tiền”. Chân báo thân ấy gọi là hữu thỉ, vô chung, thọ mạng tùy theo sự mong muốn, kiếp số không có hạn lượng. Và lại từ khi bắt đầu thành Chánh giác cho đến lúc tận cùng của thời vị lai, các căn tướng tốt trang nghiêm cùng khắp pháp giới.

        Bốn trí viên măn là Báo thân đích thực thọ dụng pháp lạc:

        Một là Đại viên cảnh trí, do chuyển Dị thục thức (thức thứ tám), mà được trí tuệ này, ví như tấm gương tṛn lớn hiện đủ các sắc tướng h́nh tượng. Cũng thế, trong gương trí tuệ của Như Lai, hiện ra các nghiệp thiện, ác của chúng sinh; do nhân duyên ấy, trí tuệ này gọi là Đại viên cảnh trí. Dựa vào đại bi nên thường duyên với chúng sinh, nương vào đại trí nên thường như pháp tánh, quán sát song song cả chân đế, tục đế, không gián đoạn, thường giữ ǵn lấy thân căn vô lậu và là chỗ y chỉ của tất cả công đức.

        Hai là B́nh đẳng tánh trí, do chuyển Ngă kiến thức (thức thứ bảy) mà được trí tuệ này. V́ chứng được tự tha b́nh đẳng, cả hai tự tánh đều vô ngă, nên gọi là B́nh đẳng tánh trí.

        Ba là Diệu quán sát trí, do chuyển Phân biệt thức (thức thứ sáu) mà được trí tuệ này. Hay quán sát tự tướng, cộng tướng của mọi pháp và ở trước chúng hội nêu giảng pháp nhiệm mầu, làm cho chúng sinh chứng được Bất thoái chuyển, nên gọi là Diệu quán sát trí.

        Bốn là Thành sở tác trí, do chuyển nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức mà đạt được trí tuệ này, hay hiện ra tất cả mọi Hóa thân, làm cho chúng sinh thành tựu trọn vẹn các thiện nghiệp, do nhân duyên ấy nên gọi là Thành sở tác trí.

        Bốn trí ấy là trí tuệ trên hết, đầy đủ tám vạn bốn ngàn nẻo vào trí tuệ. Tất cả các pháp công đức như thế gọi là Tự thọ dụng thân của Như Lai.

        Này các thiện nam, hai là Tha thọ dụng thân của Như Lai, đầy đủ tám vạn bốn ngàn tướng tốt, ở nơi cơi tịnh chân thực nói pháp Nhất thừa, khiến cho các Bồ tát thọ dụng được pháp lạc vi diệu của Đại thừa. Tất cả chư Như Lai v́ nhằm hóa độ các chúng Bồ tát nơi Thập địa, nên hiện ra mười loại Tha thọ dụng thân: Thân Phật thứ nhất, ngồi trên hoa sen trăm cánh v́ Bồ tát Sơ địa nói về trăm pháp minh môn; Bồ tát ngộ rồi hiện ra thần thông biến hóa lớn lao, cùng khắp trong trăm thế giới của chư Phật, đem lại lợi ích yên vui cho vô số chúng sinh. Thân Phật thứ hai, ngồi trên hoa sen ngàn cánh, v́ Bồ tát Nhị địa nói về ngàn pháp minh môn; Bồ tát ngộ rồi hiện ra thần thông biến hóa lớn lao, cùng khắp trong ngàn thế giới của chư Phật, đem lại lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Thân Phật thứ ba, ngồi trên hoa sen muôn cánh, v́ Bồ tát Tam địa nói về muôn pháp minh môn; Bồ tát ngộ rồi hiện ra thần thông biến hóa lớn lao, cùng khắp trong muôn quốc độ của chư Phật, đem lại lợi ích yên vui cho vô số chúng sinh..Như thế, Như Lai tăng trưởng dần dần, cho đến Tha thọ dụng thân nơi Thập địa, ngồi trên hoa sen diệu bảo không thể nêu bày được, v́ Bồ tát Thập địa nói về các pháp minh môn số nhiều không thể nói hết; Bồ tát ngộ rồi, hiện ra thần thông biến hóa lớn lao, cùng khắp quốc độ vi diệu của chư Phật, số nhiều không thể nói được, đem lại lợi ích yên vui cho vô lượng, vô biên chủng loại chúng sinh với con số nhiều không thể tuyên thuyết, không thể tuyên thuyết được. Mười thân như thế, đều ngồi nơi cây Bồ đề bằng bảy báu, chứng được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

        Các vị thiện nam, mỗi một cánh hoa đều là một Tam thiên thế giới, trong đó đều có trăm ức núi chúa Diệu cao cùng bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng, tinh tú và chư Thiên trong ba cơi cũng đều đủ cả. Các Nam-thiệm-bộ châu ở trên mỗi mỗi cánh hoa sen, có ṭa Kim cang, cây Bồ đề, có trăm ngàn vạn đến số nhiều không thể nói được những vị Hóa Phật lớn, nhỏ đều ở bên gốc cây Bồ đề, phá ma quân rồi, cùng lúc chứng được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thân của các vị Hóa Phật lớn, nhỏ như thế đều đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp kèm theo, v́ các Bồ tát trong hàng Tư lương và Bốn thiện căn cùng hàng Nhị thừa, phàm phu, tùy nghi v́ họ nói ra diệu pháp về Ba thừa; v́ các Bồ tát nói về sáu pháp Ba-la-mật thích ứng khiến các vị ấy được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật tuệ rốt ráo; v́ các vị cầu quả vị Bích chi phật nói về Mười hai pháp nhân duyên; v́ các vị cầu đạo quả Thanh văn nói về pháp Tứ đế, vượt qua sinh, lăo, bệnh, tử đạt đến cứu cánh Niết bàn; v́ các chúng sinh khác nói về giáo pháp cho hàng trời, người, khiến họ đạt được diệu quả an lạc trong cơi trời, người. Các vị Hóa Phật lớn, nhỏ như thế đều gọi là “Biến hóa thân của Phật”. Này thiện nam, hai loại ứng, Hóa thân Phật như thế, tuy hiện ra diệt độ nhưng thân Phật ấy vẫn nối tiếp thường trụ.

        Các vị thiện nam, như một Phật bảo có vô lượng, vô biên không thể nghĩ bàn được những ân đức rộng lớn đem lại lợi lạc cho chúng sinh như thế, nên cũng do nhân duyên ấy mà gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

        Này thiện nam, trong một Phật bảo thâu tóm đầy đủ sáu thứ công đức vi diệu: Một là Ngôi vô thượng có ruộng công đức lớn lao trên hết. Hai là Ngôi vô thượng có ân đức lớn. Ba là Ngôi chí tôn trong những chúng sinh không chân, hai chân cho đến nhiều chân. Bốn là Bậc rất khó gặp, như hoa Ưu-đàm. Năm là Ngôi độc nhất xuất hiện trong Tam thiên đại thiên thế giới. Sáu là Ngôi gồm thâu đầy đủ tất cả ư nghĩa trong công đức thế gian và xuất thế gian. Do đầy đủ sáu thứ công đức như thế và thường đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh, nên gọi là “Ân Phật bảo thật không thể nghĩ bàn được!”.

        Khi ấy, năm trăm vị Trưởng giả bạch Phật rằng:

        -Bạch Đức Thế Tôn, như Phật nói: Trong một Phật bảo có vô lượng Hóa Phật, hiện ra cùng khắp thế giới đem lại lợi lạc cho chúng sinh, vậy do nhân duyên ǵ mà nhiều chúng sinh trong thế gian này không thấy Phật, phải chịu mọi khổ năo?

        Đức Phật bảo năm trăm vị Trưởng giả:

        -Ví như mặt trời tỏa trăm ngàn ánh sáng soi khắp thế giới, mà trong đó có những người mù không thấy được ánh sáng mặt trời, thời ư các thiện nam nghĩ sao, mặt trời có bị lỗi không?

        Các Trưởng giả bạch:

        -Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời không có lỗi!

        Đức Phật dạy:

        -Thiện nam tử, chư Phật Như Lai thường diễn nói chánh pháp, đem lại lợi lạc cho chúng sinh, nhưng các chúng sinh ấy thường tạo nghiệp ác không hiểu biết đúng đắn, không có tâm hổ thẹn, không ưa thân cận Phật, Pháp, Tăng, chúng sinh như thế cội rễ của tội rất sâu nặng, trải qua vô lượng kiếp không được trông thấy, nghe biết về tên hiệu Tam bảo, cũng như những người mù kia không trông thấy ánh sáng mặt trời vậy. Nếu có chúng sinh cung kính Như Lai, ưa thích pháp Đại thừa, tôn trọng Tam bảo, nên biết là người ấy nghiệp chướng được tiêu trừ, phước đức, trí tuệ tăng trưởng, căn lành thành tựu, chóng được thấy Phật, ĺa hẳn sinh tử và sẽ chứng được đạo quả Bồ đề.

        Các vị thiện nam, như một Phật bảo có vô lượng Phật, thời Như Lai nói về Pháp bảo cũng thế, nghĩa là trong một Pháp bảo cũng có vô lượng nghĩa.

        Này thiện nam, trong Pháp bảo có bốn loại: Một là giáo pháp. Hai là lư pháp. Ba là hành pháp. Bốn là quả pháp. Tất cả những thanh, danh cú, văn thuộc pháp vô lậu, nhằm phá tan vô minh cùng phiền năo, nghiệp chướng, gọi là Giáo pháp. Các pháp hữu vi, vô vi gọi là Lư pháp. Các hành về Giới, Định, Tuệ gọi là Hành pháp. Tạo được diệu quả vô vi th́ gọi là Quả pháp. Bốn pháp như thế là Pháp bảo, dẫn dắt chúng sinh ra khỏi biển sinh tử, đến bờ Niết bàn.

        Này thiện nam, Thầy chư Phật tức là Pháp bảo. Sở dĩ như thế là sao? Chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai do dựa vào pháp tu hành, mà dứt được tất cả chướng ngại, thành Bồ đề, cho đến tận cùng thuở vị lai luôn đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Do nhân duyên ấy, Như Lai trong ba đời thường cúng dường các Pháp bảo Ba-la-mật nhiệm mầu, huống chi là tất cả chúng sinh trong ba cơi chưa được giải thoát, há không cung kính Pháp bảo vi diệu!

        Này thiện nam, kiếp xưa Ta từng làm vị Nhân vương cầu pháp, phải gieo ḿnh vào trong hầm lửa lớn để cầu chánh pháp, mới dứt hẳn được sinh tử và chứng được Đại Bồ đề. Thế nên, Pháp bảo phá tất cả lao ngục sinh tử, cũng như Kim cang có thể hủy hoại muôn vật khác. Pháp bảo soi sáng chúng sinh tăm tối như mặt trời soi sáng thế giới. Pháp bảo cứu giúp chúng sinh nghèo thiếu như ngọc Ma-ni hóa hiện mọi của báu. Pháp bảo đem lại cho chúng sinh sự vui mừng cũng như tiếng trống cơi trời làm vui chư Thiên. Pháp bảo làm bậc thềm báu cho chư Thiên, v́ nghe chánh pháp nên được sinh vào cơi trời. Pháp bảo là chiếc thuyền lớn bền vững vượt qua bể sinh tử đến bờ Niết bàn. Pháp cũng như Chuyển luân thánh vương, trừ giặc phiền  năo ba độc. Pháp bảo là y phục đẹp quư, che phủ sự không thẹn của các chúng sinh. Pháp bảo cũng như giáp trụ Kim cang, phá bốn loại ma, chứng đạo Bồ đề. Pháp bảo cũng như gươm trí tuệ sắc, cắt đứt sinh tử, thoát khỏi mọi ràng buộc. Pháp bảo chính là xe báu của Ba thừa, chuyên chở chúng sinh ra khỏi nhà lửa. Pháp bảo cũng như tất cả đèn sáng, soi sáng nơi ba đường tối tăm. Pháp bảo cũng như cung, tên, giáo, mác, trấn giữ cơi nước, dẹp tan oán địch. Pháp bảo cũng như bậc Đạo sư nơi đường hiểm, khéo dẫn dắt chúng sinh đạt đến chốn chứa nhiều châu báu.

        Này thiện nam, Như Lai trong ba đời nói ra diệu pháp, có những sự khó nghĩ bàn như thế, nên gọi là ân “Pháp bảo không thể nghĩ bàn được”.

        Này các thiện nam, thế gian, xuất thế gian có ba hạng Tăng:  Một là Bồ tát tăng. Hai là Thanh văn tăng. Ba là Phàm phu tăng.

        Như các ông Văn Thù Sư Lợi, Di lặc... là Bồ tát tăng.

        Như các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… là Thanh văn tăng.

        Và như có các vị phàm phu chân thiện, thành tựu Biệt giải thoát giới cho đến những vị đạt đầy đủ tất cả chánh kiến, thường rộng răi v́ chúng sinh diễn thuyết, khai thị mọi pháp của Thánh đạo, đem lại lợi lạc cho chúng sinh, gọi là Phàm phu tăng. Tuy rằng các vị ấy chưa được Giới, Định, Tuệ, Giải thoát vô lậu, nhưng cúng dường các vị ấy cũng được phước đức vô lượng. Ba hạng Tăng như thế gọi là Phúc điền tăng đích thực.

        Lại có một hạng gọi là Phúc điền tăng. Hạng này đối với xá lợi Phật, h́nh tượng Phật cùng các Pháp, Tăng, các giới Thánh chế, sinh tâm kính tín sâu xa; tự nơi ḿnh không có tà kiến và làm cho người khác cũng thế. Lại hay tuyên thuyết chánh pháp, tán thán Nhất thừa, tin tưởng sâu xa nhân quả, thường phát nguyện làm điều thiện, tùy theo lỗi ḿnh phạm, mà ăn năn dốc dứt trừ nghiệp chướng. Nên biết sức tin Tam bảo của người ấy, hơn các ngoại đạo gấp trăm ngàn vạn lần và cũng hơn cả bốn loại Chuyển luân thánh vương, huống chi là các loại khác trong tất cả chúng sinh. Như hoa Uất-kim tuy héo úa nhưng c̣n hơn tất cả các loài tạp hoa khác. Tỳ kheo có chánh kiến cũng thế, hơn chúng sinh khác gấp trăm ngàn vạn lần. Tuy rằng vị ấy hủy phạm giới cấm, nhưng không hoại chánh kiến, do nhân duyên ấy nên gọi là Phúc điền tăng. Nếu các thiện nam, thiện nữ nào cúng đường các vị Phúc điền tăng như thế, được phước đức không cùng tận như cúng dường ba hạng Chân thực Tăng bảo trước được công đức như thế nào, thời ở đây đạt được công đức cũng bằng thế không khác. Bốn hạng Thánh, Phàm Tăng như vậy đă đem lại lợi lạc cho chúng sinh thường không hề gián đoạn, nên gọi là ân “Tăng bảo không thể nghĩ bàn được”.

        Bấy giờ, năm trăm vị Trưởng giả bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay, chúng tôi nghe pháp âm của Phật, được hiểu sự lợi ích của Tam bảo tại thế gian. Song, nay chúng tôi không biết do nghĩa ǵ mà nói Phật, Pháp, Tăng được gọi là bảo? Kính xin Phật giải thuyết, bày tỏ cùng chúng hội, cùng tất cả chúng sinh đời mai sau kính tín Tam bảo, dứt hẳn mọi mối ngờ vực, có được ḷng tin bền chắc, làm cho họ vào được bể bất tư nghị cửa Tam bảo!

        Đức Phật bảo các ông Trưởng giả:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Các vị thiện nam đă có thể hỏi Như Lai về những diệu pháp rất sâu xa như thế, tất cả chúng sinh đời mai sau sẽ được lợi ích yên vui nhiều lắm! Ví như ngọc báu bậc nhất của thế gian có đầy đủ mười nghĩa, làm trang nghiêm cơi nước, đem lại lợi ích cho chúng sinh, thời Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế:

        -Bền chắc: như ngọc Ma-ni không ai có thể phá được; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng như vậy: ngoại đạo, Thiên ma không thể phá được.

        -Không nhơ: ngọc báu hơn hết của thế gian luôn thanh tịnh trong sáng không lẫn chút bụi nhơ; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế, đều xa ĺa những phiền năo bụi bặm cấu nên.

        -Cho vui: như b́nh Thiên đức, thường cho chúng sinh an vui; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng như vậy, có thể đem đến cho chúng sinh an vui trong thế gian và xuất thế gian.

        -Khó gặp: như ngọc báu tốt lành, hiếm có, khó được, Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế, chúng sinh nhiều nghiệp chướng ức kiếp cũng khó gặp được.

        -Có khả năng phá hủy: như ngọc báu Như ư có khả năng phá tan sự nghèo cùng của con người; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng vậy, phá tan những sự nghèo khổ của chúng sinh trong thế gian.

        -Uy đức: như vị Chuyển luân vương có cỗ xe báu, hay dẹp yên oán địch; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế, đủ sáu pháp thần thông, luôn hàng phục bốn loại ma.

        -Măn nguyện: như ngọc Ma-ni tùy tâm mong cầu, sẽ hóa hiện dồi dào mọi thứ của báu; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng vậy, hay làm thỏa măn những chúng sinh muốn tu tập nguyện theo nẻo thiện.

        -Trang nghiêm: như ngọc báu thế gian trang nghiêm vương cung; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế, trang nghiêm cung báu Bồ đề của bậc Pháp vương.

        -Tối diệu: như diệu bảo nơi cơi trời vô cùng vi diệu; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế, vượt trên các diệu bảo tối thắng của thế gian.

        -Bất biến: ví như vàng thực vào lửa không hề biến đổi; Phật, Pháp, Tăng bảo cũng thế, tám thứ gió của thế gian không thể lay động được.

        Phật, Pháp, Tăng bảo đầy đủ vô lượng thần thông biến hóa, đem lại lợi ích cho chung sinh, từng không có khi nào dừng nghỉ. V́ những nghĩa ấy nên chư Phật, Pháp, Tăng được gọi là “Bảo”. Này các thiện nam, Ta v́ các ông mà nói qua về bốn nơi có ân của thế gian, xuất thế gian như trên để các ông hiểu. Các ông nên biết: “Tu hạnh Bồ-tát cần phải trả bốn ân như thế!”.

        Khi ấy, năm trăm vị Trưởng giả bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, bốn ân như thế rất là khó trả, vậy nên tu hạnh ǵ để trả được những ân ấy?

        Đức Phật bảo các vị Trưởng giả:

        -Này các thiện nam, người v́ cầu đạo Bồ đề cần phải có tâm tu về ba bậc của mười pháp Ba-la-mật: Một là mười pháp Bố thí ba-la-mật-đa. Hai là mười pháp Thân cận ba-la-mật-đa. Ba là mười pháp Chân thực ba-la-mật-đa. Nếu có các thiện nam, thiện nữ nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thường đem bảy thứ châu báu đầy ngập Tam thiên đại thiên thế giới, bố thí cho vô lượng chúng sinh nghèo cùng nhưng bố thí như thế chỉ gọi là Bố thí ba-la-mật-đa, chứ không được gọi là Chân thực ba-la-mật-đa.

Nếu có các thiện nam, thiện nữ nào phát tâm đại bi, v́ cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, đem thê tử ḿnh bố thí cho người khác, tâm không tiếc lẫn; thân, thịt, tay, chân, đầu, mắt, tủy, năo, cho đến thân mạng, đem bố thí cho người lại xin nhưng bố thí như thế mới chỉ gọi là Thân cận ba-la-mật-đa, chứ chưa được gọi là Chân thực ba-la-mật- đa.

        Nếu các thiện nam, thiện nữ nào phát khởi tâm Vô thượng Đại Bồ đề, trụ nơi Vô sở đắc, khuyên các chúng sinh đồng phát tâm ấy, đem pháp chân thực bằng một bài kệ bốn câu bố thí cho một chúng sinh, làm cho họ hướng về đạo Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, thế mới gọi là Chân thực ba-la-mật-đa. Hai bậc bố thí trước chưa gọi là báo ân được, nếu thiện nam, thiện nữ nào tu bậc thứ ba: Chân thực ba-la-mật-đa như thế, mới gọi là chân thực báo đáp bốn ân. Sở dĩ thế là sao? Hai bậc bố thí trước c̣n có tâm Sở đắc, bậc bố thí thứ ba tâm là Vô sở đắc, đem pháp chân thực bố thí cho một chúng sinh, khiến phát tâm Vô thượng Đại Bồ đề, sau này khi người ấy chứng được đạo quả Bồ đề, rộng độ chúng sinh vô cùng tận, nối tiếp hạt giống Tam bảo không đoạn tuyệt, do nhân duyên ấy nên gọi là Báo ân.

        Lúc ấy, năm trăm vị Trưởng giả, theo Phật nghe được pháp Báo ân từ xưa tới nay chưa được nghe bao giờ ấy, tâm sinh hớn hở, cho là được sự chưa từng có, các ông liền phát tâm hướng cầu đạo quả Vô thượng Bồ đề, được pháp tam muội Nhẫn nhục, chứng nhập trí tuệ bất tư nghị, măi măi không thoái chuyển.

        Khi đó, tám vạn bốn ngàn chúng sinh trong pháp hội phát tâm Bồ đề, được ḷng tin kiên cố và cũng được pháp Tam muội ấy; đại chúng trong hải hội đều được pháp tam muội Kim cang nhẫn nhục, ngộ các pháp Nhẫn vô sinh và nhu thuận, hoặc chứng Sơ địa được pháp Nhẫn bất khởi. Vô lượng chúng sinh đều phát tâm Bồ đề, ở ngồi Bất thoái.

        Đức Phật bảo năm trăm vị Trưởng giả:

        -Tất cả chúng sinh trong đời vị lai nếu nghe được phẩm Tâm Địa Quán Báo Bốn Ân này, thọ tŕ, đọc tụng, tu tập, nêu bày, giảng nói, viết chép, truyền bá xa rộng, th́ những người ấy phước đức, trí tuệ được tăng thêm, chư Thiên hộ vệ, hiện thân không đau yếu, thọ mạng lâu dài; khi mạng chung được sinh lên nội cung của Đức Di-lặc, trông thấy tướng bạch hào của Ngài liền siêu việt nẻo sinh tử, trong ba hội Long hoa sẽ được giải thoát và tùy ư văng sinh trong mười phương Tịnh độ, thấy Phật, nghe pháp, vận Chánh định tụ chóng thành trí tuệ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai.

Quyển 2Hết

KINH ĐẠI THỪA BẢN SINH TÂM ĐỊA QUÁN

Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Bát-nhă, người nước Kế tân

Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Quyển 3

PHẨM 2: BÁO ÂN

Phần 2

        Bấy giờ, về phía Đông bắc đại thành Vương xá cách tám mươi do tuần có một nước nhỏ tên là Tăng trưởng phúc. Trong nước ấy có một ông Trưởng giả tên là Trí Quang, tuổi nhiều, già yếu, chỉ có một con, mà người con ấy tánh t́nh ác nghịch, không thuận cha mẹ, cha mẹ răn dạy ǵ đều không theo lời. Ông Trưởng giả xa nghe Đức Phật Thích Ca Mâu ni Như Lai ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành Vương-xá, v́ vô lượng chúng sinh trong cơi đời xấu ác, nhơ đục, nêu giảng về pháp Báo ân của Đại thừa. Khi ấy, cả cha mẹ và con cùng mọi người quyến thuộc của ông v́ muốn nghe pháp, nên đem các đồ cúng đến nơi Phật, cung kính cúng dường Phật.

        Cúng dường rồi ông Trưởng giả liền bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, con có một người con, tánh nó ác tệ quá, không chịu nghe lời khuyên răn của cha mẹ. Nay con nghe thấy Phật giảng dạy về việc báo đáp bốn ân, con v́ muốn nghe pháp nên lại nơi Phật, kính xin Đức Thế Tôn v́ chúng con cùng các người trong quyến thuộc chỉ dạy rơ về nghĩa lư sâu xa, nhiệm mầu của bốn ân, khiến đứa con tệ ác của con sinh tâm hiếu thuận, đời nay, đời sau sẽ được sự an lạc.

Đức Phật bảo ông Trí Quang:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Ông v́ pháp nên đến chỗ Ta, cúng dường cung kính và muốn nghe pháp ấy, vậy các ông nên nghe cho kỹ và nhớ nghĩ cho khéo! Nếu có các thiện nam, thiện nữ nào phát tâm Bồ đề, muốn nghe các pháp quan trọng, khi cất chân, đặt chân xuống đất, tùy theo số lượng bụi nhỏ của đường đất đi xa hay gần mà do nhân duyên ấy, người đó cảm được Kim luân của Chuyển luân thánh vương, khi phước báo của Thánh vương hết, được làm Thiên vương trong Dục giới; khi phước báo của Thiên vương trong Dục giới hết, được làm Phạm thiên vương, được thấy Phật, nghe pháp và chóng chứng được đạo quả vi diệu. Đại trưởng giả cùng những người khác đi với ông v́ cầu pháp nên đến chỗ Ta, tính ra như thế là phải đi qua tám mươi do tuần đại địa vi trần, mỗi một số vi trần ấy sẽ tạo được những cảm ứng theo những quả báo về trời, người, Luân vương. Và được nghe pháp rồi, đời sau sẽ chứng đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

        Tuy trước Ta đă nói về nghĩa lư sâu xa, nhiệm mầu của bốn ân, nay v́ các ông, Ta nêu lại nghĩa ấy, bằng lời kệ sau này:

Tối thắng Pháp vương, Đại Thánh chủ

Tất cả trời, người chẳng thể sánh

Trang nghiêm thân bằng mọi tướng tốt

Bể trí như hư không vô lượng.

Hạnh lợi tự, tha đều viên măn

Tiếng khen đồn khắp trong các cơi

Dứt hẳn phiền năo cùng tập khí

Khéo tŕ mật hạnh, giữ mọi căn.

Một trăm bốn mươi đức “bất cộng”

Bể phước rộng lớn đều tràn trề

Chánh định, thần thông đầy đủ cả

Thường an vui “Tám cung tự tại”.

Trời, người, ngoại đạo trong mười phương

Không ai “năng nan” như Điều Ngự

Miệng vàng nói biện tài vô ngại

Tuy không ai hỏi mà tự nói.

Ví như thủy triều không sái thời

Cũng như trống trời hợp ḷng trời

Tự tại như thế chỉ có Phật

Ngữ thông tiên, Ma, Phạm chẳng được.

Trải vô số kiếp tu hạnh nguyện

Chứng được đại thần thông như thế

Trong cơi đại tịch Ta nhập định

Quán sát các căn và bệnh, thuốc.

Tự ra thiền định mà tán thán:

“Ba đời Phật pháp Tâm địa môn”

Các vị Trưởng giả liền thoái tâm

Chỉ ưa hạnh Nhị thừa tự lợi.

Ta mở pháp đại trí phương tiện

Dấn vào cửa giải thoát “Tam không”

Diệu lư Như Lai chẳng thể lường

Chỉ Phật biết được chân bí mật.

Thanh văn lợi can và Độc giác

Bồ tát cần cầu ngôi bất thoái

Mười hai kiếp số cùng so lường

Không có ai biết được phần nhỏ.

Giả sử phàm, Thánh trí mười phương

Trao cho một người làm bậc trí

Bậc trí như thế giống rừng trúc

Không thể so lường được phần nhỏ.

Thế gian phàm phu không mắt tuệ

Mê nơi ân đức mất diệu quả

Chúng sinh trong đời năm ác trược

Không hiểu ân sâu thường trái đức.

Ta v́ khai thị về bốn ân

Khiến vào chánh kiến Bồ đề đạo

Cha lành mẹ hiền, ân trưởng dưỡng

Tất cả trai, gái đều yên vui.

Ân cha lành cao hơn núi lớn

Ân mẹ hiền sâu như biển cả

Nếu ta ở đời trong một kiếp

Nói ân mẹ hiền không hết được.

Ta nay nói qua một phần nhỏ

Như ruồi, muỗi uống nước biển sâu:

Giả sử có người v́ phước đức

Cúng dường Bà-la-môn tịnh hạnh

Vị ngũ thông thần tiên tự tại

Sư trưởng đại trí cùng bạn lành

Nhà cửa trang hoàng toàn bảy báu

Pḥng ốc bằng gỗ hương Chiên-đàn

Đồ nằm trăm báu bày trải khắp

Mỹ vị thế gian như cam lộ,

Cùng các thuốc men chữa muôn bệnh

Vật dụng đều chứa đầy vàng bạc.

Cúng dường như thế ngày ba thời

Cho đến đủ số một trăm kiếp

Không bằng một niệm tỏ chút phần

Cứng dường mẹ hiền ruộng ân lớn

Phước đức vô biên không thể lường

Tính toán, thí dụ không sánh kịp.

Mẹ hiền thế gian có mang con

Mười tháng mang thai chịu khổ nhiều

T́nh không tham đắm năm dục lạc

Tùy thời ăn uống cũng đồng thế

Ngày đêm thường mang ḷng thương xót

Đi, đứng, ngồi, nằm chịu mọi khổ.

Ngay lúc sinh con khỏi bào thai

Như góp mũi nhọn rạch thân thể

Mê cảm Đông, Tây không phân biệt

Khắp ḿnh đau đớn không chịu nổi

Hoặc nhân nạn ấy mà mất mạng

Họ hàng quyến thuộc đều buồn bă

Mọi khổ như thế đều v́ con

Lo, buồn thống thiết nói sao cùng.

Nếu được mạnh khỏe thân yên vui

Như nghèo được ngọc mừng khôn tả

Đoái nh́n mặt con không biết chán

Tâm thương nhớ con không chút rời.

Ân t́nh mẫu tử thường như thế

Ra vào không rời con trước ngực

Sữa mẹ như nước suối cam lộ

Nuôi dưỡng kịp thời không lúc cạn.

Ân nơi từ niệm thực khó ví

Công đức nuôi nấng cũng khó lường

Ở đời đại địa gọi là nặng

Ân mẹ hiền nặng hơn đất kia

Trên đời Tu di gọi là cao

Ân mẹ hiền cao hơn núi đó,

Ở đời nhanh nhất có gió lốc

Nhưng ḷng mẹ hiền c̣n trội hơn.

Nếu có chúng sinh chẳng hiếu thuận

Khiến mẹ tạm thời khởi tâm hận

Thốt lời oán niệm chỉ phần nhỏ

Con theo lời ấy bị khổ nạn.

Chư Phật cùng các thần Kim cang

Bí pháp thần tiên không cứu được.

Nếu có trai gái nghe mẹ dạy

Vâng làm, nhan sắc không hề trái

Tất cả tai nạn đều tiêu trừ

Chư Thiên độ hộ thường an lạc.

Nếu hay thừa thuận theo mẹ hiền

Những nam, nữ ấy khác kẻ phàm

Bồ tát ḷng từ hóa nhân gian

Thị hiện báo ân mọi phương tiện.

Nếu có thiện nam và thiện nữ

V́ báo ân mẹ nên hiếu dưỡng.

Cắt thịt, trích huyết thường cung cấp

Như thế đủ số trong một kiếp

Mọi thứ cần tu trong đạo hiếu

C̣n chưa báo được ân tạm thời

Mười tháng con ở trong thai mẹ

Thường ngậm cuống vú uống thai huyết

Từ khi là con nít, trẻ thơ

Uống hơn trăm hộc sữa của mẹ

Ăn uống, thuốc thang, y phục đẹp

Con trước, mẹ sau đó lệ thường.

Con nếu ngu si bị người ghét

Mẹ cũng thương nhớ không hề bỏ

Xưa, có người nữ bế con ḿnh

Lội qua sông Hằng nước chảy mạnh

Sức khó vượt qua v́ nước ngập

Mẹ chết cùng con không nỡ bỏ.

V́ sức thiện căn niệm lành ấy

Mạng mất được sinh lên Phạm thiên

Hưởng vui chánh định nơi cơi Phạm

Được gặp Như Lai nhận Phật kư.

Thế nên mẹ hiền có mười đức

Tùy hợp nghĩa lợi đặt ra tên:

Một là đại địa; hai, năng sinh;

Ba là năng chánh; bốn, dưỡng dục;

Năm, cho trí tuệ; sáu, trang nghiêm;

Bảy là an ổn; tám dạy, trao;

Chín là giáo giới; mười, cho của.

Ân khác không hơn ân đức mẹ.

Pháp ǵ ở đời là rất giàu?

Pháp ǵ ở đời là rất nghèo?

Mẹ c̣n tại nhà là rất giàu

Mẹ đă khuất bóng là rất nghèo.

Khi mẹ c̣n, là mặt trời ngọ

Khi mẹ mất, là mặt trời lặn

Khi mẹ c̣n, thảy đều đầy đủ,

Khi mẹ mất, thảy đều rỗng không.

Tất cả hàng Thiện nam ở đời

Ân cha mẹ nặng như g̣, núi

Hiếu kính cần phải luôn ở ḷng

Biết ân, trả ân là Thánh đạo.

Không tiếc thân mạng dâng đồ ngon

Chưa từng một niệm thiếu sắc dưỡng

Như khi cha mẹ bỗng mất đi

Dù muốn báo ân thật chẳng kịp.

Phật xưa tu hành v́ từ mẫu

Cảm được tướng tốt sắc thân vàng

Tiếng lành vang dội khắp mười phương

Tất cả người, trời đều đảnh lễ

Nhân và Phi nhân thảy cung kính

Từ duyên xưa trước báo từ ân.

Ta đă lên cung trời Đao-lợi

Ba tháng, v́ mẹ nói pháp mầu

Khiến mẹ lănh hội, quy chánh đạo

Ngộ “Nhẫn vô sinh” thường không thoái

Như thế đều là báo bi ân

Tuy báo ân sâu vẫn chưa đủ.

Ngài Mục-Liên Thần thông đệ nhất,

Dứt hết phiền năo trong ba cơi

Dùng sức thần thông xem từ mẫu

Thấy đang chịu khổ trong ngạ quỷ.

Mục-Liên tự đi trả ân mẹ

Cứu thoát từ thân nơi thọ khổ

Sinh lên các cơi trời Tha hóa

Cùng được an vui nơi Thiên cung.

Nên biết ân cha mẹ rất sâu

Chư Phật, Thánh hiền đều báo đức.

Nếu ai chí tâm cúng dường Phật

Hoặc tâm tinh cần tu hiếu dưỡng

Phước hai người ấy không sai khác

Ba đời hưởng báo cũng vô cùng.

Người đời, làm con tạo ác tội

Sa ba ngả ác chịu khổ măi

Người chưa chứng Thánh, không thần thông

Không thấy luân hồi, khó báo được.

Thương thay người đời không Thánh lực

Không hay cứu gỡ cho mẫu hiền!

Do nhân duyên ấy, ông nên biết

Dốc tu phúc lợi công đức tốt:

Đem ngay thắng đức nơi nam, nữ,

Có đại kim quang soi địa ngục.

Trong hào quang diễn tiếng thâm diệu

Khai ngộ cha mẹ mở tâm ư.

Nhớ thuở xưa kia thường tạo tội

Một niệm tâm hối đều trừ diệt.

Miệng niệm: “Nam mô Tam thế Phật”

Thân khổ nạn, ràng buộc, được thoát

Sinh lên trời, người, hưởng vui măi

Thấy Phật, nghe Pháp, sẽ thành Phật.

Hoặc sinh Tịnh độ tại mười phương

Hoa sen bảy báu là cha mẹ

Hoa nở thấy Phật ngộ Vô sinh

Bồ tát Bất thoái là đồng học.

Được sáu thần thông, lực tự tại

Được vào cung Bồ đề vi diệu

Bồ tát đều là các nam, nữ

Nương nguyện lực lớn hóa nhân gian.

Thế là thực báo ân cha mẹ

Các ông, chúng sinh cùng tu học!

Chúng sinh luân hồi sinh sáu nẻo

Cũng như bánh xe không sau, trước

Hoặc là cha mẹ, là trai, gái

Đời đời, kiếp kiếp ân lẫn nhau

Như thấy cha mẹ... không khác chi

Không chứng Thánh trí, do đâu biết

Tất cả nam tử đều là cha

Tất cả nữ nhân đều là mẹ

Ân đời trước thế chưa trả xong

Lại sinh niệm khác thành oán ghét!

Thường nên báo ân, ích lẫn nhau

Không nên đánh mắng thành hiềm oán

Nếu muốn tu thêm nẻo phước trí

Ngày đêm sáu thời nên phát nguyện:

Nguyện con đời đời vô lượng kiếp

Được Túc trụ trí đại thần thông

Biết được trăm ngàn kiếp quá khứ

Lại nhớ biết nhau là cha mẹ.

Xoay vần sáu cơi, bốn loài sinh

Cho con một niệm đến nơi ấy

V́ nói diệu pháp, ĺa nhân khổ

Trong trời, người, thọ hưởng vui măi.

Khuyên phát nguyện Bồ đề kiên cố

Tu hành sáu độ của Bồ tát

Dứt hẳn hai nhân nơi sinh tử

Chóng chứng Niết bàn Vô thượng đạo.

Mười phương tất cả các quốc vương

Chánh pháp giáo hóa là Thánh chủ

Phước đức quốc vương là tối thắng.

Việc làm tự tại gọi là “Thiên”

Vua trời Đao lợi và trời khác

Thường đem phước lực giúp trị v́

Chư Thiên ủng hộ như con một

V́ thế được gọi là “Thiên tử”.

Thế gian cho vua là cội gốc

Là chỗ nhân dân tất cả nương

Cũng như nhà cửa của thế gian

Cột là cội gốc, dựng nên được.

Vua dùng chánh pháp hóa nhân dân

Giả như Phạm vương sinh muôn vật

Vua làm phi pháp không chánh lư

Như Diễm-ma vương diệt thế gian.

Nếu vua dung nạp kẻ gian tà

Khác nào voi giày xéo ao hoa

Đừng bảo do gặp đời ác, đục

Nên biết thiện, ác do vua tu

Như mặt trời soi sáng thế gian

Quốc vương dạy đời cũng như thế

Mặt trời, đêm tuy không chiếu tới

Nhưng khiến chúng sinh được an lạc.

Vua đem phi pháp ra dạy đời

Tất cả nhân dân không tin cậy

Thế gian có những sự sợ hăi

Nhưng nhờ phúc vua không dấy sinh

Thành ra nhân dân được an lạc

Như thế là phúc vua soi tới.

Thế gian có những hoa rất đẹp

Nhờ phức nhà vua mà nở tỏa,

Thế gian có những rừng, vườn đẹp

Nhờ phúc nhà vua đều tươi tốt,

Thế gian có những cây cỏ thuốc

Nhờ phúc nhà vua khỏi các bệnh,

Thế gian trăm thứ lúa, hoa màu

Nhờ phúc nhà vua đều thành hạt,

Nhân dân trên đời hưởng vui sướng

Nhờ phúc nhà vua thường tự nhiên.

Ví như Trưởng giả có một con

Trí tuệ đoan nghiêm đời không sánh

Cha mẹ yêu mến như con mắt

Ngày đêm thường sinh tâm hộ niệm.

Thánh vương trong nước cũng như thế

Nhớ mến chúng sinh như con một

Nuôi nấng người già, giúp cô độc

Tâm dù thưởng, phạt nhưng thường một.

Nhân vương như thế là Thánh chủ

Mọi loài tín ngưỡng như Như Lai

Nhân vương trị nước không tai biến

Muôn họ kính, chăm thường an ổn.

Vua không đem pháp chánh dạy đời

Bệnh tật lây lan hại chúng sinh

Như thế tất cả Nhân, Phi nhân

Tội, phúc rơ ràng không che được.

Trong pháp thiện, ác chia bảy phần

Người tạo được năm, vua được hai

Nhà cửa, ruộng, vườn, rừng đều thế

Thuế má phân chia cũng như vậy.

Chuyển luân thánh vương khi xuất hiện

Chia làm sáu phần vua được một

Nhân dân khi ấy được năm phần

Nghiệp báo thiện, ác cũng đều thế.

Nếu có Nhân vương tu chánh kiến

Như pháp dạy đời là “Thiên chủ ”

Do dựa pháp trời mà dạy đời

Tỳ-sa-môn vương thường ủng hộ.

Ba cơi trời khác, chúng La-sát

Đều sẽ ǵn giữ Thánh vương cung.

Thánh vương ra đời sửa sang nước

Lợi ích chúng sinh thành mười đức:

Một là soi sáng trong quốc giới

Hai là trang nghiêm cho quốc độ

Ba là thường cho sự yên vui

Bốn là hàng phục các oán địch

Năm là cấm ngăn mọi sợ hăi

Sáu là tập hợp các Thánh hiền

Bảy là căn bản của mọi pháp

Tám là hộ tŕ cho thế gian

Chín là thường làm công tạo hóa

Mười là chủ nhân dân, đất nước.

Nếu vua thành tựu mười thắng đức

Phạm vương, Đế Thích và chư Thiên

Dạ xoa, La sát, Quỷ thần vương

Ẩn ḿnh thường lại hộ đất nước,

Long vương hoan hỷ tuôn mưa ngọt

Lúa thóc được mùa muôn họ yên,

Khắp nơi trong nước sinh châu báu

Người, ngựa sức mạnh, không oán địch,

Ngọc báu Như ư hiện trước vua

Các vua cơi ngoài tự triều phục.

Ai sinh tâm ác với quốc vương

Một niệm khởi tâm thành mọi ác

Người ấy mạng chung đọa địa ngục

Chịu khổ nhiều kiếp khó hẹn ra.

Nếu dốc ḷng thành chăm giúp vua

Chư Thiên hộ niệm thêm phước lộc.

Trưởng giả Trí Quang, ông nên biết:

Tất cả Nhân vương do nghiệp cảm

Các pháp đều do nhân duyên thành

Nếu không nhân duyên không các pháp.

Nói không sinh thiên và cơi ác

Những người như thế không hiểu nhân

Không nhân, không quả: đại tà kiến

Không biết tội, phước sinh vọng chấp.

Nay vua được hưởng mọi phước vui

Xưa kia từng giữ ba tịnh giới

Giới đức huân tu chiêu cảm tới

Diệu quả trời, người, được thân vua.

Nếu người phát khởi tâm Bồ đề

Nguyện lực giúp thành quả Vô thượng

Giữ bền giới tịnh trong thượng phẩm

Đi, ở tự tại làm Pháp vương;

Thần thông biến hóa khắp mười phương

Tùy duyên giúp hết cả muôn loại.

Trung phẩm thọ tŕ Bồ tát giới

Phước đức tự tại Chuyển luân vương

Tùy tâm làm ǵ đều nên cả

Vô lượng trời, người đều tuân phụng.

Hạ thượng phẩm tŕ: Đại quỷ vương

Tất cả phi nhân đều theo phục

Thọ tŕ giới phẩm tuy khuyết phạm

Nhưng do giới thắng được làm vua.

Hạ trung phẩm tŕ: cầm thú vương

Tất cả chim muôn đều quỵ phục

Trong giới thanh tịnh có khuyết phạm

Nhưng do giới thắng được làm vua.

Hạ hạ phẩm tŕ: Diễm-ma vương

Ở trong địa ngục thường tự tại

Tuy hủy giới cấm sinh nẻo ác

Nhưng do giới thắng được làm vua.

Do v́ nghĩa ấy các chúng sinh

Nên thọ Bồ tát thanh tịnh giới

Hăy giữ ǵn khéo không khuyết phạm

Tùy chỗ sinh ra làm Nhân vương.

Nếu người không thọ giới Như Lai

C̣n không được thân con cáo đồng

Huống là quả cảm trong trời, người

Ngôi vua hưởng mọi vui sướng

Thế nên làm vua phải tạo “nhân”

Giới nghiệp tinh, siêng, thành diệu quả.

Quốc vương chánh là chủ muôn dân

Lành thương như mẹ nuôi con nhỏ

Như thế Nhân vương có ân lớn

Tấm ḷng dưỡng nuôi khó báo được.

V́ nhân duyên ấy, các chúng sinh

Nếu tu chứng được Đại Bồ đề

Đối với chúng sinh khởi đại bi

Nên thọ Như Lai tam tụ giới.

Nếu muôn như pháp mà thọ giới

Cần nên sám hối tội tiêu diệt.

Nguyên nhân khởi tội có mười duyên:

Thân ba, miệng bốn và ư ba

Sinh tử vô thỉ, tội vô cùng

Bể lớn phiền năo sâu không đáy.

Nghiệp chướng cao vót như Tu di

Tạo nghiệp do nhân hai thứ khởi.

Tức là Hiện hành và Chủng tử

Tạng thức giữ, duyên Nhất thiết chủng.

Như bóng theo h́nh không rời thân

Trong tất cả thời chướng Thánh đạo

Gần, chướng diệu quả của trời, người

Xa, chướng Vô thượng Bồ đề quả

Tại gia thường gắn nhân phiền năo

Xuất gia th́ phá giới thanh tịnh.

Nếu ai như pháp mà sám hối

Bao nhiêu phiền năo đều trừ diệt

Cũng như kiếp lửa hoại thế gian

Đốt sạch Tu di và biển cả.

Sám hối, đốt sạch củi phiền năo

Sám hối, thường sinh lên đường trời

Sám hối, được vui nơi Tứ thiền

Sám hối, mưa báu ngọc Ma ni

Sám hối, thân Kim cang thêm thọ

Sám hối, được vào cung “Thường lạc”

Sám hối, ra khỏi ngục ba cơi

Sám hối, nở ra hoa Bồ đề

Sám hối, thấy Đại viên cảnh Phật

Sám hối, đến được chốn “Bảo sở”.

Nếu y như pháp mà sám hối

Nên nương hai pháp Quán môn tu:

Một là Quán sự diệt tội môn

Hai là Quán lư diệt tội môn.

Quán sự diệt tội lại chia ba:

Thượng, trung, hạ căn là ba phẩm.

Nếu có thượng căn cầu giới tịnh

Phát đại tinh tấn tâm không lùi

Thương khóc rơi lệ thường dốc khẩn

Ai cảm khắp ḿnh đều ửng huyết

Luôn nghĩ đến thập phương Tam bảo

Cùng các chúng sinh trong sáu đường

Quỳ dài, chắp tay tâm an định,

Gột tâm phát lộ cầu sám hối:

"Kính xin thập phương Tam thế Phật

Lấy đại từ bi thương xót con

Con măi luân hồi không chỗ nương

Sinh tử đêm dài thường chẳng biết.

Con ở phàm phu đủ mọi buộc

Tâm cuồng điên đảo, lăng xăng khắp

Con ở trong nhà lửa ba cơi

Nhiễm đắm sáu trần không cứu hộ.

Con sinh trong nhà nghèo, hạ tiện

Không được tự tại thường chịu khổ

Đầu thai nhằm cha mẹ tà kiến

Tạo tội nương theo quyến thuộc ác

Kính xin chư Phật Đại Từ Tôn

Thương xót hộ niệm như con một.

Nhất tâm sám hối, không tạo tội

Tam thế Như Lai sẽ chứng minh

Người sám hối dũng mănh như thế

Gọi là thượng phẩm cầu giới tịnh.

Như có trung căn cầu giới phẩm

Một ḷng mạnh mẽ sám mọi tội

Nghĩ ḿnh lệ ứa không ai biết

Toàn tâm bồi hồi cầu nguyện Phật:

“Giải bày nghiệp sinh tử vô thủy

Xin nước từ bi gột bụi trần

Giũ bỏ tội chướng sạch sáu căn

Cho con Tam tụ giới Bồ tát.

Con nguyện giữ vững không lui chuyển

Tấn tu, độ thoát khổ chúng sinh

Người chưa được độ, con chưa đắc

Đến thời vị lai thường không dứt”.

Như thế tinh cần, dũng mănh làm,

Không tiếc thân mạng cầu Bồ đề

Cảm tướng lạ thiên của Tam bảo

Gọi là trung phẩm đại sám hối.

Nếu có hạ căn cầu giới tịnh

Khởi phát tâm Vô thượng Bồ đề

Rơi lệ, thương khóc, lông thân rởn

Với chỗ tạo tội rất hổ thẹn

Đối trước Tam bảo khắp mười phương

Và trước chúng sinh trong sáu đường

Chí thành phát lộ từ vô thỉ.

Có những chúng sinh bị năo loạn

Khởi tâm đại bi không chướng ngại

Không tiếc thân mạng hối ba nghiệp

Những tội đă làm đều tỏ bày

Những ác chưa làm không dám tạo.

Như thế, ba phẩm sám mọi tội

Đều gọi giới Thanh tịnh đệ nhất.

Dùng nước hổ thẹn rửa bụi trần

Thân tâm đều là "thanh tịnh phẩm ”

Này các thiện nam, phải nên biết

Đă nói tịnh quán các sám hối

Trong sự, lư đó không sai biệt

Do bởi căn duyên ứng chẳng đồng.

Nếu khi tu tập quán chánh lư

Phải xa ĺa tất cả mọi tán loạn.

Mặc áo mới sạch ngồi kiết già

Nhiếp tâm, chánh niệm bỏ các duyên:

Thường quán diệu Pháp thân chư Phật

Thể tính như Không, “bất khả đắc ”

Tất cả các tội, tánh đều như

Nhân duyên điên đảo, tâm vọng khởi.

Tội tướng như thế vốn là không

Ở trong ba đời “vô sở đắc ”

Chẳng trong, chẳng ngoài, chẳng ở giữa

Tánh, tướng Như như đều không động.

Diệu lư chân như dứt danh ngôn

Chỉ có Thánh trí hay thông suốt

Chẳng “có”, chẳng “không”, chẳng “có không”

Chẳng có “có không ”, ĺa danh tướng

Thâu tóm pháp giới không sinh diệt

Chư Phật bản lai đồng một thể.

Kính xin chư Phật thùy gia hộ

Diệt được tất cả tâm điên đảo

Nguyện, con sớm ngộ nguồn chân tánh

Chóng chứng Như Lai Vô thượng đạo.

Nếu có thanh tín Thiện nam tử

Ngày đêm hay quán diệu lư Không

Tất cả tội chướng tự tiêu trừ

Thế là giữ giới tịnh trên hết.

Nếu người quán biết thực tướng Không

Hay diệt tất cả các tội trọng

Cũng như gió to thổi lửa dữ

Đốt cháy vô lượng các cỏ cây.

Các hàng Thiện nam quán chân thực

Là môn bí yếu của chư Phật.

Nếu muốn v́ người phân biệt rộng

Hạng người vô trí đừng nêu giảng.

Tất cả chúng sinh loại phàm ngu

Nghe quyết sinh nghi tâm bất tín.

Nếu có bậc trí sinh tin hiểu

Niệm niệm quán sát ngộ Chân như

Chư Phật mười phương đều hiện trước

Bồ đề diệu quả tự nhiên thành.

Các vị Thiện nam, sau Ta diệt

Những người tịnh tín trong đời sau

Theo hai quán môn thường sám hối

Nên thọ Bồ tát Tam tụ giới

Nếu muốn thọ tŕ giới thượng phẩm

Nên thỉnh Giới sư: Phật, Bồ tát,

Thỉnh Ta, Thích Ca Mâu Ni Phật

Làm vị Ḥa thượng giới Bồ tát,

Long chủng Tịnh trí tôn vương Phật

Sẽ làm tịnh giới A-xà-lê,

Đạo sư mai sau: Phật Di lặc

Sẽ làm thanh tịnh Giáo thọ sư,

Hiện tại mười phương Lưỡng Túc Tôn

Sẽ làm thanh tịnh Chứng giới sư,

Mười phương tất cả các Bồ tát

Sẽ làm bạn bè tu học giới,

Phạm, Thích, Tứ vương, Kim cang thiên

Sẽ làm chúng ngoại hộ học giới,

Phụng thỉnh Phật, Bồ tát như thế

Và các thầy truyền giới hiện tiền

V́ muốn trả khắp bốn ân sâu

Phát khởi tâm Bồ đề thanh tịnh.

Nên thọ Tam tụ giới Bồ tát:

Nhiêu ích tất cả Hữu t́nh giới

Tu nhiếp tất cả Thiện pháp giới

Tư nhiếp tất cả Luật nghi giới

Tam tụ thanh tịnh giới như thế

Như Lai ba đời đều hộ niệm.

Chúng sinh phi pháp không nghe biết

Trong vô lượng kiếp chưa nghe thấy

Chỉ có thập phương Phật quá khứ

Đă thọ tịnh giới thường hộ tŕ

Hai phiền năo chướng đoạn trừ hẳn

Chứng được quả Vô thượng Bồ đề.

Tất cả Thế Tôn đời vị lai

Giữ ǵn Tam tụ tịnh giới báu

Dứt trừ ba chướng cùng tập khí

Sẽ chứng Chánh đẳng Đại Bồ đề.

Mười phương các Thiện Thệ hiện tại

Đều tu nhân Tam tụ tịnh giới

Dứt hẳn khổ sinh tử luân hồi

Được chứng tam thân Bồ đề quả.

Siêu việt bể sinh tử sâu lớn

Tịnh giới Bồ tát là thuyền bè,

Dứt hẳn ràng buộc tham, sân, si

Tịnh giới Bồ tát là gươm bén,

Đường hiểm sinh tử các sợ hăi

Tịnh giới Bồ tát là nhà cửa,

Trừ khỏi các nhân khổ nghèo hèn

Tịnh giới thường làm ngọc Như ư,

Bị ma quỷ ốp, các tật bệnh

Tịnh giới Bồ tát là thuốc quư,

Là vua trời, người, được tự tại

Tam tụ tịnh giới là duyên tốt,

Cùng các thân vua trong bốn cơi

Tịnh giới là duyên được thắng quả.

Thế nên tụ được nhân tự tại

Sẽ được làm vua hưởng tôn quư

Trước nên lễ kính mười phương Phật

Ngày đêm tu thêm giới thanh tịnh.

Chư Phật hộ niệm thường thọ tŕ

Giới như Kim cang không phá hoại

Chư Thiên thiện thần trong ba cơi

Hộ vệ thân vua và quyến thuộc.

Tất cả oán địch đều quy phục

Muôn dân vui mừng cảm ân vua

Thế nên thọ tŕ giới Bồ tát

Cảm quả vô vi thế, xuất thế.

Tam bảo thường trụ hóa độ đời

Ân đức rộng lớn bất tư nghị

Quá, hiện, vị lai vô số kiếp

Công đức lợi sinh không dừng nghỉ.

Ngàn ánh Phật quang thường soi tỏa

Lợi ích quần sinh độ có duyên

Không duyên khó thấy Từ quang

Phật Cũng như người mù không trông thấy.

Pháp thuần một vị không biến đổi

Phật trước, Phật sau nói đều đồng

Như mưa, một vị thấm khắp cả

Cỏ cây tươi tốt, lớn, nhỏ khác.

Chúng sinh tùy căn đều giải được

Cỏ cây nhuần thấm cũng sai khác.

Bồ tát, Thanh văn độ chúng sinh

Như nước sông lớn chảy không cạn

Chúng sinh không tín, hóa không tới

Như chỗ tối tăm trời khó soi

Ánh trăng Như Lai rất trong lành

Hay trừ mọi tối cũng như thế.

Cũng như chậu úp trăng không chiếu

Chúng sinh mê hoặc cũng như thế.

Pháp bảo như cam lộ, thuốc hay

Trị được tất cả bệnh phiền năo

Người tin uống thuốc, chứng Bồ đề

Không tin tùy duyên sa đường ác.

Bồ tát, Thanh văn thường ở đời

Vô số phương tiện độ chúng sinh

Chúng sinh nếu có ḷng tin thích

Nhập ngôi an lạc của Ba thừa.

Như Lai không xuất hiện ở đời

Tất cả chúng sinh vào tà đạo

Măi ĺa cam lộ, uống thuốc độc

Ch́m đắm bể khổ không kỳ ra.

“Phật nhật ” xuất hiện ba ngàn cơi

Tỏa ánh sáng lớn chiếu đêm dài

Chúng sinh như ngủ không hay biết

Nhờ sáng được vào nhà vô vi.

Như Lai chưa nói pháp Nhất thừa

Quốc độ mười phương đều không, hư

Phát tâm tu hành thành Chánh giác

Tất cả cơi Phật đều nghiêm tịnh.

Pháp bảo Nhất thừa: mẹ chư Phật

Như Lai ba đời từ đấy sinh

Bát nhă phương tiện tu không mỏi

Thành đạo giải thoát lên diệu giác.

Nếu Phật, Bồ tát chẳng thị hiện

Chúng sinh ở đời không đạo sư

Hiểm nạn sỉnh tử không ai dẫn

Như thế làm sao đến Bảo thành?

Dùng nguyện lực lớn làm bạn lành

Thường nói diệu pháp khiến tu hành

Dốc hướng Thập địa chứng Bồ đề

Khéo vào Niết bàn chốn an lạc.

Bồ tát Đại Bi hiện ở đời

Phương tiện dẫn dắt các chúng sinh

Trong ẩn hạnh chân thực Nhất thừa

Ngoài hiện tướng Thanh văn, Duyên giác.

Độn căn trí nhỏ nghe Nhất thừa

Sợ phải phát tâm qua nhiều kiếp

Không biết ḿnh có tánh Như Lai

Chỉ vui tịch diệt, chán phiền năo.

Chúng sinh vốn có giống Bồ đề

Đều ở trong tạng thức: Lại-da

Nếu gặp bạn lành phát tâm lớn

Ba thứ rèn mài, tu diệu hạnh.

Dứt hẳn phiền năo, sở tri chướng

Chứng được thân thường trụ Như Lai

Diệu quả Bồ đề chẳng khó thành

Chân thiện tri thức thực khó gặp.

Tất cả Bồ tát tu thắng đạo

Bốn pháp trọng yếu cần nên biết:

Thân cận bạn lành là thứ nhất,

Lắng nghe chánh pháp là thứ hai,

Như lư suy lường là thứ ba,

Như pháp tu chứng là thứ tư.

Tất cả đại Thánh chủ mười phương

Tu bốn pháp ấy chứng Bồ đề.

Này các ông: Trưởng giả, hội chúng

Và Thanh tín sĩ đời vị lai,

Bốn pháp nơi Bồ tát như thế

Đó là bốn pháp hàng Bồ tát

Cần phải tu tập thành Phật đạo.

Các hàng Thiện nam nên lắng nghe

Như Lai nói ra bốn ân trên

Th́ ân Phật bảo là tối thượng

V́ độ chúng sinh phát tâm lớn.

Ba tăng kỳ kiếp trong đại kiếp

Tu đủ trăm ngàn các hạnh khổ

Công đức viên măn khắp pháp giới

Thập địa rốt ráo chứng ba thân.

Pháp thân thể hiện khắp chúng sinh

Muôn đức cô đọng tánh thường trụ

Không sinh, không diệt, không đi, lại

Không một, không khác, không đoạn, thường

Đầy khắp pháp giới như hư không

Tất cả Như Lai cùng tu chứng.

Hữu vi, vô vi các công đức

Nương tựa Pháp thân thường thanh tịnh

Bản tánh Pháp thân như hư không

Xa ĺa sáu trần không nhiễm trước.

Pháp thân vô h́nh ĺa các tướng

Năng tướng, sở tướng thảy đều không

Như thể diệu Pháp thân chư Phật

Hư luận, ngôn từ tướng vắng bặt.

Xa ĺa tất cả các phân biệt

“Tâm hành xứ diệt” thể đều như

V́ muốn chứng được thân Như Lai

Bồ tát khéo tu nơi muôn hạnh.

Thể “trí” vô vi chân pháp tánh

Sắc, tâm tất cả các Phật đồng

Ví như chim bay đến núi vàng

Làm cho thân chim đồng sắc ấy.

Tất cả Bồ tát như chim bay

Thể Pháp thân Phật tựa núi vàng

Tự thọ dụng thân các tướng tốt

Mỗi một đầy khắp cơi mười phương.

Bốn trí viên minh hưởng pháp lạc

Phật trước, Phật sau thể đều đồng

Tuy khắp pháp giới không chướng ngại

Diệu cảnh như thế khó nghĩ bàn.

Thân ấy thường trụ báo Phật độ

Tự hưởng pháp lạc không gián đoạn

Tha thọ dụng thân các tướng tốt

Tùy cơ ứng hiện không thêm, bớt.

Vi độ Bồ tát bậc Địa thượng

Một Phật hiện ra mười loại thân

Tùy chỗ ứng hiện đều bất đồng

Dần dần tăng tiến đến vô cực.

Phù hợp căn cơ nói pháp mầu

Khiến hưởng pháp lạc vào Nhất thừa

Vị được thần thông dần tăng trưởng

Pháp môn sở ngộ cũng như thế.

Hạ địa Bổ tát khởi trí tuệ

Chẳng thể thấu đạt các Địa trên

Hóa độ năng, sở tùy thượng hạ

Mỗi mỗi tùy duyên làm sở thuộc.

Hoặc một Bồ tát, nhiều Hóa Phật

Hoặc nhiều Bồ tát, một Hóa Phật

Như thế, mười Phật thành Chánh giác

Đều ngồỉ dưới Bồ đề bảy báu.

Phật trước nhập diệt, Phật sau thành

Hóa Phật chẳng đồng trải kiếp hiện

Mười Phật ngồi trên đài hoa sen

Quanh khắp đều cỏ trăm ngàn cánh.

Mỗi một cánh sen một cơi Phật

Tức là cơi Tam thiên đại thiên

Trong mỗi một cơi có trăm ức

Mặt trời, trăng, sao bốn đại châu.

Sáu cơi trời Dục và bốn Thiền

Không xứ, Thức xứ đến Phi tưởng

Cùng châu Nam thiệm trong bốn châu

Mỗi mỗi đều có ṭa Kim cang.

Cùng với Bồ đề đại thọ vương

Các thân Phật hóa trong khi ấy

Nhất thời chứng được đạo Bồ đề

Quay xe diệu pháp trong Đại thiên.

Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn

Tùy chỗ hợp căn thành Thánh quả

Như thế, nói ra ba thân Phật

Trên hết, không ǵ sánh, là “Bảo

Ứng, Hóa hai thân nói ra pháp

Giáo, lư, hành, quả là Pháp bảo

Chư Phật lấy Pháp làm Đại sư

Tu tâm chứng được đạo Bồ đề.

Pháp bảo ba đời không biến đổi

Tất cả chư Phật đều y cứ

Ta nay đảnh lễ Nhất thiết trí

Nên nói Pháp bảo, Thầy chư Phật.

Hoặc vào lửa dữ không thể cháy

Ứng thời liền đạt chân giải thoát

Pháp bảo hủy phá ngục sinh tử

Giống như Kim cang phá muôn vật.

Pháp bảo soi vào tâm chúng sinh

Ví như mặt trời trên không giới.

Pháp bảo hay làm thuyền bền chắc

Vượt qua biển ái lên bờ giác.

Pháp bảo hay cho chúng sinh vui

Ví như trông trời hợp ḷng trời.

Pháp bảo hay giúp chúng sinh nghèo

Như ngọc Ma ni mưa mọi báu.

Pháp bảo hay làm thềm Tam bảo

Nhân tu nghe pháp sinh thượng giới.

Pháp bảo: Kim Luân đại Thánh vương

Dùng sức pháp lớn phá bốn ma.

Pháp bảo hay làm xe báu lớn

Chuyên chở chúng sinh ra nhà lửa.

Pháp bảo hay làm Đại Đạo sư

Dẫn dắt chúng sinh đến “Bảo sở”.

Pháp bảo hay thổi loa đại pháp

Giác ngộ chúng sinh thành Phật đạo.

Pháp bảo hay làm đèn đại pháp

Soi chỗ tối tăm trong sinh tử.

Pháp bảo hay làm “Kim cang tiễn”

Trấn giữ quốc giới dẹp mọi oán.

Những pháp của Phật ba đời nói

Làm lợi chúng sinh khỏi khổ buộc

Dẫn vào thành Niết bàn an lạc

Thế là ân Pháp bảo khó trả.

Trưởng giả Trí Quang ông nghe kỹ,

Thế, xuất thế Tăng có ba hạng:

Bồ tát, Thanh văn Thánh, phàm chúng

Là thửa ruộng phước, lợi chúng sinh.

Văn Thù Tư Lợi: Đại Thánh Tôn

Chư Phật ba đời cho là mẹ.

Như Lai mười phương lúc phát tâm

Đều do giáo hóa của Văn Thù.

Tất cả thế gian, các hữu t́nh

Nghe tên, thấy thân và hào quang

Cùng thấy thân hóa hiện tùy loại

Đều thành Phật đạo khó nghĩ bàn,

Di Lặc Bồ tát: Pháp vương tử

Từ mới phát tâm không ăn thịt

Do nhân duyên ấy gọi“Từ Thị”

V́ nhằm thành tựu các chúng sinh.

Ớ cơi thứ tư: trời Đâu suất

Trong điện Như ư bốn chín trùng

Ngày đêm thường nói “hạnh Bất thoái”

Vô số phương tiện độ trời, người.

Nước tám công đức ao Diệu hoa

Chứng sinh có duyên đồng sinh đến.

Đệ tử Ta nay giao Di Lặc

Trong hội Long hoa được giải thoát.

Các thiện nam tử, đời mạt pháp

Một nắm cơm ăn cho chúng sinh

Nhờ căn lành ấy thấy Di Lặc

Sẽ được đạo Bồ đề cứu cánh.

Ồng Xá Lợi Phất... Đại Thanh văn

Trí tuệ thần thông hóa mọi loài

Nếu thành tựu được giới giải thoát

Thực là người tu hành chánh kiến

V́ người thuyết pháp truyền Đại thừa

Ruộng phước như thế là thứ nhất.

Hoặc có một hạng phàm phu Tăng

Giới phẩm không trọn, sinh chánh kiến

Ca ngợi Nhất thừa pháp nhiệm mầu,

Tuy phạm, dốc hối, chướng tiêu trừ.

V́ các chúng sinh gieo nhân Phật

Phàm phu như thế là Tăng bảo

Như hoa Uất kim tuy héo úa

Vẫn hơn tất cả các hoa đẹp.

Tỳ kheo chánh kiến cũng như thế

Bốn hạng Luân vương chẳng so kịp.

Như thế bốn hạng Thánh, Phàm

Tăng Lợi lạc hữu t́nh không dừng nghỉ

Là ruộng phước tốt của thế gian

Thế là Tăng bảo ân đức lớn.

Như Ta đă nói bốn ân nghĩa

Là ân tạo ra ruộng phước đời

Tất cả muôn vật từ đấy sinh

Nếu rời bốn ân không thể được.

Ví như các sắc trần thế gian

Sinh được do nơi bốn Đại tạo

Hữu t́nh thế gian cũng như thế

Do bốn ân kia được an lập.

        Khi ấy, Trưởng giả Trí Quang cùng con ông và quyến thuộc... nghe Phật nói về bốn ân lớn ấy, cho rằng được nghe sự chưa từng có bao giờ, hoan hỷ chắp tay bạch Phật:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Đại Từ Thế Tôn! Ngài đă v́ những chúng sinh tà kiến không tin nhân quả, không hiếu cha mẹ trong đời xấu ác ô trược, nói chân diệu pháp đem lại lợi lạc cho thế gian, nay kính xin Đức Thế Tôn nói thêm cho về nghĩa báo ân. Chúng con đă ngộ được ư rất sâu của bốn ân nhưng, nay chúng con chưa biết tu nghiệp thiện ǵ để báo được ân ấy.

        Đức Phật bảo ông Trưởng giả:

        -Các Thiện nam, trước kia Ta đă v́ năm trăm vị Trưởng giả nói rộng về nghĩa ấy rồi, nay Ta sẽ v́ các ông nói qua ít phần mà thôi!

        Các hàng thiện nam, thiện nữ nào muốn được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác th́ nên tinh siêng tu hành mười pháp Ba-la-mật. Song, nếu c̣n sở đắc th́ vẫn chưa được gọi là Báo ân. Nếu người nào chỉ trong giây lát làm được một tâm thiện Vô sở đắc, mới được gọi là Báo ân. Sở dĩ thế là sao? V́ tất cả Như Lai chứng đạt nẻo Vô sở đắc mới thành Phật đạo, hóa độ chúng sinh.         Nếu có các Thiện nam tịnh tín nào được nghe kinh này, tin, hiểu, thọ tŕ, giảng nói, viết chép, đem Vô sở đắc, tam luân thể không riêng v́ một người mà giảng nói pháp, dù chỉ bốn câu, khiến họ trừ được tâm tà kiến, dốc hướng về đạo Bồ đề, thế tức là báo bốn ân. Sao vậy? V́ người ấy sẽ được đạo quả Vô thượng Bồ đề, lần lượt giáo hóa cho vô lượng chúng sinh, khiến họ nhập Phật đạo, làm cho hạt giống Tam bảo măi măi không hề bị.đoạn tuyệt.

        Khi ông Trưởng giả Trí Quang nghe bài kệ ấy rồi liền đạt được tam- muội Nhẫn nhục, chán ĺa các khổ ở thế gian, được Bất thoái chuyển. Cùng lúc đó, tám ngàn người con và quyến thuộc cũng đạt được pháp Tam muội ấy và đều phát tâm Vô đẳng đẳng, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; bốn vạn tám ngàn người khác cũng chứng được Tam muội, xa ĺa mọi thứ bụi bặm phiền năo, được pháp nhăn thanh tịnh.

Quyển 3 Hết

KINH ĐẠI THỪA BẢN SINH TÂM ĐỊA QUÁN

Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Bát-nhă, người nước Kế tân

Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Quyển 4

Phẩm 3: YẾM XẢ

        Bấy giờ, Trưởng giả Trí Quang nhờ uy thần của Phật, liền từ ṭa đứng dậy đảnh lễ chân Phật, cung kính chắp tay bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, con nay theo Phật, nghe được diệu pháp Báo ân rất sâu ấy, trong ḷng hớn hở, cho rằng được sự chưa từng có bao giờ, như người đang đói khát gặp được món ăn cam lộ. Con nay mong muốn đền trả bốn ân, cúng dường Phật, Pháp, Tăng, xuất gia tu đạo, thường siêng tinh tấn mong chứng Bồ đề!

        Phật đại từ bi, trong một thời tại thành Tỳ-xá-ly ông Vô cấu Xưng nói pháp rất sâu rằng:

        “Ông Vô Cấu Xưng (Duy-Ma-Cật), lấy tâm thanh tịnh làm gốc thiện nghiệp, lấy tâm bất thiện làm gốc ác nghiệp; tâm thanh tịnh th́ thế giới thanh tịnh, tâm tạp uế, thế giới tạp uế; trong Phật pháp của Ta lấy tâm làm chủ. Tất cả các pháp đều do tâm. Nay ông là người tại gia có phước đức lớn, mọi thứ châu báu chuỗi ngọc không ǵ là không đầy đủ; họ hàng trai, gái yên ổn an lạc, lại thành tựu chánh kiến, không hủy báng Tam bảo, biết đem tâm hiếu dưỡng cung kính tôn thân, khởi tâm đại từ bi cấp cho kẻ cô độc và cho đến các loại sâu, kiến... cũng không làm hại. Ông lấy nhẫn nhục làm áo mặc, từ bi làm nhà ở, tôn kính bậc có đức, tâm không kiêu mạn; thương xót tất cả chúng sinh như con đỏ; không tham tài lợi, thường tu thiện xả, cúng dường Tam bảo, tâm không biết đủ, v́ pháp bỏ ḿnh vẫn không lẫn tiếc. Người tại gia như thế tuy không xuất gia nhưng đă đầy đủ vô lượng, vô biên công đức. Đời sau ông sẽ đầy đủ muôn hạnh, vượt trên ba cơi chứng Đại Bồ đề. Sự tu tập của ông đúng là chân Sa môn, cũng là Bà la môn, là chân Tỳ kheo, là chân xuất gia. Người như thế nên gọi là tại gia xuất gia.”

        Hoặc có một thời, Đức Thế Tôn ở nơi tinh xá trong vườn Trúc Ca-lan-đà, v́ đám lục quần Tỳ kheo tánh t́nh xấu ác, nói pháp nhằm khuyên dạy họ:

        “Các ông Tỳ kheo, các ông hăy nghe cho kỹ! Nghe cho kỹ! Vào bể Phật pháp “Tín” là căn bản, qua sông sinh tử “Giới” là thuyền bè. Nếu người xuất gia không giữ giới cấm, tham đắm mọi thứ dục lạc ở đời, hủy hoại giới quư báu của Phật, hoặc mất chánh kiến lạc vào rừng tà kiến, dẫn theo vô lượng người rơi xuống hố sâu lớn. Tỳ kheo như thế không gọi là người xuất gia, chẳng phải Sa môn, chẳng phải Bà la môn, h́nh tướng giống Sa môn, nhưng tâm thường tại gia, Sa  môn như thế không có hạnh viễn ly. Hạnh viễn ly có hai thứ: Một là thân viễn ly. Hai là tâm viễn ly. Thân viễn ly, như người xuất gia thân ở nơi thanh vắng, không bị nhiễm cảnh dục là “thân viễn ly”. Nếu như người xuất gia tu tâm thanh tịnh không bị nhiễm cảnh dục gọi là “tâm viễn ly”. Thân tuy xa ĺa thế tục, nhưng tâm vẫn c̣n tham cảnh dục, người như thế không gọi là viễn ly. Như các tịnh tín nam và tịnh tín nữ, thân tuy ở nơi làng xóm mà phát tâm vô thượng, dùng tâm đại từ bi đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, tu hành như thế là chân viễn ly …

Lúc đó, lục quần Tỳ kheo tánh khí xấu ác nghe pháp âm ấy liền đạt được pháp nhẫn Nhu thuận. Nay chúng con tuy tin lời Phật nói, nhưng đều c̣n có tâm hoài nghi, ư chưa quyết định. Lành thay Thế Tôn! Ngài hay cắt đứt mọi sự nghi ngờ của thế gian! Ngài là bậc ở nơi tất cả các pháp luôn được tự tại! Ngài là bậc có lời nói chân thực, lời nói duy nhất không hai! Ngài là bậc biết đạo, là bậc mở đạo! Vậy, kính xin Như Lai v́ chúng con cùng tất cả chúng sinh đời mai sau, bỏ phương tiện, giảng nói pháp chân thực, làm cho chúng con dứt hẳn được sự ngờ vực, nghi hoặc, vào được Phật đạo.

        Nay trong hội này có hai hàng Bồ tát: một là Bồ tát xuất gia; hai là Bồ tát tại gia. Hai hàng Bồ tát ấy đều khéo đem lại sự lợi lạc cho tất cả chúng sinh, không hề dừng nghỉ. Như con suy nghĩ: Bồ tát xuất gia không bằng người tại gia tu hạnh Bồ tát. V́ sao thế? Xưa có Kim luân Thánh vương phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chán ngán sự vô thường, khổ, không của thế gian, bỏ ngôi Luân vương như nhổ bỏ nước mũi, nước bọt, dốc theo nẻo xuất gia thanh tịnh đi vào trong đạo Phật. Khi ấy, tám vạn bốn ngàn phu nhân, thể nữ nơi hậu cung thấy vua xuất gia đều mang ḷng luyến mộ tâm ư xốn xang sầu năo quá thể, khởi ra sự đau khổ trong t́nh ái biệt ly, như bị nỗi khổ nơi địa ngục. Kim luân Thánh vương từ lúc bắt đầu nhận ngôi vua đă cảm mến được các bảo nữ cùng ngàn vương tử và các đại thần quyến thuộc, nay nhà vua bỏ ngôi báu đi xuất gia, họ cùng đau ḷng giữa t́nh ly biệt, tiếng gào khóc của họ vang dậy bốn thiên hạ. Những người quyến thuộc ấy đều nói: “Vua chúng tôi phước trí vô lượng vô biên, làm sao mà nỡ bỏ chúng tôi đi xuất gia! Thương thay! Khổ thay! Thế giới rỗng không! Từ nay trở đi chúng tôi khổng c̣n nơi nương cậy!”

        Nếu có các thiện nam, thiện nữ nào với ḷng tin thanh tịnh, quy y Phật, Pháp, Tăng, phát tâm Bồ đề, ĺa bỏ cha mẹ xuất gia nhập đạo, th́ cha mẹ thương xót, ân niệm t́nh thâm, sự buồn khổ trong ly biệt thật cảm động cả trời đất. Như cá ở chỗ vũng nước cạn phải lăn lóc trên mặt đất, thời nỗi khổ về ái biệt ly cũng thế và như tâm nơi đám họ hàng Kim luân vương kia không khác. Bồ tát xuất gia đem đến lợi ích cho chúng sinh, sao lại làm nhiễu hại cha mẹ, vợ con khiến nhiều người chịu khổ năo quá như vậy? Do nhân duyên ấy, Bồ tát xuất gia không có từ bi, không đem lại lợi ích cho chúng sinh, thế nên không bằng Bồ tát tại gia đủ tâm đại từ bi, thương xót chúng sinh làm lợi ích tất cả!

        Lúc đó, Đức Phật bảo Trưởng giả Trí Quang:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Ông có tâm đại từ bi khuyến thỉnh Như Lai nói về sự hơn kém của hai hàng Bồ tát xuất gia và tại gia. Nay ông hỏi và cho rằng Bồ tát xuất gia không bằng tại gia, nghĩa ấy không phải. Sở dĩ thế là sao? Bồ tát xuất gia hơn tại gia vô lượng vô biên không thể lấy ǵ sánh ví được Sao vậy? V́ Bồ tát xuất gia dùng năng lực trí tuệ chân chánh quán sát hàng tại gia một cách tỉ mỉ vẫn thấy có nhiều lỗi lầm; đó là tất cả nhà cửa ở thế gian, trong đó tích góp nhiều vật báu mà vẫn chưa biết là đầy đủ, cũng như biển cả dung nhận tất cả nước các con sông lớn, nhỏ nhưng cũng chưa từng cho là đầy đủ. Này thiện nam, phía Nam Hương sơn, phía Bắc Tuyết Sơn có ao A-nậu, bốn Đại Long vương đều ở trong ấy và mỗi vị ở một góc: Long vương ở góc Đông nam là Bạch-Tượng-Đầu, Long vương ở góc Tây nam là Thủy-Ngưu-Đầu, Long vương ở góc Tây bắc là Sư-Tử-Đầu, Long vương ở góc Đông bắc là Đại-Mă-Đầu. Nước từ bốn góc ấy chảy ra bốn sông lớn:

        -Sông Căng-già, nước sông này chảy đến chỗ nào th́ loài voi trắng theo đó sinh sản.

        -Sông Tín-độ, nước sông này chảy đến chỗ nào th́ loài trâu theo đó sinh sôi.

        -Sông Bạc-sô, nước sông này chảy đến chỗ nào th́ loài sư tử theo đó xuất hiện.

        -Sông Tư-đà, nước sông này chảy đến chỗ nào th́ loài ngựa lớn theo đó mà sinh ra.

        Những con sông lớn ấy, trong mỗi con sông lại có năm trăm ḍng sông vừa vừa, trong mỗi con sông vừa vừa lại có vô lượng sông nhỏ. Tất cả nước trong các con sông lớn, vừa vừa và nhỏ ấy đều chảy vào biển cả, song, biển cả kia vẫn chưa từng cho là đầy đủ. Chúng sinh trong thế gian với mọi thứ hiện có về nơi ở, nhà cửa cũng như thế. Họ gom góp được các thứ ngọc báu ở bốn phương đem lại đều để vào trong nhà ấy, song họ chưa từng cho là đầy đủ. cầu nhiều, tích góp nhiều th́ tạo ra nhiều tội lỗi; vô thường vụt đến, phải vứt bỏ nhà cũ ra đi, khi ấy chủ nhà tùy nghiệp mà chịu báo, trải qua vô lượng kiếp hoàn toàn không có chỗ nào để quay về cả!

        Này thiện nam, đây nói về “nhà” tức là nói về cái thân năm Uẩn, mà chủ căn nhà ấy là Bản thức của ông. Người có trí tuệ ai lại ưa căn nhà “hữu vi” ấy; mà chỉ thích cung điện báu Bồ đề an lạc xa ĺa hẳn mọi thứ lăo, bệnh, tử, ưu bi khổ năo thôi! Nếu những Thiện nam... có căn khí linh lợi, ḷng tin thanh tịnh sâu dày, muốn độ cha mẹ, vợ con, họ hàng để họ vào được ngôi nhà “Vô vi cam lộ” th́ nên quy Tam bảo, xuất gia học đạo!

        Bấy giờ, Đức Như Lai nói lại ư nghĩa trên bằng lời kệ sau đây:

Bồ-tát xuất gia hơn tại gia

Tính toán, thí dụ không sánh kịp.

Tại gia bức bách như lao ngục

Muôn cầu giải thoát rất là khó,

Xuất gia thư thái như hư không

Tự tại, vô vi khỏi ràng buộc.

Xét kỹ tại gia nhiều lỗi lầm

Tạo tác tội lỗi không bờ bến

Mưu sống, cầu nhiều thường chẳng đủ

Cũng như biển cả khó đầy được.

Long vương ở trong ao A-nậu

Bốn góc chảy ra bốn bể lớn

Bao nhiêu nước sông lớn, vừa, nhỏ

Ngày đêm tuôn chảy không hề ngừng

Song, biển cả kia chưa từng đủ

Tham cầu nhà cửa cũng như thế.

Tại gia khởi nhiều các nghiệp ác

Chưa từng sám, tẩy cho trừ diệt.

Không biết ái niệm nguy ngập thân

Không rơ mạng căn như sương sớm.

Sứ giả Diễm-ma cùng giục thúc

Vợ con, nhà cửa sao theo được

U minh tăm tối trong đêm dài

 Riêng đến cửa chết tùy nghiệp chịu.

Chư Phật xuất hiện khởi ḷng thương

Muốn cho chúng sinh nhàm trần tục.

Ông nay đă nhận thân khó được

Nên siêng tinh tấn chớ phóng dật 

Nhà cửa tại gia rất đáng chán

Nhà báu “Không tịch ” khó nghĩ bàn

Rời hẳn bệnh khổ và ưu năo

Những bậc có trí quán sát kỹ.

Thiện nam, tín nữ ở đời sau

Muốn độ cha mẹ và quyến thuộc

Để vào thành “Cam lộ vô vi”

Mong cầu xuất gia tu diệu đạo

Tu hành dần dần thành Chánh giác

Sẽ chuyển Vô thượng đại Pháp luân.

        Lại nữa thiện nam tử, Bồ tát xuất gia xem nhà cửa nơi thế gian cũng như đá lửa càng sinh lo, chán. Sao vậy? Ví như chút lửa có thể đốt cháy tất cả cỏ cây…, nhà cửa nơi thế gian cũng như thế. Tâm tham muốn t́m cầu, giong ruổi khắp bốn phương, nếu có được những ǵ th́ sự thọ dụng vẫn không đủ; trong tất cả thời gian theo đuổi t́m kiếm đều không hề biết chán và nếu không được ǵ th́ tâm sinh sầu năo, ngày đêm càng truy cầu thêm. Thế nên tất cả nhà cửa nơi thế gian hay sinh ra vô lượng lửa phiền năo, v́ khởi tâm tham, thường không biết đủ. Của báu ở thế gian cũng như cỏ cây, c̣n tâm tham dục th́ như nhà cửa thế gian. Do nhân duyên ấy, tất cả chư Phật thường nói: “Ba cơi là nhà lửa”. Thiện nam tử, Bồ tát xuất gia nên luôn quán tưởng như thế, chán ĺa thế gian mới là “xuất gia chân chánh”.

        Khi ấy, Đức Như Lai lại nói nghĩa trên bằng lời kệ sau đây:

Bồ-tát xuất gia xem nhà đời

Cũng như chút lửa của thế gian

Tất cả cỏ cây dần cháy hết

Nhà đời, nên biết cũng như thế.

Chúng sinh có nhiều những của báu

Lạ c̣n t́m cầu, thường không đủ

Cầu không được khổ thường tại tâm

Lửa lăo, bệnh, tử không lúc dứt.

Do nhân duyên ấy các Thế Tôn

Nói rằng “Ba cơi là nhà lửa”

Nếu muốn vượt qua khổ ba cơi,

Nên tu Phạm hạnh làm Sa môn

Tam muội thần thông được hiện tiền

Tự lợi lợi tha đều viên măn.

        Lại nữa thiện nam, ưa muốn xuất gia th́ nên quán nhà cửa, như trong hang đá núi sâu có kho báu lớn. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một con, nhà ông rất giàu, của báu vô lượng, tôi trai tớ gái, người hầu, voi, ngựa vô số. Trong thời sau này người cha chợt bị bệnh nặng. Thầy hay thuốc tốt không sao cứu chữa được, ông Trưởng giả tự biết ḿnh không bao lâu nữa sẽ chết, liền gọi con lại bảo:

        - Phàm tất cả của báu hiện có của ta, ta giao phó hết cho con, con cố gắng giữ ǵn đừng để mất mát! Người cha dặn ḍ trao gởi rồi liền mất. Sau đó, con ông Trưởng giả không thuận mạng cha, tha hồ phóng túng, đua đ̣i, gia nghiệp hao tốn, của cải tan mất, tôi tớ lại lẩn trốn không c̣n nương tựa nữa. Khi ấy, tâm bà mẹ già mang sự lo buồn, sầu năo bị bệnh nặng rồi mất. Người con ấy bị nghèo cùng, không c̣n có chỗ nhờ cậy, liền vào nơi hang núi nhặt củi, hái quả bán đi mua cháo cơm tự sống qưa ngày. Một ngày kia, gặp mưa tuyết, người con ấy tạm thời vào trong hang đá nghỉ ngơi. Trong hang ấy là chỗ Quốc vương xưa cất giấu đồ thất bảo, không ai biết cả, nay đă trải qua hàng trăm ngàn năm, nơi đây vắng bặt bóng người lui tới.

        Bấy giờ, người nghèo kia do nhân duyên đưa đẩy, t́nh cờ vào trong hang thây rất nhiều vàng, tâm vui mừng quá cho rằng được sự chưa từng có bao giờ. Nhân đó, người ấy mới chia ra: Ngần này phần vàng để dựng cất nhà cửa, ngần này phần vàng là để cưới vợ, phần này thuê tôi tớ, phần này mua voi, ngựa, tùy tâm muốn ǵ đều được như ư. Đang khi trù tính như thế, có bọn giặc v́ chạy đuổi con hươu đến trước hang, thấy người nghèo ấy đem vàng phân phối ra từng phần, liền bỏ không đuổi hươu nữa, mà giết người lấy vàng. Phàm ngu si cũng giống như thế, quá ham sự vui sướng ở đời không thích ĺa bỏ. Hang đá núi sâu như nhà cửa của đời, vàng ngọc chôn giấu cũng như thiện căn, sứ giả của Diêm ma vương tức là bọn giặc. Theo nghiệp chịu báo bị đọa trong ba đường ác, không nghe thấy tên hiệu của cha mẹ, Tam bảo, lại làm mất cả căn lành. Do nhân duyên ấy, người đời cần nên chán rời, phát tâm Vô thượng Đại Bồ đề, xuất gia tu đạo mong thành tựu bậc Diệu giác.

        Khi ấy, Đức Như Lai nói lại nghĩa trên bằng lời kệ:

Ưa thích tại gia, các Bồ tát

Xem xét nhà cửa như kho quư.

Ví như Trưởng giả có một con

Nhà ông rất giàu nhiều của báu

Tôi tớ người hầu cùng xe ngựa

Tất cả cần dùng đều sung túc.

Về sau Trưởng giả thân bị bệnh

Thầy giỏi khắp đời đều bó tay

Sắp mất, kêu gọi người thân tộc

Giao phó gia tài cho người con

Dạy răn con giữ tâm hiếu dưỡng

Siêng việc hưởng tự đừng đoạn tuyệt.

Khi ấy người con trái mạng cha

Thả ḷng ngu si, phóng dật nhiều

Mẹ già lo buồn thân đau yếu

Lại nhân con hư liền chết mất.

Quyến thuộc xa ĺa không chỗ nương

Nhặt củi đổi cháo làm thường dụng

Đến núi sâu kia gặp gió tuyết

Vào trong hang đá tạm nghỉ ngơi.

Trong hang xưa giấu của quư báu

Đă trải lâu xa không người biết

Kẻ ấy gặp được kho vàng thực

Sinh ḷng hớn hở chưa từng có.

Tức thời phân phối số vàng kia

Tùy ư muốn ǵ đều dùng nó

Hoặc để dựng nhà, hoặc cưới vợ

Tôi tớ, voi, ngựa và xe cộ

So tính mai sau không bỏ được

Bọn giặc đuổi hươu chạy đến trước

Là oán giữ kia khi hội ngộ

Liền giết người nghèo lấy vàng đi.

Chúng sinh ngu si cũng như thế

Hang đá cũng như nhà cửa đời

Chôn giấu vàng thật ví thiện căn

Quỷ sứ Diễm-ma như giặc cướp.

Do nhân duyên ấy, các Phật tử

Sớm nên xuất gia tu thiện phẩm

Quán xem thân mạng như bọt nổi

Siêng tu Giới, Nhẫn Ba-la-mật.

Sẽ tới cây Bồ đề thất bảo

Trên ṭa Kim cang chứng Như như

Thường trụ bất diệt khó nghĩ bàn

Chuyển xe chánh pháp độ quần sinh.

        Lại nữa thiện nam, tất cả nhà cửa hiện có của thế gian, cũng như món ăn uống ngon ngọt mà bị lẫn lộn thuốc độc. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một người con, căn khí linh lợi, thông minh, trí tuệ, thấu suốt được Quán môn bí mật Ca-lâu-la, biết dùng phương tiện khéo léo để phân biệt những thứ thuốc độc, v́ thế cha mẹ thương yêu, nhớ mến không ǵ sánh ví được. Bấy giờ, con ông Trưởng giả v́ có việc cần nên đi ra ngoài chợ chưa kịp trở về, ở nhà cha mẹ cùng thân tộc có việc vui mừng, bày đặt yến tiệc, sắm sửa đầy đủ các món ăn uống ngon quư. Nhưng, lúc đó có kẻ thù oán nào ngấm ngầm đem thuốc độc bỏ vào trong thức ăn uống, không một ai hay biết. Khi ấy cha mẹ cũng không biết là trong món ăn có thuốc độc lẫn lộn, vậy là cả nhà lớn, bé đều ăn phải món ăn lẫn thuốc độc đó. Sau người con về tới, cha mẹ vui mừng đưa cho con những món ăn uống c̣n để phần. Con ông Trưởng giả khi chưa dùng đến các món ăn uống ấy, liền niệm Quán môn Ca-lâu-la bí mật, biết ngay là trong món ăn có lẫn thuốc độc. Người con tuy biết sự việc, nhưng không dám nói rơ là cha mẹ đă ăn lầm phải thuốc độc. Sở dĩ thế là sao? V́ nếu cha mẹ biết ḿnh đă ăn phải thuốc độc th́ càng thêm phiền muộn, năo loạn, độc khí chóng phát, càng làm cho người ta chóng chết. Người con mới đặt ra phương tiện thưa cha mẹ:

        -Con sở dĩ chưa dùng món ăn uống này v́ con phải đi ra chợ một chút, khi về con sẽ ăn. Sao vậy? Vừa rồi con có mua được một viên ngọc báu vô giá, con bỏ trong két quên chưa khóa.

Cha mẹ nghe con nói đến thứ ngọc báu th́ sinh tâm hoan hỷ, mặc cho con đi. Người con bèn chạy vội đến nhà thầy thuốc giỏi, cầu thuốc hay là thuốc A-già-đà giải độc. Được thuốc ấy rồi, người con chạy vội về nhà, lấy sữa, tô và đường phèn, ba vị sắc chung rồi ḥa với thuốc A-già-đà. Làm thuốc xong, người con mới thưa cha mẹ:

        -Kính xin cha, mẹ uống nước cam lộ này, đây là thuốc A-già-đà ở núi Tuyết, sở dĩ thế là sao? Lúc năy cha mẹ ăn lầm phải thuốc độc trộn trong thức ăn, con tạm ra ngoài một chút, bản ư của con chỉ v́ cha mẹ cùng mọi người dốc t́m được thuốc hay bất tử này mà thôi. Khi ấy tâm cha mẹ và mọi người rất vui mừng, cho như là được sự chưa từng có, liền uống ngay thuốc ấy, nên hết các độc khí, không bị chết và thân mạng được sống lâu.

        Bồ tát xuất gia cũng thế, cha mẹ quá khứ bị ch́m đắm trong sinh tử, cha mẹ hiện tại không thoát ly được, th́ nẻo sinh tử trong mai sau khó dứt hết và phiền năo hiện tại cũng khó dẹp trừ. Do nhân duyên ấy, v́ muốn độ cha mẹ và các chúng sinh nên đă mạnh mẽ phát tâm đồng thể đại từ bi cầu Đại Bồ đề xuất gia nhập đạo. Này thiện nam, thế gọi là nhà cửa nơi thế gian như thuốc độc lẫn trộn trong món ăn ngon tốt.

        Khi ấy, Đức Như Lai nói lại ư nghĩa trên bằng lời kệ:

Nhà cửa sở hữu của thế gian

Nói là thuốc độc lẫn mỹ thực.

Ví như Trưởng giả có một con

Thông minh, lợi trí lại nhiều tài

Giỏi môn bí mật Ca-lâu-la

Có phương tiện khéo biết thuốc độc.

Con có sự duyên ra ngoài chợ

Tạm thời buôn bán chưa về nhà

Cha mẹ yên vui hợp thân thuộc

Cỗ quư trăm mùi đều đầy đủ.

Có một kẻ ác mang thuốc độc

Ngầm đến, bỏ vào món ăn uống

Người con khi ấy không ở nhà

Cha mẹ v́ con lưu một phần.

Cả nhà ăn lầm thuốc tạp độc

Con niệm quán môn biết có độc

Liền chạy vội đến chỗ thầy thuốc

Cầu được thuốc Già-đà bất tử.

Ba vị ḥa sắc, thuốc thành rồi

Liền thưa thân thuộc uống nhanh nhanh

Uống thuốc như thế như cam lộ

Khỏi mọi tạp độc đều an lạc.

Tất cả Thiện nam có ḷng tin

Xuất gia tu đạo cũng như thế

V́ cứu cha mẹ và chúng sinh

Uống phải thuốc độc của phiền năo

Tâm cuồng điên đảo tạo các tội

Ch́m măi trong bể khổ sinh tử.

Cắt ái, từ thân vào đạo Phật

Được gần Điều Ngự Đại Y vương

Tu về vô lậu A-già-đà

Sinh lại nhà cha mẹ ba cơi

Khiến uống thuốc pháp dứt ba chướng

Sẽ chứng quả Vô thượng Bồ đề

Măi đời vị lai thường chẳng diệt

Làm chỗ quy y độ chúng sinh

Rốt ráo ở nơi Đại Niết bàn

Và, Phật Bồ đề trí tṛn sáng.

        Lại nữa thiện nam, Bồ tát xuất gia thường quán tất cả nhà cửa của thế gian cũng như gió lớn không hề dừng. Sao vậy? Thiện nam, tâm ư của hàng tại gia thường khởi vọng tưởng chấp trước ngoại cảnh, không thể thông tỏ được sự thực, măi say đắm trong nẻo vô minh tối tăm, mọi sự tiếp xúc với cảnh luôn bị điên đảo không hề an trụ được. Ác giác dễ khởi, thiện tâm khó sinh. Do vọng tưởng duyên khởi ra các phiền năo; nhân các phiền năo tạo ra nghiệp thiện, ác; và y vào các nghiệp thiện, ác ấy mà thọ nhận lấy quả báo trong năm đường, cứ như thế, như thế, sinh tử không dứt. Chỉ có đạt được chánh kiến, tâm không điên đảo, tạo mọi nghiệp thiện, làm nhân cho ba thiện căn và lấy “tín” tăng trưởng cho hạt giống vô lậu của các pháp ấy, phát khởi thần thông Vô lậu tam muội, thần thông như thế, như thế là chứng Thánh quả tương tục. Nếu dẹp được vọng tưởng, tu tập chánh quán thời tất cả phiền năo sẽ được dứt sạch hẳn.

        Bấy giờ, Trưởng giả Trí Quang bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, tu tập chánh quán có vô lượng môn, vậy tu tập những quán môn nào mới dẹp được vọng tưởng?

        Đức Thế Tôn bảo ông Trưởng giả:

        -Này thiện nam, cần nên tu tập chánh quán Vô tướng. Quán Vô tướng là dẹp trừ được vọng tưởng. Song, chỉ quán thực tánh chứ không cần nhận thức về mười hiện tướng, v́ thể của tất cả các pháp môn vốn không tịch, vượt mọi sự nhận thức lănh hội thông thường thế gọi là Chánh quán. Nếu có Phật tử nào an trụ nơi chánh niệm, quán sát như thế, tu tập vô tướng Vô vi trong thời gian dài, gió dữ của vọng tưởng vắng bặt, không c̣n dấy động nữa, th́ Thánh trí xuất hiện ngay chứng; đắc diệu lư, thành tựu viên măn. Thiện nam, đó là Hiền thánh, đó là Bồ tát, đó là Như Lai Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nhân duyên ấy, tất cả Bồ tát v́ muốn dẹp trừ vọng tưởng măi măi không dấy khởi lên nữa, v́ muôn trả bốn ân, thành tựu được bốn đức, xuất gia tu học, ngừng tâm vọng tưởng, trải vô lượng kiếp thành tựu Phật đạo.

        Khi ấy, Đức Như Lai nói lại ư nghĩa trên bằng lời kệ:

Bồ tát xuất gia quán tại gia

Cũng như gió dữ không hề dừng

Cũng như vọng chấp trăng trong nước

So tính phân biệt lấy làm thực.

Trong nước bản lai không bóng trăng

Nước tịnh là duyên thấy trăng thực.

Các pháp duyên sinh đều là giả

Phàm ngu vọng chấp cho là “ta”

Cái ấy theo “duyên”, “pháp” không thực

Vọng tưởng phân biệt chấp là có.

Nếu hay dứt trừ được hai chấp

Sẽ chứng Vô thượng Đại Bồ đề.

Vọng tưởng t́nh phàm như hắc phong

Thổi rừng sinh tử niệm niệm khởi

Bốn quỷ điên đảo thường theo đuổi

Khiến tạo năm thứ nhân Vô gián.

Ba căn bất thiện hiện ràng buộc

Sinh tử luân hồi luôn nối nhau

Nếu người nghe kinh, tin, hiểu sâu

Chánh kiến hay trừ tâm điên đảo

Hạt giống Bồ đề niệm niệm sinh

Đại trí thần thông Tam muội khởi.

Nếu tu tập được quán thâm diệu

Hoặc, nghiệp, quả khổ đâu khởi được?

Chỉ quán thực tướng chân tánh như

Năng, sở đều mất, bỏ mọi kiến.

Tánh tướng nam, nữ bản lai không

Vọng chấp theo duyên sinh hai hướng.

Như Lai dứt hẳn nhân vọng tưởng

Chân tánh vốn không tướng nam, nữ.

Diệu quả Bồ đề chứng đều đồng

Phàm phu vọng chấp sinh tướng khác.

Ba mươi hai tướng vốn phi tướng.

Liễu tướng, phi tướng là thực tướng.

Nếu người xuất gia tu Phạm hạnh

Nhiếp tâm tịch tĩnh chốn không nhàn

Đó là Bồ tát tâm chân tịnh

Không lâu sẽ chứng Bồ đề quả.

        Lại nữa thiện nam, Bồ tát xuất gia ngày đêm thường quán nhà cửa của thế gian tất cả là chỗ sinh ra phiền năo. Sao vậy? Như có một người xây dựng được tám ngôi nhà, đem các vật báu mà tự trang nghiêm cho những căn nhà ấy. Dựng nhà xong, người ấy nghĩ rằng: “Nay nhà cửa là vật sở hữu của ta, không lệ thuộc vào người khác, chỉ có nhà cửa của ta là tốt đẹp hơn hết, nhà cửa của người khác không thể sánh kịp”. Do chấp trước như thế, nên sinh ra phiền năo; do phiền năo từ chấp ngă, ngă sở làm căn bản, mà tám vạn bốn ngàn cửa trần lao cùng nhau đua khởi, chật cả trong nhà. Sở dĩ thế là sao? Phàm phu tại gia tham đắm sâu nặng về năm dục, vợ con, họ hàng, tôi trai, tớ gái, người hầu thảy đều gồm đủ; v́ nhân duyên ấy, nên dấy ra bao sự khổ về sinh, lăo, bệnh, tử, lo, buồn, sầu, năo, oán ghét hợp hội, ân ái, biệt ly, nghèo cùng và mọi sự suy vi, cầu không được... Các khổ như thế như bóng theo h́nh, như vang ứng tiếng, đời đời nối tiếp nhau luôn không thể đoạn tuyệt. Các khổ như thế đều có nguyên nhân mà các thứ phiền năo lớn, nhỏ là căn bản. Tất cả những của báu đều do sự t́m cầu mà được, nếu không có nhân trước thời không thể t́m kiếm và giả sử có t́m kiếm đi chăng nữa th́ cũng không đạt được.

        Này thiện nam, do v́ nghĩa ấy, nên tất cả phiền năo, tâm theo đuổi t́m kiếm là gốc, nếu diệt được tâm giong ruổi ấy đi thời vô lượng phiền năo kia đều dứt hết. Song, nay thân này là chỗ nương tựa cho các khổ, những người có trí nên sinh tâm chán bỏ! Do đó, Đức Phật Ca Diếp đời quá khứ, v́ các loài cầm thú mà nói bài kệ:

Thân này là gốc khổ

Khổ khác là cành, lá

Nếu đoạn được gốc khổ

Các khổ đều trừ diệt.

Nghiệp xưa của các ngươi

Tạo tội, tâm chẳng hối

Thọ thân tướng xấu xí

Chịu khổ năo đủ loại.

Nếu khởi tâm ân trọng

Một niệm cầu sám hối

Như lửa đốt. núi đầm

Các tội đều tiêu diệt.

Thân này khổ, bất tịnh

Vô ngă và vô thường

Các ngươi đều phải nên

Thực tâm sinh chán, bỏ!

        Lúc đó, vô lượng cầm thú nghe bài kệ ấy rồi, trong nhất niệm, tâm chí thành sám hối, liền bỏ được nẻo xấu ác sinh lên cơi trời thứ tư trong Dục giới phụng sự vị Bồ tát Nhất sinh bổ xứ, nghe pháp bất thoái cứu cánh Niết bàn.

        Này thiện nam, do nhân duyên ấy, nay thân khổ này cũng như nhà cửa, tất cả phiền năo tức là chủ nhà. Thế nên, các Thiện nam có ḷng tin thanh tịnh, phát tâm Bồ đề, xuất gia nhập đạo, quyết được giải thoát tất cả mọi thứ khổ và đều sẽ thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

        Khi ấy, Đức Như Lai nói lại ư nghĩa trên bằng lời kệ:

Bồ tát xuất gia thường quán sát

Nhà cửa nơi sinh các phiền năo.

Như có một người dựng nhà cửa

Trang hoàng bằng mọi thứ ngọc báu

Tự nghĩ tráng lệ không đâu bằng

Không thuộc người khác, chỉ riêng ta,

Thợ khéo sửa sang đẹp lạ lùng

Nhà cửa trên đời không đâu sánh

Phân biệt như thế sinh chấp trước

Lấy “ngă, ngă sở” làm căn bản

Tám vạn bốn ngàn các phiền năo

Đầy khắp nhà cửa sinh tai họa,

Tất cả nam, nữ ở trên đời

Sáu thân quyến thuộc đều đầy đủ

Do nhân duyên ấy sinh mọi khổ

Tức là: sinh, lăo và bệnh, tử.

Lo buồn, khổ năo, thường theo đuổi

Như bóng theo h́nh không hề rời

Tạo nhân các khổ, tham dục sinh

Nếu dứt tham cầu, diệt hết khổ.

Thân này thường là gốc mọi khổ

Siêng tu yếm xả, hướng Bồ đề

Thân tâm ba cơi như nhà cửa

Chủ nhà: phiền năo ở tại trong

Các ông nên phát tâm Bồ đề

Ĺa bỏ phàm phu ra ba cơi.

        Lại nữa thiện nam, Bồ tát xuất gia thường quán sát hàng tại gia cũng như trong một nước lớn, có ông Trưởng giả gia sản giàu sang, của báu vô lượng, trong nhiều kiếp, nhân duyên cha con nối tiếp nhau không dứt và chuyên tu các hạnh lành, nến được tiếng khen đồn xa. Những của báu hiện có của ông Trưởng giả ấy được chia làm bốn phần: một phần của báu thường sinh lợi tức để làm tăng trưởng gia nghiệp, một phần của báu để cung cấp vào sự cần dùng đầy đủ hàng ngày, một phần của báu nhằm giúp đỡ những người cô độc để tu nhân tích đức, một phần của báu để cứu giúp thân thuộc và khách lui tới. Bốn phần như thế chưa từng có lúc nào ngừng dứt, cha con cứ nối tiếp nhau phát huy gia nghiệp ở đời. Nhưng về sau có một người con ngu si, tệ ác, quá tham mê năm thứ dục lạc, làm những việc phóng túng bừa băi, trái lời dạy của cha mẹ và không y theo bốn sự nghiệp trên, mà nào dựng lên các nhà cửa, lầu quán bảy tầng hơn hẳn lối xây cất thông thường, trang hoàng bằng mọi thứ châu báu, đất lát lưu ly, cửa sổ bằng ngọc báu, ánh sáng lồng nhau; nào đầu rồng, h́nh cá thảy đều đủ cả, ngày đêm tiếng nhạc dập d́u liên miên không dứt, thụ hưởng năm dục lạc như cơi trời Đao lợi nên bị quỷ thần hiềm ghét, người, trời tránh xa.

        Một hôm, bỗng dưng nhà hàng xóm bốc lửa, lửa dữ bừng bừng, theo gió lan tràn, đốt cháy hết cả kho tàng và các lâu đài. Lúc đó, con ông Trưởng giả trông thấy lửa dữ như thế, khởi tâm giận bực, vội bắt vợ con, tôi trai, tớ gái và họ hàng vào cả trong ngôi nhà hai tầng, đóng kín cửa lầu gác lại; không ngờ do sự ngu si ấy, khiến bao người kia nhất thời đều chết cả.

        Phàm phu tại gia cũng như thế. Người ngu ở đời ví như con ông Trưởng giả, c̣n chư Phật, Như Lai ví như ông Trưởng giả; không thuận theo lời Phật dạy, tạo các nghiệp ác, phải đọa vào ba đường dữ, chịu nhiều khổ năo. Do nhân duyên ấy, Bồ tát xuất gia thường xem hàng tại gia như con ông Trưởng giả không vâng lời cha mẹ, bị lửa đốt cháy, vợ con đều chết. Này các thiện nam, nên sinh tâm chán, bỏ những sự an vui nơi thế gian, trời, người, dốc tu hạnh thanh tịnh sẽ chứng Bồ đề.

        Khi ấy, Đức Như Lai nói lại ư nghĩa trên bằng lời kệ:

Bồ tát xuất gia quán tại gia

Ví như Trưởng giả sinh con ngu

Nhà ông giàu có nhiều của báu

Nối tiếp lâu đời không thiếu chi.

Gia nghiệp đời trước truyền con cháu

Tất cả của cải chia bốn phần

Thường tu thắng hạnh không lỗi ác

Tiếng khen lan khắp các quốc độ.

Vàng, bạc, ngọc báu số vô biên

Lợi tức xuất nhập khắp nước ngoài

Từ, bi, Hỷ, Xả tâm không chán

Cứu giúp cô bần thường chẳng dứt.

Rốt sau Trưởng giả sinh một con

Ngu si, bất hiếu, không trí tuệ

Tuổi tác đă già, gân sức suy

Gia tài trong, ngoài đều giao con.

Con trái mạng cha làm bừa băi

Không nối bốn nghiệp nhà sa sút

Cất lầu bảy tầng bằng châu báu

Dùng lưu ly biếc làm cửa sổ,

Đàn địch hát xướng luôn không dứt

Thường lấy bất thiện làm thầy tâm

Hưởng năm dục lạc như Thiên cung

Tất cả Long thần đều xa tránh.

Nhà bên bỗng dưng hỏa tai dấy

Lửa dữ theo gió khó cấm được

Kho tàng, của báu và vợ con

Nhà cửa, tầng lầu đều cháy hết.

Tích ác, tai ương đến diệt thân

Vợ con, quyến thuộc đồng chết cả.

Tam thế chư Phật như Trưởng giả

Tất cả phàm phu là ngu tử

Không tu chánh đạo dấy tâm tà

Mạng chung đọa nơi các nẻo ác

Nhiều kiếp riêng chịu khổ đốt cháy

Lần lữa như thế không kỳ hết.

Phật tử tại gia, ông nên biết

Không tham vui đời, siêng tu chứng

Chán đời, xuất gia tu Phạm hạnh

Núi rừng vắng lặng bỏ mọi duyên.

V́ trả bốn ân tu thắng đức

Làm ngôi Pháp vương trong ba cơi

Độ sinh đến hết thuở vị lai

Làm bạn không mời, thường thuyết pháp.

Ngăn hẳn ḍng “ái” đến bờ kia

Trụ nơi thành Niết bàn thanh tịnh.

        Lại nữa thiện nam, Bồ tát xuất gia quán tất cả nhà cửa của thế gian cũng như mộng lớn. Ví như ông Trưởng giả có một đồng nữ mới mười lăm tuổi, dung nhan đoan chánh, sinh đẹp lạ lùng. Một hôm, cha mẹ ở trên lầu ba tầng, đem con gái yêu của ḿnh lên, cùng hưởng xem những sự vui thích. Đêm, mẹ con cùng ngủ chung trên một giường quư và đang yên giấc. Trong khi ngủ, đồng nữ chiêm bao thấy cha mẹ cho về nhà chồng; vợ chồng lấy nhau trải qua nhiều năm, sinh được một người con dung mạo tươi sáng, xinh xắn vô cùng lại có tướng thông minh trí tuệ. Hàng ngày nhờ ân nuôi nấng, dần dần đứa con ấy biết đi. Một hôm, trên lầu cao, không may nó trược chân từ trên cao rơi xuống, rơi chưa đến đất, bỗng dưng có một con hổ đói đứng đỡ lấy ăn thịt. Đồng nữ thấy thế, kinh sợ quá, cất tiếng gào khóc, liền tỉnh mộng. Bấy giờ, cha mẹ hỏi con:

        -Do nhân duyên ǵ, bỗng dưng con kinh sợ vậy?

        Người con gái thẹn không chịu nói. Người mẹ ân cần hỏi gạn măi, người con gái mới nói thầm với mẹ về việc chiêm bao như trên.

        Này thiện nam, thế gian là nhà cửa sinh tử hữu vi, nên phải ở măi trong luân hồi, nghĩa là chưa được ở vào phận vị chân giác mà thường phải ở trong nhà chiêm bao, sinh, lăo, bệnh, tử nơi ba cơi, như đồng nữ kia trong chiêm bao, hư vọng phân biệt cũng thế. Quỷ sứ nơi Diễm-ma bỗng dưng đến, như hổ đói trong hư không đỡ đứa bé kia mà ăn. Tất cả chúng sinh trong từng niệm, niệm luôn bị các nỗi khổ về vô thường, lăo, bệnh, tử cũng như thế. Ai là người có trí tuệ lại yêu thích thân này! V́ nhân duyên ấy, quán sát trong sinh tử như giấc mộng đêm dài, mà phát tâm Bồ đề, chán bỏ thế gian, dốc sức tu tập sẽ đạt được diệu quả thường trụ của Như Lai.

        Khi ấy, Đức Thế Tôn nói lại nghĩa trên bằng lời kệ:

Phật tử dốc cầu đạo Vô thượng

Nên quán nhà cửa như trong mộng

Ví như đại trưởng giả giàu sang

Có một đồng nữ đoan nghiêm lạ.

Cô theo cha mẹ lên lầu cao

Đi theo xem coi rất vui vẻ.

Cô ngủ trong lầu, cô chiêm bao:

Rơ ràng mơ thấy đi lấy chồng.

Sau ở nhà chồng sinh một con

Tâm mẹ thương xót nhớ mến con

Con trên lầu đài ham vui chơi

Từ cao rơi xuống ngay miệng hổ.

Cô khóc thất thanh liền tỉnh mộng

Mới biết mộng tưởng vốn không thực.

Vô minh ám chướng như đêm dài

Chưa thành Chánh giác như trong mộng

Sinh tử thế gian thường chẳng thực

Vọng tưởng phân biệt cũng như thế.

Chỉ có “Bốn trí lớn tṛn sáng ”

Phá tối tăm là “Chân diệu giác”.

Vô thường niệm niệm như hổ đói

Hữu vi vô giả khó dừng lâu

Chim ngủ sớm mai đều bay tản

Mạng hết biệt lỵ cũng thế thôi

Theo nghiệp thọ sinh chịu các báo

Ân t́nh cha mẹ không biết nhau.

Thương thay, thân sinh tử phàm phu

Luân chuyển ba đường chịu khổ măi

Nếu biết thiện, ác theo nghiệp cảm

Cần nên sám hối cho tiêu diệt.

Tất cả quả vui của trời, người

Thẹn hổ chánh kiến chính là nhân

Nên phát tâm Bồ đề kiên cố

Mặc áo tinh tấn siêng tu học!

        Lại nữa thiện nam, Bồ tát xuất gia quán sát nhà cửa như cửa biển Tẫn-mă tuôn ra lửa dữ, thu hút, lan tỏa cả bốn ng̣i ở bốn bên, cho đến trăm sông và mọi ḍng đều bị lửa cháy hết.

        Ví như xưa kia trong nước La-đà có một vị Bồ tát tên là Diệu Đắc Bỉ Ngạn. Bồ tát ấy có tâm Từ bi, thường dốc sức đem lại lợi ích cho chúng sinh, nên có những lái buôn khi vào biển t́m của báu luôn mời Bồ tát ấy đồng đi trên thuyền buồm và đều đi được tới bến có châu báu, vượt qua mọi hiểm nạn, không có sự ǵ trở ngại, đến được bờ an vui.

        Về sau, khi Bồ tát đă trăm tuổi, dần dần già yếu, đứng, ngồi phải có người nâng dắt, sức lực không thể đi biển được như trước nữa. Khi ấy, có một thương chủ tới nơi Bồ tát lễ bái cúng dường và thưa với Bồ tát:

        -Tôi muốn vào biển t́m các ngọc báu mong được đại phú quư, để thoát khỏi bần cùng măi măi. Nay thỉnh Bồ tát cùng đi với tôi!

        Bồ tát bảo thương chủ:

        -Nay tôi già cả suy kém, gân cốt, sức lực yếu ớt, không thể vào biển được.

        Thương chủ lại nói:

        -Kính xin Đại sĩ đừng bỏ tâm Từ bi, thương xót và nhận lời thỉnh của tôi. Đại sĩ chỉ an tọa trong thuyền buồm của tôi, không phải làm ǵ cả, đó là sở nguyện của tôi.

        Bồ tát bèn nhận lời thỉnh của người lái buôn. Bồ tát ở trong thuyền lớn chạy vào biển cả, hướng về phía Đông nam để tới nơi có ngọc báu. Trong khi đi, thuyền gặp phải gió Bắc trôi giạt vào biển phía Nam. Gió dữ thổi ngày đêm vun vút không ngừng, thuyền trôi suốt trong bảy ngày, tới một nơi trông thấy nước biển cả biến thành màu sắc vàng như là vàng nung chảy. Những người lái buôn thấy thế bạch Bồ tát:

        -Bạch Bồ tát, do nhân duyên ǵ mà ở đây có dáng nước biến ra sắc vàng như thế?

Bồ tát bảo:

        -Các ông nên biết, chúng ta đă vào biển hoàng kim lớn, v́ có vô lượng, vô biên những thứ vàng ṛng tía sẫm đầy dẫy nơi biển cả, ánh sáng của vàng báu ấy giao ḥa lẫn nhau nên mới có dáng như thế. Các ông đă vượt quá đường thẳng mà giạt vào trong biển này, thời đều phải tự ḿnh dốc cầu, tạo mọi phương tiện để trở về phương Bắc!

        Qua vài ngày, thấy nước biển cả biến thành sắc trắng như ngọc tuyết, Bồ tát bảo:

        -Các ông nên biết, chúng ta nay đă vào biển châu báu lớn, có bạch ngọc trân châu đầy dẫy trong biển, ánh sáng của thứ báu ấy chiếu vào sắc nước, nên có dáng như thế. Các ông nên dốc sức tạo ra mọi phương tiện để trở về phương Bắc!

        Qua vài ngày, nước trong biển cả biến thành sắc xanh như nước lưu ly xanh. Bồ tát bảo:

        -Tôi và các ông đă vào trong biển pha lê xanh, v́ có vô lượng vô biên ngọc báu pha lê xanh đầy dẫy nơi biển cả, sắc pha lê giao ḥa với ánh sáng nên thấy toàn màu xanh như thế!

        Qua vài ngày, nước biển cả lại biến thành sắc hồng như máu hiện ra. Bồ tát bảo:

        -Tôi và các ông đă vào biển pha lê hồng, v́ có vô lượng vô biên các thứ ngọc báu pha lê hồng đầy dẫy nơi biển cả, sắc ngọc báu đỏ hồng, giao ḥa với ánh sáng nên mới có hiện tượng như vậy!

        Qua vài ngày nữa, nước biển liền biến thành sắc đen như nước mực và xa nghe tiếng lửa dữ bùng cháy, nổ ran, như lửa lớn đốt cháy rừng trúc khô; lửa cháy bừng bừng rất đáng sợ hăi, dáng dấp như thế, chưa từng trông thấy, nghe thấy bao giờ. Lại thấy lửa lớn bốc cháy ở phương Nam, như cḥm núi cao hơn trăm trượng, thế lửa bay bốc lên không, lúc hợp, lúc tan, ánh sáng như chớp giật, những h́nh dáng như thế chưa hề gặp phải thật hết sức lạ lùng. Mọi người thấy vậy đều bảo nhau:

        -Thân mạng chúng ta thực khó đảm bảo được.

        Lúc đó Bồ tát bảo mọi người:

        -Các ông hôm nay rất đáng sợ hăi! Sao vậy? Chúng ta đă vào nơi cửa biển Tẫn-mă, bốn vùng biển rộng cùng với các ḍng sông lớn nhỏ trong bốn cơi thiên hạ chảy vào cửa bên phía Bắc, thảy đều bị chết cháy hết. Sở dĩ thế là sao? V́ sức mạnh nơi nghiệp tăng thượng của các chúng sinh, nên tự nhiên lửa trời đốt cháy nước biển. Nếu lửa trời này không đốt cháy nước biển, th́ trong một ngày một đêm tất cả lục địa đều biến thành biển cả, mọi loài chúng sinh hiện có thảy đều trôi hết. Song, nay chúng ta gặp phải gió dữ lớn, trôi dạt vào cửa biển Tẫn-mă này th́ thân mạng mọi người ở đây không c̣n kéo dài bao lâu nữa!

        Khi ấy, có hơn ngàn người ở trong thuyền buồm, đồng thời cất tiếng thảm thương gào khóc, hoặc tự nhổ tóc, hoặc tự vật ḿnh nói lên lời này:

        -Nay chúng ta v́ cầu ngọc báu, vào biển cả gặp phải hiểm nạn này. Thương thay! Khổ thay! Biết dùng phương tiện ǵ để thoát khỏi được nạn này!

        Lúc đó, cả ngàn người đều chí thành quy mạng: hoặc kêu mẹ hiền, hoặc gọi cha từ, hoặc kêu Phạm thiên, hoặc gọi Ma-hê-thủ-la Thiên vương, hoặc cầu Đại lực Na-la-diên thiên. Hoặc có người quy mạng Bồ tát Đắc Ngạn, kính lễ Bồ tát mà bạch:

        -Kính xin Bồ tát cứu vớt bọn chúng tôi!

        Bấy giờ, Bồ tát v́ muốn mọi người khỏi sự sợ hăi, liền nói bài kệ:

Đại trượng phu tối thượng trên đời

Tuy vào cửa chết không sinh sợ.

Người nếu lo buồn mất trí tuệ

Cần nên nhất tâm bày phương tiện.

Nếu được cửa phương tiện khéo léo

Thoát khỏi tám nạn lên bờ kia

Thế nên yên tâm đừng lo sợ

Cần nên khẩn niệm Đại Từ Tôn.

        Bồ tát nói xong bài kệ ấy, liền đốt các hương tốt lễ bái, cúng dường chư Phật mười phương, rồi phát nguyện rằng:

    -Nam mô Thập phương chư Phật! Nam mô Thập phương chư Phật! Chư Đại Bồ tát Ma-ha-tát chúng! Tất cả Hiền thánh Tứ quả, Tứ hướng. Bậc có Thiên nhăn, bậc có Thiên nhĩ, Trí tha tâm, bậc Chúng tự tại! Tôi v́ chúng sinh vận dụng tâm đại bi, giũ bỏ thân mạng, cứu giúp các khổ nạn. Nay tôi có chút thiện căn, là thọ tŕ giới không nói dối của Như Lai trong vô lượng kiếp, tôi chưa từng thiếu phạm bao giờ. Nếu trong một kiếp nào tôi có nói dối, thời nay gió dữ này chuyển mạnh hơn lên; mà nếu giới đức nơi tôi như thế, thực sự chẳng phải hư vọng, thời nguyện đem nghiệp lành ấy, hồi hướng ban bố cho tất cả, tôi cùng chúng sinh sẽ thành Phật đạo và nếu thực không hư, nguyện cho gió dữ, xấu này tức thời ngừng bặt, luồng gió như ư tùy niệm thổi tới. Thân các chúng sinh tức là thân tôi, chúng sinh cùng tôi b́nh đẳng không sai khác!

        Khi Đại Bồ tát ấy phát nguyện “Đồng thể đại bi vô ngại” rồi, chừng khoảng một niệm, gió dữ liền ngừng, tức th́ gặp được gió thuận, giải thoát mọi nạn và đến được nơi chốn có vật báu, thu được nhiều ngọc báu.

        Bấy giờ, Bồ tát bảo với các người lái buôn ấy:

        -Ngọc báu như thế rất là khó gặp được, đời trước các ông đă làm nhiều sự bố thí nên nay mới gặp được các ngọc báu quư như thế. Nhưng trước kia khi tu về bố thí, tâm các ông c̣n có sự tiếc lẫn, v́ nhân duyên ấy, nên nay các ông gặp phải gió dữ. Thương thân các ông t́m được ngọc báu, các ông nên biết hạn lượng, không nên lấy nhiều, v́ nếu tâm tham, buông thả th́ sau bị nạn lớn. Các ông nên biết: Trong mọi thứ châu báu th́ tánh mạng là hơn hết; nếu mạng ḿnh c̣n th́ đó là vật báu vô giá!

        Các lái buôn nhờ được Bồ tát dạy bảo nên sinh tâm biết đủ, không dám lấy nhiều. Mọi người thoát khỏi tai nạn, được nhiều ngọc báu, xa ĺa sự nghèo cùng và đến được bờ kia.

        Các Thiện nam, Bồ tát xuất gia cũng lại như thế, thân cận chư Phật, bạn lành là hàng thiện tri thức, như những người lái buôn kia được gặp Bồ tát; khỏi hẳn sinh tử đến được bờ giác, cũng như thương chủ đạt được phú quư lớn lao. Nhà cửa hữu vi hiện có của thế gian cũng như cửa biển Tẫn-mă đốt cháy mọi ḍng sông. Bồ tát xuất gia cũng thế, quán sát kỹ lưỡng những lỗi lầm sai trái của hàng tại gia. Thiện nam các ông, không nhiễm năm thứ dục lạc thế gian, chán bỏ sinh tử khổ nạn trong ba cơi, tất được vào thành lớn, gồm đủ mọi an vui mát mẻ!

        Khi ấy, Đức Như Lai nói lại ư nghĩa trên bằng lời kệ:

Bồ tát xuất gia quán nhà cửa

Như biển Tẫn-mă đốt mọi ḍng.

Ví như xưa kia nước La-đà

Có một Bồ tát tên Đắc Ngạn

Đă trí, phước lớn, phương tiện khéo

Từ bi dứt duyên, nhiếp hữu t́nh.

Xin Bồ tát ấy đi trên thuyền

Lái buôn được ngọc lên bờ kia.

Song, Bồ tát tuổi già sức yếu

Không ưa lợi tha, ham thiền tịch.

Có một thương chủ thỉnh Bồ tát

Muốn vào biển cả t́m châu báu

Kính xin Bồ tát nhận lời thỉnh

Cho ḿnh giàu có không thiếu thốn.

Khi ấy Bồ tát vận đại bi

Liền nhận lời thỉnh đi trên thuyền.

Khi trương buồm lớn gặp gió thuận

Thẳng hướng Đông nam tới chốn báu

Bỗng gặp gió dữ thổi thuyền buồm

Giạt vào Nam hải lầm chỗ đến.

Trải qua bảy ngày nước biển cả

Thảy đều biến sắc thành vàng ṛng

Vàng ṛng tía bóng đầy trong biển

Ánh ngọc báu hiện sắc chân kim.

Lại qua vài ngày nước biển cả

Biến thành sắc trắng như ngọc tuyết

Trân châu trân bảo đầy khắp bể

Cho nên nước biển thành sắc trắng.

Lại qua vài ngày nước biển cả

Biến thành xanh biếc như lưu ly

Ngọc pha lê xanh đầy biển cả

Cho nên nước thành sắc xanh biếc.

Lại qua vài ngày nước biển cả

Thảy đều biến thành sắc đỏ hồng

Ngọc pha lê đỏ đầy trong bể

Nên biến sắc nước đồng như nó.

Lại qua vài ngày nước biển cả

Biến thành sắc đen như nước mực

Như thế lửa trời đốt cháy hết

Nước biển tất cả như sắc mực.

Biển ấy gọi là cửa Tẫn-mă

Thu hút bốn biển và mọi ḍng

Tất cả thuyền buồm nếu đi qua

Những người đến đấy, phần nhiều chết.

Lửa trời bừng bừng như núi chất

Tiếng nổ rền vang như sấm động

Mọi người xa thấy tâm kinh sợ

Kêu gào, đâm ngực bạch Đại sư.

Khi ấy Bồ tát khởi từ bi

Không tiếc thân mạng, rủ cứu hộ.

Gió dữ liền ngừng, gió thuận khởi

Qua nơi hiểm nạn đến chốn báu

Đều được ngọc quư tới bờ yên

Khỏi hẳn bần cùng hưởng an lạc.

Bồ tát xuất gia cũng như thế

Thân cận chư Phật như thương chủ

Thoát hẳn nhà lửa lên Chân giác

Cũng như thương nhân về bản xứ.

Nhà cửa sở hữu của thế gian

Như cửa biển lớn: Tẫn-mă kia.

Xuất gia thường chán về tại gia

Không nhiễm thế gian rời năm dục

Ưa chốn không nhàn, tâm bất động

Khéo suốt lư chân diệu rộng sâu.

Hoặc ở trong làng xóm nhân gian

Như ong hái hoa không chút tổn

Trong bốn uy nghi thường lợi vật

Không tham vui đời và tiếng khen.

Miệng thường thốt giọng, lời dịu dàng

Ác ngôn thô bỉ không hề khởi

Biết ân, trả ân tu nghiệp thiện

Ḿnh, người đều được nhập “chân thường”

        Bấy giờ, Trưởng giả Trí Quang và các Trưởng giả khác tất cả một vạn người, tuy khác miệng nhưng cùng một giọng bạch Phật:

        -Lành thay, Đức Thế Tôn! Hiếm có thay, Đấng Thiện Thệ! Đúng như thế! Đúng như thế ! Thế Tôn nói ra Chánh pháp vi diệu đệ nhất, phương tiện khéo léo, làm lợi ích cho chúng sinh. Như Phật nói, chúng con hôm nay đều biết: nhà cửa thế gian cũng như lao ngục, tất cả pháp xấu, ác đă từ nhà cửa ấy sinh ra; người xuất gia thực có vô lượng vô biên lợi lạc thù thắng v́ thế chúng con rất thích xuất gia, cho đời hiện tại và vị lai luôn được hưởng những pháp lạc.

        Đức Thế Tôn bảo các Trưởng giả:

        -Quư hóa thay! Quư hóa thay! Các ông phát tâm muốn xuất gia! Nếu những thiện nam, thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, xuất gia tu đạo một ngày một đêm, th́ hai trăm vạn kiếp không phải đọa vào nẻo ác, thường được sinh ở nơi chốn lành, được hưởng sự an vui thắng diệu, gặp được các bậc thiện tri thức, vĩnh viễn tâm không thoái chuyển, được gặp chư Phật, được thọ kư quả Bồ đề, ngồi trên ṭa Kim cang, thành đạo Chánh giác. Song, người xuất gia tŕ giới rất khó, người tŕ giới chính là bậc xuất gia chân chánh đúng nghĩa.

        Lúc đó, các Trưởng giả bạch Phật:

        -Bạch Đức Thế Tôn, chúng con xin giữ giới, tu các hạnh thanh tịnh, nguyện cho chúng con chóng ra khỏi bể khổ sinh tử, nguyện cho chúng con chóng vào được cung báu thường lạc, nguyện cho chúng con rộng độ tất cả chúng sinh, chóng chứng đắc Trí vô sinh!

        Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Di Lặc và Văn Thù Sư Lợi:

        -Các ông Trưởng giả này Ta phó chúc cho các ông, các ông nên khuyến khích họ xuất gia và thọ tŕ tịnh giới!

        Liền đó, chín ngàn người đối trước Bồ tát Di Lặc xin xuất gia tu đạo, thọ tŕ giới luật của Phật; bảy ngàn người đối trước Bồ tát Văn Thù xuất gia tu đạo, thọ giới cấm của Phật. Những người ấy được xuất gia rồi, thành tựu được pháp nhẫn, hội nhập vào cảnh giới bí mật của Như Lai, không c̣n bị thoái chuyển. Vô lượng vạn người phát tâm Bồ đề đến ngôi bất thoái chuyển. Vô số người, trời xa ĺa mọi bụi bặm cấu uế, đạt được pháp nhăn thanh tịnh.

Quyển 4 Hết

back_to_top.png   next.png

[ TRANG CHỦ | KINH ĐIỂN | ĐẠI TẠNG KINH | THẦN CHÚ | HÌNH ẢNH | LIÊN LẠC ]