Trang Chủ      Hình ảnh      Kinh điển      Thần Chú      Liên lạc
 

Niệm Phật Sám Pháp
Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm

Đảnh lễ

Mở đầu phương pháp sám hối Niệm Phật, đệ tử chúng con xin an trụ trong hồng danh Nam mô A Di Đà Phật, để vận dụng năng lực hộ niệm của sáu phương Chư Phật, vận dụng oai lực tuyệt đối, siêu việt và tối thắng của Bản Nguyện A Di Đà mà quy y và đảnh lễ hết thảy Tam Bảo..

Quy y tất cả PHẬT ĐÀ khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.
Quy y tất cả PHẬT PHÁP khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.
Quy y tất cả BỒ TÁT THÁNH HIỀN TĂNG khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.
Nam mô Ta Bà giáo chủ, thiên bách ức hóa thân, THÍCH CA MÂU NI PHẬT, vị bổn sư chỉ dạy pháp môn Niệm Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật, vị đạo sư tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc.
Nam mô Vô lượng Thọ kinh, Phật thuyết A Di Đà kinh, Quán Vô lượng Thọ kinh - ba bộ kinh dạy chỉ rơ ràng pháp môn thành Phật dễ dàng, vắn tắt, nhiệm mầu và rốt ráo, dành cho tất cả chúng sanh thời mạt pháp.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới vạn ức tử kim thân, đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn QUÁN THẾ ÂM Bồ tát.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới vô biên quang trí thân, đại hùng đại lực, đẠi thẾ CHÍ Bồ tát.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới phước trí nhị nghiêm thân, THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT.
Nam mô Lư Sơn đạo tràng, khai sáng Niệm Phật pháp môn, sơ tổ HUỆ VIỄN đại sư Bồ tát.
Nam mô Quang Minh đạo tràng, hoằng dương Niệm Phật pháp môn, nhị tổ THIỆN ĐẠO đại sư Bồ tát.
Nam mô Hộ Giới Hộ Giáo Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, liệt vị Thiện Thần Bồ tát Ma ha tát.

PHẨM THỨ NHẤT
NIỆM PHẬT PHẢI V̀ THOÁT SANH TỬ LUÂN HỒI

Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn v́ thương xót tất cả chúng sanh mà hiện ra nơi đời ác trược, với bốn mươi chín năm thuyết pháp, mục đích mở bày và chỉ rơ Tri Kiến Phật cho chúng sanh và để rồi khiến cho chúng sanh tỏ ngộ và thể nhập vào Tri Kiến Phật, Giáo nghĩa tuy nhiều hơn số cát sông Hằng, nhưng tất cả năm thừa tám giáo đều không ra ngoài pháp môn Niệm Phật.

Do bản nguyện lực của đức A Di Đà, do năng lực hộ niệm của sáu phương chư Phật, cùng với gia tŕ lực của chư vị Đại địa Bồ tát; đệ tử chúng con được gặp duyên lành dẫn dắt vào Chân Lư Tối Thượng bằng cửa ngơ Niệm Phật. Như mùa hạ th́ phải mặt áo vải, như mùa đông phải mặc áo bông, sự tu hành cũng thế, nghĩa là không thể trái với thời tiết và cơ duyên được. Dù đức Đạt Ma tổ sư tái hiện ngay lúc nầy, nếu muốn hợp thời cơ để cứu độ chúng sanh mau được giải thoát, th́ cũng không có pháp nào hơn pháp môn Niệm Phật cả. V́ thế cho nên thuyết pháp mà không phù hợp với căn cơ và tŕnh độ, th́ chắc chắn chúng sanh bị ch́m trôi trong biển khổ vậy.

Đệ tử chúng con vốn là phàm phu vô trí, nên phải một mực y theo lời Phật dạy, chẳng dám tự chuyên, v́ thế mà xưa nay chúng con đều chuyên niệm danh hiệu Đức A Di Đà.

Theo lời Phật dạy là thế nào ?

Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn có lời huyền kư rằng: Đời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta dùng ḷng từ bi thương xót riêng lưu trụ kinh nầy trong khoảng một trăm năm. Nếu có chúng sanh nào gặp được kinh nầy tùy ư sở nguyện đều được đắc độ.

Nơi kinh Đại Tập, đức Thế Tôn dạy rằng: Trong thời mạt pháp có ức ức người tu hành, mà ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương nơi pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi.

Ngài Thiên Như thiền sư sau khi đắc đạo cũng đă khuyên dạy rằng: "Mạt pháp về sau, các kinh diệt hết, chỉ c̣n lại bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục".

Bởi v́ đời mạt pháp về sau, khi các kinh đều ẩn diệt, chúng sanh căn cơ đă yếu kém, ngoài câu niệm Phật th́ không biết pháp môn nào khác để tu tŕ, Nếu không tin câu niệm Phật mà tu hành, tất phải bị luân hồi. Và trong nẻo luân hồi th́ việc lành khó tạo, c̣n điều ác th́ dễ làm, cho nên sớm muộn ǵ cũng bị đọa địa ngục.

Ấn Quang pháp sư, một bậc cao tăng cận đại ở Trung Hoa cũng đă dạy rằng: Thời mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp, nếu ngoài môn niệm Phật mà tu các nghiệp lành khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành th́ có - nhưng nơi phần liễu thoát luân hồi ngay trong hiện thế th́ không. Tuy có một vài vị cao đức, hiện những kỳ tích phi thường, nhưng đó là những bậc Bồ tát nương theo bản nguyện mà làm mô phạm để dẫn dắt chúng sanh đời mạt pháp như kinh Lăng Nghiêm đă nói. Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo tŕnh độ chúng sanh mà thị hiện ngộ đạo, chứ không phải chứng đạo. Chỉ riêng pháp môn Niệm Phật, tuy ít có người tu chứng được Niệm Phật tam muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện lực của ḿnh và Bản Nguyện của Phật A Di Đà mà đới nghiệp văng sanh về cơi Tây Phương Cực Lạc. Khi được về cơi ấy rồi th́ không c̣n luân hồi, không c̣n bị thối chuyển, lần lần tu tập cho đến khi chứng quả vị Vô Sanh.

Những lời huyền kư như trên, cho chúng con thấy pháp môn Niệm Phật rất thích hợp với nhân duyên, thời tiết và tŕnh độ căn cơ của chúng sanh đời nay. V́ thế đức Như Lai mới dùng nguyện lực bi mẫn, lưu trụ kinh VÔ LƯỢNG THỌ để khuyến hóa về môn Niệm Phật. Ngoài ra c̣n có chư Bồ Tát và tổ sư cũng khởi ḷng hoằng nguyện thương xót, tùy theo thời cơ mà chỉ dạy pháp môn Niệm Phật để cứu vớt chúng sanh.

Đệ tư chúng con v́ vô minh khuất lấp, v́ thiếu suy nghĩ chính chắn, v́ tâm mong cầu quá sôi nổi và cạn cợt, v́ dục vọng ngăn che, nên đă gây nhiều cái thấy biết lệch lạc và để rồi, chúng con đă hành tŕ pháp môn Niệm Phật không phù hợp với bản ư của đức Bổn sư và xa cách với Bản Nguyện Cứu Độ của đức A Di Đà.

Đệ tử chúng con đi chùa thấy người khác niệm Phật, th́ cũng bắt chước niệm theo, hoàn toàn không có chủ định.

Hoặc có người niệm Phật nguyện cho tai qua nạn khỏi và cầu cho gia đ́nh b́nh yên, đời sống làm ăn mua bán ngày thêm thịnh vượng và sung túc.

Hoặc có kẻ gặp cảnh đời không vừa ư bèn sinh ra buồn rầu phẫn chí, nên đă niệm Phật cầu mong sao cho kiếp sau đừng gặp phải các cảnh ấy nữa, cũng như mong mọi việc đều thuận lợi nếp sống vinh hoa xinh tốt.

Lại có những người cảm thấy trần gian chẳng có điều ǵ hứng thú, dù cho giàu sang quyền qúy cũng c̣n lo lắng khổ năo, cho nên họ hy vọng dùng công đức niệm Phật để kiếp sau sinh lên cơi Trời, sống lâu, nhàn vui, tự tại.

Lại có những người nghĩ ḿnh tội chướng đă nhiều, trong một kiếp nầy dễ ǵ giải thoát, nên đă niệm Phật cầu cho kiếp sau chuyển nữ thành nam, để xuất gia tu hành, làm bậc cao tăng ngộ đạo. cũng có nhiều người nổ lực niệm Phật để đàn áp vọng tưởng, và chế ngự phiền năo, với mục đích gần gũi là thanh lọc tâm tư để đời sống được thanh tịnh.

Nếu niệm Phật với những thái độ và mục đíùch như vậy đều là sai lầm, v́ lẽ trái nghịch với bản hoài của Phật Thích Ca và quay lưng trước Bản Nguyện Tiếp Độ của Phật A Di Đà. Đây là một tội lỗi lớn lao nhất. Thật vậy, chúng con vẫn hiểu rằng không có tội lỗi nào to lớn và nặng nề cho bằng cái tội hành tŕ trái nghịch với di huấn của đức Bổn Sư, để rồi phụ rẫy công ơn tiếp độ của đức Từ Phụ A Di Đà.

Đệ tử chúng con ngày nay nhờ sự chiếu soi và dẫn dắt của ánh hào quang chư Phật, chúng con mới biết được tội lỗi của ḿnh. Cho nên chúng con xin thành tâm cúi đầu gieo năm bộ phận của cơ thể xuống sát đất, khẩn cầu sám hối:

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật, vị bổn sư chỉ dạy pháp môn Niệm Phật.(3 lạy)
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà PHẬT, vị đạo sư tiếp dẫn văng sanh Cực lạc. (3 lạy)

Như vậy, kể từ hôm nay, đệ tử chúng con phải niệm Phật như thế nào mới phù hợp với bản ư của đức Phật Thích Ca, cùng Bản Nguyện của đức Phật A Di Đà ?

Đức Thế Tôn thấy rơ pháp hữu vi đều vô thường, và tất cả chúng sanh vẫn sẳn đủ đức tướng, trí tuệ như Như Lai, nhưng do v́ mê mờ bản tâm, nên đă tạo ra vô số nghiệp hoặc, rồi cứ măi măi chịu ch́m đắm trong ṿng Sống Chết, Luân Hồi. Dù cho dược sanh lên cơi Trời, khi hưởng hết phước báo rồi th́ cũng phải bị sa đoạ. V́ thế, bản ư của đức Thế Tôn là: Muốn cho chúng sanh do nơi pháp môn Niệm Phật mà sớm thoát khỏi khổ luân hồi.

Chư Phật trong nhiều a tăng kỳ kiếp huân tu phước huệ, cho nên, nếu kẻ nào xưng niệm hồng danh của Như Lai sẽ được vô lượng vô biên công đức. Lại nữa, đức A Di Đà Phật đă lập ra lời thệ nguyện vĩ đại: Nếu chúng sanh nào niệm được danh hiệu của ngài cầu về Cực Lạc, th́ kẻ ấy khi mạng chung sẽ được tiếp dẫn văng sanh Tây Phương và chứng lên ngôi Bất Thoái chuyển. Đem công đức vô lượng của sự Niệm Phật, mà để mong cầu những phước lợi nhỏ nhen ở cơi người cơi trời, chứ không nguyện cầu văng sanh và giải thoát th́ có khác chi trẻ thơ đem hạt châu ma ni vô gía mà đổi lấy viên kẹo để ăn? Như thế thật là uổng phí và không xứng đáng chút nào.

Hơn hết, nguyện lực của Phật th́ rất vĩ đại, cho nên người nào nghiệp chướng dù có nặng nề đến đâu chăng nữa, mà đem cả tấm ḷng chân thật để chuyên cần xưng niệm danh hiệu Phật th́ ngay trong một đời nầy cũng được tiếp dẫn văng sanh về thế giới Cực Lạc. C̣n như mong cầu đời sau làm bậc cao tăng ngộ đạo, là một hành động thiếu trí tuệ và đức tin, làm sao bảo đảm bằng hiện đời sanh về Tây Phương thành bậc Bồ tát ở ngôi Bất Thối Chuyển? Cho nên, bản ư của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh niệm Phật để thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi, và sự giải thoát ấy lại có thể thực hiện ngay trong cùng một kiếp sống.

Nhưng tại sao cần phải thoát ṿng sống chết luân hồi?

Là v́ ở trong nẻo luân hồi, đệ tử chúng con xác thật đă từng chịu nhiều nỗi thống khổ lớn lao. Nếu người học Phật mà không để cái tâm như thật quán sát nỗi thống khổ ấy th́ cho dù học Phật nhiều đến đâu cũng không đạt được kết quả tốt, bởi v́ không có cái tâm lo sợ, cái tâm mong cầu thoát ly khỏi những ảo ảnh cuộc đời. Kinh dạy: nếu tâm lo sợ khó sanh, tất ḷng thành khó phát. Đức Thế Tôn khi xưa thuyết pháp Tứ Diệu Đế cho năm người nhóm ông Kiều Trần Như, trước tiên đă nói về KHỔ ĐẾ, vẫn không ngoài cái ư nầy:

Trong KHỔ ĐẾ, tức là ư nghĩa chân thật về sự khổ, đức Thế Tôn đă thuyết minh tám điều. Tuy nỗi khổ của kiếp người vô cùng vô tận, mà tám điều nầy vẫn giữ phần cương lănh. Đó là: nỗi khổ khi sanh ra, nỗi khổ khi về già, nỗi khổ trong cơn đau yếu, nỗi khổ quằn quại khi sắp lâm chung, nỗi khổ chua xót khi xa cách người thân yêu, nỗi khổ khó nhẫn khi chung đụng với kẻ mà ḿnh oán ghét, nỗi khổ khi mong cầu không toại ư, và nỗi khổ về năm ấm hừng thạnh.

Chúng sanh hết kiếp nầy sang kiếp khác cứ sống chết xoay vần, xuống lên trong sáu nẻo. Đó là cơi Trời cơi Người, cơi a tu la, cơi Bàng sanh, cơi Ngạ quỷ và cơi Địa ngục. Bát khổ tuy ở các loài khác cũng có ít nhiều, nhưng nó là trọng tâm của nỗi khổ ở cơi Người. C̣n cơi Trời tuy vui sướng hơn nhân gian nhưng cũng c̣n có tướng ngũ suy và những điều bất như ư. Cơi A tu la bị sự khổ v́ gây gỗ tranh đua, cơi Bàng sanh như loài trâu, ḅ, lừa, ngựa th́ bị sự khổ chở kéo nặng nề, loài dê lợn vịt gà th́ chịu sự khổ về banh da xẻ thịt. Các loài khác chịu sự khổ về ngu tối, nhơ nhớp, ăn nuốt lẫn nhau. Ở cơi Ngạ quỷ th́ chúng sanh có thân thể hôi hám, xấu xa, bụng lớn như cái trống, cuống họng nhỏ như cây kim, miệng phực ra lửa,chịu đói khát trong ngh́n muôn kiếp. c̣n cơi địa ngục th́ vạc dầu, cột lửa, hầm băng gía, núi gươm đao; sự thống khổ không thể nào mô tả cho hết được.

Bốn cơi A tu la, Ngạ quỹ, Bàng sanh và Địa ngục, trong kinh gọi là tứ ác thú. Từ cơi A tu la theo chiều xuống, nổi khổ ở mỗi cơi cứ tuần tự gấp bội hơn lên. Trong sáu cơi, chúng sanh sống chết xoay vần hết nơi nầy đến nơi kia, như bánh xe chuyển lăn không có đầu mối. Sanh lên cơi Trời và Người th́ rất khó và rất ít, c̣n đọa xuống từ ác thú th́ rất dễ và rất nhiều.

Khi c̣n tại thế, một hôm Đức Phật dùng móng tay vít lên một chút đất, rồi hỏi A Nan: Đất ở móng tay ta sánh với đất của miền đại địa th́ cái nào nhiều hơn? Ngài A Nan đáp rằng: Bạch Thế Tôn, đất của miền đại địa th́ nhiều hơn đất ở móng tay vô lượng phần, không thể thí dụ. Phật bảo: Cũng như thế, A Nan, chúng sanh được lên cơi Trời cơi Người như đất ở móng tay, c̣n đọa xuống ác thú th́ như đất của miền đại địa.

Thí dụ trên, quả thật là một tiếng chuông mai để cho bọn đệ tử chúng con xét suy mà tỉnh ngộ.

Tóm lại, ba cơi đều vô thường, các pháp hữu vi th́ chẳng có chi là vui thú. Người niệm Phật phải cầu sanh về Tây Phương để thoát khỏi ṿng sống chết luân hồi, lần lần tu chứng đến cảnh Thường, Lạc, Ngă, Tịnh của Niết Bàn, chứ không nên mong cầu sự phước lạc hư dối ở thế gian.

Niệm Phật như thế mới phù hợp với mục đích giải thoát, với tâm từ bi cứu khổ ban vui của đức Thế Tôn. Và muốn được như vậy, chúng con phải thường xuyên giám sát và suy tư về tám nỗi khổ của kiếp người, cho đến nỗi khổ vô tận vô biên trong sáu cơi.

Nếu chẳng quán sát như thế, th́ tâm cầu mong giải thoát sẽ khó phát sanh, ư nguyện về Tây Phương sẽ không tha thiết; làm thế nào để ngày kia bước lên bờ giác ngộ và dùng con thuyền bát nhă đẻ độ khắp biển mê ?

Xưa kia đức Phật đă than rằng: Trong đời mạt pháp, các đệ tử của ta chỉ đeo đuổi theo bên ngoài, ít có ai quan niệm đến vấn đề Sanh Tử.

Không tha thiết đến sự liễu thoát Sanh Tử là v́ thiếu Trí Giác, do bởi không thiết thực quán xét nỗi khổ trong khiếp sống luân hồi, những người ấy chẳng những phụ ơn Phật mà cũng ruồng bỏ cả chính ḿnh, thật đáng tiếc thương và đau xót thay !

Đệ tử chúng con, nhờ giáo huấn của đức Bổn Sư, nhờ Ơn Lành thường giăng bủa của đức Từ Phụ, nhờ sự khai thị rơ ràng của Thiện Tri Thức, hôm nay mới biết được mục đích quan trọng và chân chánh của pháp môn Niệm Phật là Niệm Phật th́ phải v́ thoát Sanh Tử Luân Hồi.

Với tấm ḷng tri ân tha thiết và chân thành, chúng con xin đem cả tính mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, vị đạo sư tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc.
Nam mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Hùng Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Liên Tŕ Hải Hội Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát.

PHẨM THỨ HAI
NIỆM PHẬT PHẢI PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ TÂM

Bản hoài đích thật của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh đều thoát ṿng sanh tử, đều được giác ngộ như Ngài cho nên, người niệm Phật cần phải phát bồ đề tâm tức là phát khởi cái tâm chí mong cầu quả vị Phật Đà, quả vị ấy là cứu cánh tối thượng, không c̣n có ǵ hơn, siêu việt cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác; nên phát tâm như vậy c̣n gọi là phát vô thượng bồ đề tâm. Tâm nầy gồm có hai loại chủng tử chính yếu, là Từ Bi và Trí Tuệ, thường hay phát xuất công năng độ thoát ḿnh và cứu vớt tất cả chúng sanh.

Kinh dạy rằng: Bồ Đề tâm làm nhân, Đại Bi làm căn bản, phương tiện Trí Tuệ làm cứu cánh.

Ví như người đi xa th́ trước tiên phải nhận định mục tiêu sẽ đến và phải ư thức chủ đích cuộc hành tŕnh bởi lư do nào và sau cùng th́ phải dùng phương tiện nào để khởi tiến.

Người học Phật cũng phải như thế nghĩa là, trước tiên phải lấy cái quả vị Vô Thượng Bồ Đề làm mục tiêu rốt ráo, lấy ḷng đại bi lợi ḿnh lợi người làm chủ đích thực hành, kế đó, tùy sở thích và căn cơ mà lựa chọn pháp môn để tu tập. Phương tiện c̣n là trí tuệ quyền biến tùy cơ nghi, áp dụng tất cả hạnh thuận nghịch trong khi hành Bồ tát đạo. Cho nên, Bồ đề tâm là mục tiêu cần phải nhận định rơ ràng trước khi hành tŕ.

Kinh HOA NGHIÊM dạy rằng: Nếu quên mất tâm Bồ đề mà tu hành các thiện pháp, đó là ma nghiệp.

Thật vậy, nếu dụng công khổ nhọc mà quên sót mục tiêu cầu thành Phật để lợi ḿnh và lợi người, th́ bao nhiêu các hạnh lành chỉ đem đến kết quả hưởng phước báo nhơn thiên, chung cuộc vẫn bị ch́m mê quanh quẩn trong nẽo luân hồi, chịu vô biên nỗi khổ. Như vậy chẳng là nghiệp ma th́ c̣n gọi là ǵ? Thế th́, phát ḷng vô thượng Bồ đề để lợi ích cho chính mính và cho chúng sanh, là điểm phát tâm rất cần yếu.

Pháp môn Niệm Phật thuộc về pháp đại thừa, nếu phát Bồ đề tâm mà niệm Phật th́ TÂM và PHÁP đều được toàn vẹn, sẽ đi đến quả viên giác kiêm cả tự lợi và lợi tha.

Muốn phát Bồ đề tâm, người niệm Phật cần phải quán sát để phát tâm một cách thiết thực và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong suốt cuộc đời ḿnh. Đệ tử chúng con lâu nay phần nhiều chỉ tu theo h́nh thức mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm thành thử lửa tam độc là tham sân si vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát như đức Phật dạy.

Muốn cho Bồ đề tâm phát sinh một cách thiết thực, cần nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu điểm như sau:

Điểm thứ nhất: GIÁC NGỘ TÂM

Chúng sanh thường chấp sắc thân nầy là Ta. Thường chấp cái tâm thức có hiểu biết có buồn giận thương vui nầy là Ta. Nhưng thật ra, sắc thân nầy là giả dối, ngày kia khi chết đi, ṇ sẽ tan về với đất bụi, cho nên sắc thân tứ đại nầy không phải là Ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là cái thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc thanh hương vị xúc pháp. Cái biết của ta khi th́ có khi th́ không - h́nh ảnh nầy tiêu hoại th́ h́nh ảnh khác hiện ra, tùy theo trần cảnh mà thay đổi luôn luôn, hư giả không thật. Cho nên, tâm thức nầy không phải là Ta.

Cổ đức đă bảo: Thân như bọt tụ, tâm như gió. Huyễn hiện vô căn, không tánh thật.

Nếu giác ngộ thân tâm như huyễn th́ sẽ không c̣n chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới nhơn không, chẳng c̣n Ngă Tướng. Cái Ta của ta đă là không, th́ cái ta của người khác cũng là không nên chẳng c̣n Nhơn Tướng. Cái Ta của ta đă là không, th́ tất cả cái Ta của vô số chúng sanh cũng là không, nên không c̣n Chúng sanh Tướng. Cái Ta đă là không, nên không có bản ngă bền lâu, nên không thật có ai chứng đắc, không có ai thọ nhận, nên không có Thọ Giả Tướng.

Nhơn đă không th́ Pháp cũng không, v́ sự cảnh luôn luôn đổi thay sanh diệt, không có tự thể. Đây lại cần nên nhận rơ: chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà chính v́ nó hư huyễn nên đương thể tức là không? Cả Nhơn cũng thế. Khi giác ngộ là cả Nhơnvà Pháp đều không, th́ giữ ḷng thanh tịnh và trong sáng, không chấp trước mà niệm Phật. Dùng ḷng giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ đề Tâm.

Điểm thứ hai: B̀NH ĐẲNG TÂM

Trong khế kinh, đức Phật đă dạy rằng:Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, là cha mẹ đời quá khứ của ta và là chư Phật đời vị lai.

Chư Phật thấy chúng sanh là Phật nên dùng tâm b́nh đẳng đại bi mà cứu độ. là đệ tử của Phật, chúng con phải tuân theo lời dạy của đức Thế Tôn. Cho nên đối với chúng sanh phải có tâm b́nh đẳng và tôn trọng. Tôn trọng và thừa sự chúng sanh là tôn trọng và thừa sự đức Như Lai, làm cho chúng sanh hoan hỷ tức là làm cho chư Phật hoan hỷ. Kinh HOA NGHIÊM phẩm Phổ Hiền đă dạy như thế. Khi dùng ḷng b́nh đẳng tôn kính mà tu niệm th́ chúng con sẽ dứt được cái nghiệp chướng phân biệt và khinh mạn, rồi nhờ đó mà sẽ dứt trừ được mọi thứ phiền năo để nẩy sinh các đức lành. Dùng ḷng b́nh đẳng như thế mà hành đạo th́ gọi là phát vô thượng Bồ đề tâm.

Điểm thứ ba: TỪ BI TÂM

Đệ tử chúng con cùng tất cả chúng sanh đều sẳn đủ công đức và tướng hảo cùng trí tuệ của Như Lai do v́ mê mờ chân tánh và dấy khởi hoặc nghiệp nên phải bị luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đă rơ như thế chúng con cần phải dứt trừ tâm phân biệt yêu ghét, mà khởi ḷng cảm hối từ bi, để t́m phương tiện độ ḿnh cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Cũng nên nhận rơ rằng Từ Bi khác với Ái Kiến. Ái kiến là ḷng thương yêu c̣n chấp luyến trên h́nh thức, trên t́nh cảm và tâm phân biệt, cho nên kết quả là bị sợi dây t́nh ái buộc ràng.

Từ bi là ḷng xót thương cứu độ mà không phân biệt chấp trước, và xa lià mọi h́nh tướng. Tâm từ bi thể hiện dưới nhiều mặt, nên kết quả được an vui giải thoát và phước huệ càng tăng thêm.

Muốn cho tâm từ bi được thêm rộng lớn th́ phải xét từ nổi khổ của chính ḿnh mà cảm thông đến các nổi khổ khó khăn khó chịu của kẻ khác, tự nhiên sanh ra ḷng xót thương cứu vớt, niệm từ bi của Bồ đề tâm từ đó sẽ phát ra.

Trong kinh HOA NGHIÊM, Ngài PHỔ HIỀN Bồ tát đă khai khị rằng: Bồ tát quán sát chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh nghèo khổ không căn lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh làm những điều ác mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh đă bị ràng buộc mà thích lao ḿnh vào chỗ ràng buộc mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh ch́m đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh xa mất Phật Pháp mà khởi đại bi...

Đă phát đại bi tâm th́ tất phải phát vô thượng Bồ đề tâm, thề nguyền cứu độ. Vậy th́ ḷng đại từ bi là ḷng đại bồ đề phải dung thông nhau. Cho nên, phát từ bi tâm tức là phát vô thượng bồ đề tâm. Dùng ḷng đại bi như thế mà niệm Phật và sống đạo mới gọi là phát Bồ đề tâm.

Điểm thứ tư: HOAN HỶ TÂM

Đă có xót thương th́ phải thể hiện ḷng xót thương áy qua tâm hoan hỷ, hoan hỷ gồm có hai thứ: Tùy hỷ và hỷ xả.

Tùy hỷ là khi thấy trên từ chư Phật và thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sanh có làm được công đức ǵ dù lớn dù nhỏ, đều cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh, thành công, an ổn cũng sanh ra ư niệm vui vẻ, mừng giùm cho họ.

Hỷ xả là dù có chúng sanh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy hiểm độc, tổn hại cho ḿnh, đều cũng an nhẫn, vui vẻ mà bỏ qua.

Ḷng tùy hỷ sẽ trừ được các chướng ngại của sự ganh ghét nhỏ nhen. Ḷng hỷ xă sẽ giải trừ được chướng ngại của sự hận thù báo phục. Bởi v́ tâm hoan hỷ không ngoài sự giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là ḷng bồ đề.

Dùng ḷng hoan hỷ như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát bồ đề tâm

Điểm thứ năm: SÁM NGUYỆN TÂM

Trong kiếp sống luân hồi dằng dặc lâu xa, mọi loài chúng sanh thường đổi thay h́nh dạng và làm quyến thuộc lẫn nhau. Nhưng v́ đệ tử chúng con mê mờ lầm lạc, từ vô thủy cho đến ngày nay, do tâm chấp ngă chỉ muốn lợi ḿnh, nên đă từng làm tổn hại chúng sanh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp Thậm chí đến chư Phật và thánh nhân, v́ tâm đại bi mà hiện ra nơi đời để thuyết pháp cứu độ tất cả các loài, trong ấy có cả chúng con vậy mà đối với ngôi Tam Bảo, chúng con đă từng sanh ḷng vong ân hủy phá.

Ngày nay biết được lỗi lầm của ḿnh, đệ tử chúng con vô cùng hổ thẹn và ăn năn, xin chí thành sám hối cả ba nghiệp thân khẩu ư.

Ngay cả đức Di Lặc Bồ tát dù đă chứng ngôi vị Bất Thoái, v́ muốn mau đắc quả Phật mà mỗi ngày c̣n lễ sám sáu thời. Vậy chúng con xin đem thân nghiệp kính lễ Tam Bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu mong được tiêu trừ, và đem ư nghiệp thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm.

Sau khi sám hối, chúng con xin dứt hẳn tâm nhơ và hạnh ác, không c̣n cho tiếp tục tái phạm nữa, để đi đến chỗ tâm và cảnh đều KHÔNG, đó mới thật là sám hối chân chánh. Lại phải phát nguyện rằng: Nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, nguyện độ khắp chúng sanh, nguyện hoằng truyền pháp môn Niệm Phật - để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ơn nặng, đó là ơn Tam Bảo, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng cùng thiện hữu trí thức, cuối cùng là ơn của tất cả chúng sanh.

Điểm thứ sáu: BẤT THOÁI TÂM

Dù đă sám hối, phát nguyện tu hành nhưng nghiệp hoặc và ma chướng không dễ ǵ dứt, và sự lập bồi công đức không dễ ǵ thành tựu. Mà con đường hồ đề đi đến quả viên giác xa vời vợi lại đầy cam go chướng ngại. Ngài XÁ LỢI PHẤT trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại bồ đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ để khoét một con mắt cho người ngoại đạo, bị họ không dùng, liệng xuống đất rồi nhổ nước dăi, lấy chân chà đạp lên trên. Ngài liền thối thất đại thừa tâm.

Như vậy, muốn giữ vững tâm nguyện, là điều không phải dễ dàng. Đệ tử chúng con nếu muốn đạo tâm không thối chuyển th́ phải lập thệ nguyện thật kiên cố.

Đệ tử chúng con thề rằng: thân nầy dẫu chịu vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không v́ thế mà phạm vào điều ác, mà thối thất trên bước tu hành. Dùng ḷng bất thoái chuyển như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát vô thượng Bồ Đề tâm.

Đó là sáu yếu điểm bắt buộc phải có của người phát vô thượng bồ đề tâm. Nếu không dựa vào sáu điểm ấy để lập chí tu hành th́ dù nói phát tâm, cũng chỉ là nói suông mà thôi, không thể nào đi đến Phật quả. Trước mắt chúng con chỉ có hai con đường: luân hồi và giải thoát. Đường giải thoát tuy có lắm nỗi gian nan, nhưng mỗi bước đều đi lần lần đến chỗ sáng suốt an vui. Đường luân hồi dù được tạm hưởng phước báo nhơn thiên, nhưng kết cuộc phải chuyển đến cảnh tam đồ, ác đạo, sự khổ vô biên không biết đến kiếp nào mới ra khỏi.

V́ vậy, mà đệ tử chúng con quyết chí niệm Phật suốt đời, nguyện v́ hết thảy chúng sanh mà phát vô thượng bồ đề tâm mà hoàn thành Phật Đạo. Bởi lẽ muốn sớm chứng đắc Phật quả, muốn thành tựu bồ đề tâm nguyện, mà chúng con phải dốc ḷng cầu văng sanh cực lạc cũng như phải niệm Phật chuyên cần.

NHỮNG HUẤN THỊ VỀ BỒ ĐỀ TÂM

Kinh HOA NGHIÊM có dạy rằng: Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ tát phát ḷng vô thượng bồ đề là: khởi ḷng đại bi cứu độ tất cả chúng sanh khởi ḷng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi ḷng khắp cầu chánh pháp tất cả không sẻn tiếc. Khởi ḷng thú hướng rộng lớn cầu Nhất Thiết Trí. Khởi ḷng đại từ vô lượng khắp nhiếp tất cả chúng sanh. Khởi ḷng không bỏ rời các loài hữu t́nh, mặc áo giáp kiên thệ để cầu bát nhă ba la mật. Khởi ḷng không siểm dối v́ cầu được trí Như Thật. Khởi ḷng thật hành y như lời nói, để tu đạo Bồ tát. Khởi ḷng không dối đối với chư Phật v́ ǵn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi ḷng nguyện cầu Nhất Thiết Trí cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không ngừng nghỉ. Bồ tát dùng những công đức Bồ đề tâm nhiều như vi trần số cơi Phật như thế nên được sanh vào nhà Như Lai.

Nầy thiện nam tử! Như ngươi học bắn trước hết phải tập thế đứng, rồi sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ tát muốn học đạo Nhất Thiết Trí của Như Lai, trước hết phải an trụ nơi Bồ đề tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật Pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hăy c̣n thơ ấu song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ tát tuy mới phát Bồ đề tâm tu bồ tát hạnh, nhưng tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải nể v́ kính trọng.

Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, song đă có đầy đủ tướng trạng của vua, mà các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sanh tôn quư. Cũng thế, Bồ tát tuy đối với các nghiệp phiền năo chưa được tự tại, song đă đầy đủ tướng trạng Bồ đề, hàng nhị thừa không thể sánh bằng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhất.

Thiện nam tử! Như người máy bằng gỗ nếu không có mấu chốt th́ các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế Bồ tát nếu thiếu Bồ đề tâm th́ các hạnh lành đều bị phân tán, không thể thành tực tất cả Phật Pháp.

Thiện nam tử! Như chất kim cương th́ tất cả mọi vật không thể phá hoại, trái lại có thể phá hoại tất cả vật khác, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ đề tâm của Bồ tát cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp giáo hóa chúng sanh, tu các khổ hạnh, việc hàng nhị thừa không thể làm mà Bồ tát đều làm đuợc, song kết cuộc vẫn chẳng chán mỏi giảm hư.

PHỔ HIỀN Bồ tát dạy rằng: Thiện nam tử! Bồ tát v́ điều phục giáo hóa tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. V́ trừ diệt khổ tụ cho tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. V́ đem cho tất cả chúng sanh sự an vui đầy đủ nên phát bồ đề tâm. V́ dứt trừ sự ngu tối cho tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. V́ đem lại Phật Trí cho tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. V́ tùy thuận lời dạy của Như Lai khiến chư Phật hoan hỷ nên phát bồ đề tâm. V́ muốn thấy sắc thân và tướng hảo của tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. V́ cung kính cúng dường tất cả chư Phật nên phát bồ đề tâm. V́ muốn nhập vào trí tuệ rộng lớn của tất cả chư Phật nên phát bồ đề tâm. V́ muốn hiển hiện các Đức, Lực, Vô Úy của chư Phật nên phát bồ đề tâm.

Đệ tử chúng con vẫn nhận thức tất rơ rằng: nẻo luân hồi có quá nhiều chướng nạn, nếu chưa chứng quả Vô Sanh th́ khi chuyển sang kiếp sống khác ắt dễ bị hôn mê sa đọa.

Cho nên, muốn bảo đảm cái tâm vô thượng bồ đề không bị thối thất và để dễ dàng thành măn chí nguyện độ sanh, chúng con phải gấp rút thanh toán vấn đề Sống Chết bằng cách cầu văng sanh cơi Cực Lạc.

Như vậy, nhờ sự giáo huấn của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, nhờ oai lực vĩ đại của bản nguyện A Di Đà, mà từ nay chúng con đă biết rơ Niệm Phật th́ phải phát vô thượng Bồ đề tâm.

Với tấm ḷng tri ân tha thiết và chân thành, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đại từ Đại bi A Di Đà Phật vị đạo sư tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc.
Nam mô Cứu khổ cứu nạn Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ tát.
Nam mô Đại hùng Đại lực Đại thế chí Bồ tát.
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát.

PHẨM THỨ BA
NIỆM PHẬT PHẢI ĐẶT TRỌN L̉NG TIN VÀO LỜI PHẬT DẠY

Chúng sanh nơi thế giới ta bà này, đang ở vào đời ác, đủ năm thứ nhơ bẩn, phiền năo th́ nặng và nhiều, hoàn cảnh bên ngoài th́ ác liệt nên sự tu hành không dễ ǵ tiến bộ. Đức Bổn sư v́ quá thương xót nên vận dụng ḷng Bi Trí đặc biệt mở ra pháp môn Niệm Phật. Người tu môn này tuy chưa dứt phiền năo, mà có thể mang cả nghiệp hoặc của ḿnh, trở về sinh sống bên cơi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Khi về đến Tây Phương rồi, nhờ nhiều thắng duyên của cảnh ấy nên sự tiến tu chứng đạo rất dễ dàng như cầm lấy món đồ trước mắt. Sự thành tựu lớn lao như vậy là do tất cả đều đặt trên L̉NG TIN.

Kinh HOA NGHIÊM dạy rằng: Ḷng tin là bước đầu vào Đạo, là mẹ của tất cả công đức. Ḷng tin hay nuôi lớn các căn lành, ḷng tin hay thành tựu quả bồ đề của chư Phật

Thế nên, đối với người niệm Phật th́ đức tin có tánh cách rất trọng yếu. Nếu mất đức tin, chẳng những nền tảng tiến đạo phải bi sụp đổ, mà công hạnh giải thoát cũng không thành. Đức tin này không phải là mê tín, mà chính là ḷng tin nương theo trí tuệ, là sự đặt tron vẹn niềm tin vào lời dạy của Phật, Bồ tát và chư vị Tổ sư.

Tại sao đă nương theo trí tuệ, lại c̣n phải đặt trọn niềm tin vào lời dạy của Phật và Tổ? Bởi v́ môn niệm Phật thuộc về pháp đại thừa, mà đă là đại pháp th́ chắc chắn phải nói về nhiều cảnh giới siêu việt khác thường, nên có những điều mà trí tuệ phàm phu không thể suy lường nỗi.

Cho nên, trong các kinh điển đại thừa, có nhiều chỗ đức Phật bảo đừng nói cho kẻ nhiều kiến chấp và thiếu ḷng tin nghe. V́ chỉ e họ sanh ḷng khinh báng mà gây thêm lỗi lầm. V́ vậy, đệ tử chúng con khi đọc tụng kinh điển đại thừa, có chỗ nào dùng trí tuệ mà hiểu được th́ rất tốt - c̣n chỗ nào suy gẫm nhiều mà không thấu đạt th́ chúng con vẫn đặt tron vẹn ḷng tin nơi lời chỉ dạy của đức Thế Tôn. Như thế, mới gặt hái nhiều phần lợi ích.

Trong kinh A Di Đà, đức Thế Tôn cũng đă nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng đây là pháp khó tin khó hiểu, và nói pháp này ra, quả thật là điều rất khó tin, và ḷng tin là điều quan trọng bậc nhất.

Chư vị Tổ sư cũng đă dạy rằng: Pháp môn niệm Phật rất khó thâm tín, chỉ duy hạng phàm phu đă gieo trồng căn lành niệm Phật và bậc đăng địa Bồ tát mới tin nhận được mà thôi. Ngoài ra, những chúng sanh khác cho đến hàng nhị thừa là Thanh Văn và Duyên Giác hoặc quyền vị Bồ tát, đôi khi cũng không tin nhận pháp môn này.

Đệ tử chúng con, nhờ năng lực nhiếp thọ của đức A Di Đà, nhờ sự gia tŕ của sáu phương chư Phật, nên mới có được ḷng tin vào lời dạy của đức Bổn Sư, nhận chắc rằng: cơi Cực Lạc từ nhân vật đến cảnh giới đều là thật. Tin chắc chắn vào Bản Nguyện Cứu Độ của Phật A Di Đà, nên chúng con dù nghiệp nặng đến đâu chăng nữa, nếu xưng niệm danh hiệu Ngài th́ cũng quyết định sẽ được tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc. Chúng con tin rằng niệm Phật th́ thành Phật chắc chắn nhân nào quả nấy không thể sai lạc mảy may, và nếu nguyện về cơi Phật th́ quyết định sẽ được thấy Phật và được văng sanh. Đây là một điều vô cùng hiển nhiên khỏi phải cần minh chứng thêm nữa.

Đệ tử chúng con vẫn tin và hiểu rằng pháp môn Niệm Phật gồm nhiếp cả Thiền, Giáo, Luật, Mật. Bởi v́ khi niệm Phật dứt trừ tất cả vọng tưởng và chấp trước, rồi đưa đến chỗ minh tâm kiến tánh, đó tức là Thiền. Sáu chữ hồng danh bao gồm vô lượng vô biên ư nghĩa mầu nhiệm, không có một thứ giáo lư nào mà không được chứa đựng ở trong một câu Phật hiệu đó là Giáo. Niệm Phật chuyên cần sẽ làm thanh tịnh thân nghiệp, khẩu nghiệp và ư nghiệp, đưa hành giả đến cảnh giới sâu mầu, trong sạch vắng lặng, đó là Luật. Danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật có công năng như một câu thần chú đưa chúng con vượt qua biển khổ Sanh Tử mà thấu bờ bên kia, lại c̣n giải trừ oán kết tiêu diệt nghiệp chướng, hoàn măn sở nguyện, hàng phục ma ngoại, đó là Mật.

Trong kinh, Phật dạy rằng: Chí thành xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật sẽ được tiêu trừ tội nặng trong tám mươi ức kiếp sanh tử.

Hơn nữa, những người có căn tánh đại thừa, tất phải hiểu rằng NIỆM PHẬT ĐỂ THÀNH PHẬT. Nếu chỉ hiểu niệm Phật cốt để ngăn trừ vọng tưởng và phiền năo tức là đă lạc vào Ngũ đ́nh tâm quán của Tiểu Thừa.

Tại sao niệm Phật là để thành Phật ?

Bởi v́ khi vừa đề khởi câu Phật hiệu, th́ quá khứ, hiện tại và vị lai đều mất cả, tuy có tướng mà ĺa tướng, tức sắc là không, hữu niệm đồng vô niệm, đi ngay vào cảnh giới Bản Giác ly niệm của Như Lai, cho nên đương thể tức là Phật chứ c̣n chi nữa?

Huống chi, kinh dạy rằng: Phật A Di Đà thường phóng hào quang nhiếp thọ tất cả chúng sanh niệm Phật ở mười phương không bỏ sót.

Thật vậy, đức A Di Đà đă lập ra bốn mươi tám lời thệ nguyện vĩ đại, nhằm đưa hết thảy chúng sanh thành tựu Phật Đạo tối thượng. Bản Nguyện của Ngài phát xuất từ tấm ḷng đại từ đại bi nên đă có một oai lực tuyệt đối, thù thắng và siêu việt nhân quả.

Đệ tử chúng con vốn là những hữu t́nh bị chi phối bởi vô thường và bất lực trước kiếp sống hữu hạn bị trói buộc bởi nghiệp lực, hoàn toàn bị ước định bởi không gian và thời gian và luật nhân quả. Cho nên chúng con không bao giờ có thể đạt đến Niết bàn hay Giác ngộ được. Sự bất lực không thể tự đạt đến giải thoát, vốn nằm ngay trong bản chất của kiếp sống. Càng nổ lực th́ chúng con càng vướng mắc thêm vào những mạng lưới rối rắm, cho nên, chúng con cần đến một sự trợ lực phát sinh từ một căn nguồn nào khác, hơn là cái kiếp sống giới hạn nầy: đó là Bản Nguyện của đức A Di Đà Phật.

Nhưng Bản Nguyện không phải là một căn nguồn xa lạ và ở ngoài chúng con. V́ sao vậy? V́ nếu là hoàn toàn ở bên ngoài th́ Bản Nguyện ấy không thể hiểu biết ǵ về những giới hạn của chúng con và do đó không thể cảm thông với chúng con. Bản Nguyện của A Di Đà thật ra chính là sự sống của chúng con và là nguồn rung động tâm linh của chúng con, được biểu thị qua một thực thể gọi là SỨC MẠNH TAÂM LINH của đức A Di Đà Phật.

Như vậy, Bản Nguyện ấy vẫn hằng ở trong chúng con, nhưng lại luôn luôn ở ngoài chúng con. Nếu không ở trong chúng con th́ ắt không thể hiểu và cứu vớt chúng con. Nếu không ở ngoài chúng con th́ chắc hẳn lại nhận chịu cùng những giới hạn của chúng con. Đây là một vấn đề vĩnh cữu. Hữu và không Hữu Ở trong mà lại ở ngoài. Tuy Vô Hạn nhưng sẳn sàng phụng sự Hữu Hạn - đầy ư nghĩa nhưng lại chẳng có ư nghĩa ǵ cả?

Thật ra, Bản Nguyện chỉ là lực dụng của Phật Trí, mà Phật Trí th́ vượt lên trên mọi khả năng lĩnh hội của toàn phàm phu như chúng con.

Là phàm phu vô trí, chúng con chỉ tin theo lời Phật, và chỉ nương tựa vào năng lực cứu độ tuyệt đối của đức A Di Đà mà niệm Phật cầu nguyện văng sanh Cực Lạc.

Để biểu lộ ḷng tin mănh liệt và sâu sắc ấy, đệ tử chúng con quyết chí niệm Phật suốt đời, v́ đặt trọn ḷng tin vào đức Phật và lời Phật dạy, không c̣n một ư tưởng nghi ngờ. Từ nay trở về sau, đệ tử chúng con luôn luôn ghi nhớ rằng Niệm Phật phải đặt trọn ḷng tin vào đỨc Phật và lỜi PhẬt dẠy

Với ḷng tin vô cùng vững mạnh, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ tát.

PHẨM THỨ TƯ
NIỆM PHẬT PHẢI PHÁT NGUYỆN VĂNG SANH CỰC LẠC

Yếu chỉ của pháp môn niệm Phật là Tín, Nguyện, Hạnh, muốn vào cửa pháp nầy, trước tiên hành giả phải tin cơi Cực Lạc là có thật, và đức A Di Đà luôn luôn hộ niệm, sẳn sàng tiếp dẫn chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu của Ngài. Sau khi đă có ḷng tin, th́ hành giả phải phát tâm chân thiết cầu thoát ly khỏi Ta bà đầy khổ lụy và chướng duyên, mà mong muốn sanh về miền Cực Lạc an vui, sự thanh tịnh trang nghiêm vô lượng để tiến tu, hoàn thành mục đích tự độ và độ tha. Đó là Nguyện. Và sau khi đă phát nguyện như thế, lại cần phải thiết thực xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật để được tiếp dẫn. Đây gọi là Hạnh.

Ngẫu ích đại sư dạy rằng: Được văng sanh hay chăng, toàn do Tín Nguyện có hay không - phẩm vị thấp hay cao, đều bởi hành tŕ sâu hoặc cạn. Nếu không Tín Nguyện, th́ dù tŕ niệm câu hồng danh cho đến gió thổi không vào, mưa sa chẳng lọt vững chắc như tường đồng vách sắt, cũng không được văng sanh. Nếu tín nguyện bền chắc, th́ khi lâm chung chỉ xưng danh hiệu mười niệm hay một niệm cũng được văng sanh. Trái lại, việc hành tŕ tuy vững như vách sắt tường đồng mà tín nguyện yếu kém, th́ kết quả chỉ hưởng được phước báo nhơn thiên mà thôi.

Như vậy, sự phát nguyện thật vô cùng cần thiết và quan trọng. Cho nên đức Bổn Sư cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong kinh A Di Đà: "Lại nữa - Xá Lợi Phất, chúng sanh được về cơi Cực Lạc đều là hàng A Bệ Bạt Trí, trong ấy có rất nhiều bậc nhất Sanh Bổ Xứ số lượng rất đông, không thể dùng toán số mà tính biết được, chỉ có thể lấy số "vô lượng vô biên tăng kỳ" để nói mà thôi. "Xá Lợi Phất! Chúng sanh nghe rồi phải nên phát nguyện cầu sanh về cơi nước kia. Bởi tại sao? V́ được cùng các bậc thượng thiện nhân như thế, đồng họp một chỗ..".

...Xá Lợi Phất! Ta thấy sự lợi ích đó, nên nói lời nầy: nếu có chúng sanh nào nghe lời nói đây phải nên phát nguyện cầu sanh về quốc độ ấy.

...Xá Lợi Phất! Nếu có người đă phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về nước Phật A Di Đà, th́ những người đó hoặc đă sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, đều được không thối chuyển nơi quả vị vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở cơi nước kia. Cho nên Xá Lợi Phất các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có ḷng tin th́ phải nên phát nguyện cầu sanh về cơi nước kia...

Như trên đây, chúng con thấy đức Thích Ca măi nhắc đi nhắc lại hai chữ PHÁT NGUYỆN lời và ư đều khẩn thiết. Cho đến phần kết thúc kinh A Di Đà, Ngài cũng vẫn đôi ba phen bảo chúng con phải phát nguyện cầu văng sanh Cực Lạc.

Tại sao như vậy ? V́ nếu được về cơi Cực Lạc sẽ được ở cảnh giới vô cùng mầu nhiệm trang nghiêm, được thân h́nh kim cương, đủ ba mươi hai tướng tốt, dứt hẳn nỗi khổ sanh ǵa bịnh chết, được gần gũi chư Phật và chư đại Bồ tát, được hội họp với các bậc thượng thiện nhân, được thần thông tam muội, không c̣n thoái chuyển nơi quả vị Vô thượng Bồ đề.

Bởi trí tuệ của Phật nh́n thấy rất nhiều sự lợi ích như thế, nên Ngài mới vận ḷng từ bi, v́ cứu độ mọi loài hữu t́nh mà khuyên nên phát nguyện văng sanh Cực Lạc. Ḷng bi mẫn của đức Thích Ca Thế Tôn thật là vô lượng, khiến chúng con hôm nay đọc lại lời giáo huấn tha thiết của Ngài, mà tâm tư không khỏi xúc động. Và y theo lời dạy của đức Bổn Sư, đệ tử chúng con từ nay nhận thức rơ ràng rằng: Niệm Phật th́ phải phát nguyện, cầu văng sanh thế giới Cực Lạc.

Chúng con cùng nhau chấp tay, quỳ xuống, một ḷng cầu văng sanh.

Cúi lạy phương Tây, cơi An Lạc.
Tiếp dẫn chúng sanh Đại Đạo Sư.
Nay con phát nguyện, nguyện văng sanh.
Nhờ lượng từ bi thương nhiếp thọ.

Đệ tử chúng con khắp v́ bốn ơn ba cơi pháp giới chúng sanh cầu đạo Bồ đề nhất thừa của Phật, chuyên tâm tŕ niệm hồng danh đức Phật A Di Đà, nguyện sanh Tịnh Độ.

Lại bởi chúng con, nghiệp nặng phước khinh, chướng sâu huệ cạn, nhiễm tâm dễ động, tịnh đức khó thành. Nay đối Từ Tôn, kính gieo năm vóc bày tỏ một ḷng, chí thành sám hối.

Con và chúng sanh, khoáng kiếp đến nay, mê bản tịnh tâm, buông tham sân si, nhiễm dơ ba nghiệp, vô lượng vô biên, tội cấu đă gây vô lượng vô biên, nghiệp oan đă kết nguyện đều tiêu diệt.

Nguyện từ hôm nay, lập thệ nguyện sâu, xa ĺa pháp ác, thề không c̣n tạo, siêng tu đạo thánh, thề chẳng biếng lui, thề thành Chánh Giác, thề độ chúng sanh. Xin đức Từ Tôn dùng nguyện từ bi chứng biết ḷng con, thương xót đến con, gia bị cho con. Nguyện khi thiền quán hoặc lúc mộng mơ, được thấy thân vàng A Di Đà Phật, được chơi cơi Tịnh của đấng Đạo Sư, được nhờ Từ Tôn cam lộ rưới đầu, quang minh chiếu thể, tay xoa đảnh con, áo đắp thân con, khiến cho chúng con chướng cũ tự trừ, căn lành thêm lớn, mau tiêu phiền năo, chóng phá vô minh, viên giác diệu tâm, sáng bừng mở rộng, tịch quang cảnh thật, thường được hiện tiền.

Đến lúc lâm chung biết ngày giờ trước, thân không tất cả bệnh khổ ách nạn tâm dứt tất cả tham luyến mê hoặc các căn vui đẹp chánh niệm phân minh, xả báo an lành như vào thiền định, Phật A Di Đà và Quán Thế AÂm cùng Đại Thế Chí cùng chư hiền thánh, ánh lành tiếp dẫn, tay báu dắt d́u, lầu các tràng phan nhạc trời hương lạ, Tây Phương cảnh thật bày hiện rơ ràng, khiến cho chúng sanh kẻ thấy người nghe mừng vui khen cảm phát Bồ đề tâm.

Bấy giờ thân con ngồi đài kim cang bay theo sau Phật, khoảng khảy ngón tay sanh vào sen báu nơi ao thất bảo ở cơi Tây Phương. Rồi khi hoa nở thấy Phật Bồ tát, nghe tiếng pháp mầu chứng Vô Sanh Nhẫn, giây phút lại đi thừa sự chư Phật. Nhờ ân thọ kư, được thọ kư xong, năm nhăn sáu thông vô lượng trăm ngàn môn đà ra ni, tất cả công đức thảy đều thành tưụ. Từ đó về sau, không rời Cực Lạc, trở lại Ta Bà phân thân vô số khắp cả mười phương, dùng sức thần thông, tự tại khó nghĩ, và các phương tiện độ thoát chúng sanh đều khiến ĺa nhiễm, chứng được tịnh tâm, đồng sanh Tây Phương, lên ngôi Bất Thoái.

Nguyện lớn như vậy, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nghiệp và phiền năo thảy đều vô tận. Đại nguyện chúng con cũng không cùng tận. Nay con lạy Phật phát nguyện tu tŕ, xin đem công đức hồi thí hữu t́nh, bốn ơn khắp báo, ba cơi đều nhờ, pháp giới chúng sanh. đồng thành chủng trí.

Phát nguyện xong rồi, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ chư Phật.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đại Từ Bi Phụ A Di Đà Phật, vị đạo sư tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát.
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ tát.

PHẨM THỨ NĂM
NIỆM PHẬT PHẢI HÀNH TR̀ CHO THIẾT THỰC

Đă có ḷng tin vào pháp môn Niệm Phật, và đă lập chí nguyện văng sanh Cực Lạc, mà không chịu niệm Phật chuyên cần, th́ cũng ví như chiếc thuyền dù có bánh lái đầy đủ mà không chịu chèo, th́ cũng không thể văng sanh. Có kẻ nghe nói: "chỉ cần có tín nguyện chân thực và tha thiết th́ khi lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết được văng sanh Tây Phương". Th́ liền nghĩ rằng, nếu như thế th́ cầøn chi phải vội gấp, cứ để đến lúc sắp chết th́ lúc đó bắt đầu niệm Phật cũng được.

Ư niệm này quá sai lầm bởi v́ quá xem thường hành môn Niệm Phật. Phải biết rằng, theo trong kinh văn, cái điểm trọng yếu để văng sanh là: người ấy khi lâm chung ḷng không điên đảo.

Quả thật, lúc lâm chung ḷng không điên đảo th́ mười niệm hay một niệm cũng được văng sanh, nhưng ai dám quả quyết rằng ḿnh khi lâm chung ḷng chắc chắn không điên đảo? Nếu lúc b́nh thời mà không tinh chuyên dụng công th́ đến khi mạng sống chấm dứt, bốn đại phân ly, sức nghiệp dồn dập, thân tâm bị sự khổ làm cho kinh hoàng mê loạn, sợ e một niệm cũng không thể đề khởi, huống chi là mười niệm ?

Muốn cho khi lâm chung có phần bảo đảm, th́ lúc b́nh thời hành giả phải chuyên cần niệm Phật cho nhiều, và gắng tu tập tŕnh độ "nhất tâm bất loạn".

Hơn nữa, đức A Di Đà Phật đâu có đợi đến lúc sắp lâm chung của hành giả th́ mới hiện thân tiếp dẫn?

Mà thật ra, Ngài đă và đang cứu độ chúng con ngay chính trong đời sống nầy, từng giờ từng phút. Qua lực dụng của danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, mà Bản Nguyện của Ngài đang len lỏi vào cùng tận ngơ ngách của tâm hồn chúng sanh, để đưa muôn loài trở về với Bản Thể Văng Sanh. Và c̣n nữa, Bản Nguyện của Ngài đang lan tràn trên mọi ngả đường trần gian theo từng bước chân của chúng con, để cứu vớt chúng con trong từng hành vi trong từng cử chỉ và đưa toàn bộ nếp sống chúng con trở về với thể tánh giác ngộ của ḿnh.

Chính v́ vậy mà chư Tổ sư đă dạy rằng: Lúc niệm Phật chính là lúc văng sanh và cũng là lúc độ sanh.

Điều này hiển nhiên có ư nghĩa như vậy: ngay trong từng câu niệm Phật, th́ sức mạnh tâm linh của A Di Đà đang khai sinh trong chúng con một con người của Phật Tánh và Bản Nguyện của A Di Đà đang làm trọn vẹn cuộc đời chúng con bằng những Ân Huệ nhiệm mầu, thù thắng, viên măn không thể nghĩ và bàn.

Cho nên, hành giả chân chính của pháp môn Niệm Phật th́ phải luôn luôn cung kính và chí thành xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật liên tục, không gián đoạn, không xao lăng. Giả thử có lúc tạm quên, đành xa rời danh hiệu, th́ phải lập tức hồi tưởng đến Bản Nguyện A Di Đà và gấp rút niệm Phật trở lại, quyết không để cho tâm thức ch́m đắm trong vọng tưởng.

Trong các môn niệm Phật là: Thật Tướng Niệm Phật, Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật, và Tŕ Danh Niệm Phật. Th́ chỉ có môn TR̀ DANH NIỆM PHẬT là đặc sắc, thù thắng hơn cả, v́ công hiệu mau lẹ, dễ dàng, bao gồm mọi căn cơ, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể thực hành bất kỳ lúc nào và bất luận ở nơi đâu.

Chấp tŕ danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật sao cho tinh chuyên và chân thành th́ sẽ có cơ cảm; ngay trong hiện đời được thấy chánh báo và y báo của cơi Cực Lạc, tỏ ngộ bản tâm, đời nầy dù chưa chứng Thật Tướng nhưng sau khi văng sanh cũng quyết định được chứng đắc. V́ thế, mà Ấn Quang Tổ sư đă khen rằng: Chỉ duy tŕ danh mà chứng Thật Tướng không cần quán tưởng cũng thấy Tây Phương.

Thật vậy, pháp môn Niệm Phật là con đường tắt để chứng đạo, mà phương thức Tŕ Danh lại là con đường tắt trong pháp môn Niệm Phật.

Ngẫu Ích đại sư, vị tổ thứ chín của tông phái Niệm Phật, đă khai thị rằng: Muốn đi tới chỗ cảnh giới nhất tâm bất loạn, th́ không có cách chi kỳ diệu khác. Trước tiên, hành giả cần phải LẦN CHUỖI VÀ GHI SỐ, niệm niệm rành rẽ rơ ràng, mỗi ngày ấn định cho ḿnh hoặc hai muôn ba muôn cho đến mười muôn câu Phật Hiệu, và giữ khoá tŕnh quyết định chẳng thiếu, thề một đời không thay đổi. Niệm như thế lâu ngày lần lần thuần thục mà không niệm vẫn tự niệm, chừng đến khi ấy th́ ghi số hay không ghi số cũng được.

Và niệm như thế kèm theo Tín Nguyện tha thiết mà không được văng sanh, th́ chư Phật ba đời đều mang lỗi nói dối. Khi đă sanh về Cực Lạc th́ tất cả pháp môn đều hiện tiền.

"Nếu ban sơ v́ cầu cao và ỷ lại sức ḿnh, và lại muốn tỏ ra không trước tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại. Đó là tín nguyện chẳng sâu bền, hành tŕ không cố gắng cho hết sức; dù có giảng suốt mười hai phần giáo, dù có giải ngộ một ngàn bảy trăm công án th́ đó cũng là cái việc ở bên bờ sanh tử nầy mà thôi "

Đệ tử chúng con thọ nhận Ơn Lành Cao Cả của sáu phương chư Phật đồng hộ niệm, đồng gia bị, cho nên chúng con được làm thân người, được gặp thiện tri thức, được nghe giáo pháp thậm thâm vi diệu của Đại Thừa. Nhờ sự giáo huấn của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni bằng tâm đại từ bi, đại trí tuệ, Ngài đă mở bày pháp môn Niệm Phật và dạy chúng con đặt trọn niềm tin vào Bản Nguyện Cứu Độ của đức A Di Đà Phật ở cơi Cực Lạc phương Tây. Nhờ sự tiếp dẫn vô điều kiện bằng oai lực tuyệt đối bất khả tư nghì của đức Từ Phụ, chúng con dốc hết ḷng thành mà Niệm Phật phát nguyện cầu sanh Cực Lạc.

Bởi v́ chúng con nhận thức rằng: Niệm Phật phải hành tŕ cho thiết thực, cho nên kể từ ngày nay cho đến cái ngày ngồi trên đài sen của ao thất bảo, đệ tử chúng con nguyện sẽ luôn luôn niệm Phật chuyên cần và chắc thật, để sớm được văng sanh, để khỏi phụ ơn dạy dỗ của đức Bổn Sư , để khỏi phụ ơn cứu độ của đức Từ Phụ A Di Đà, để mau thành Phật, để chóng hoàn thành sự nghiệp độ sanh đúng như bản hoài của chư Phật và sở nguyện của ḿnh.

Ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo ngưỡng nguyện đức Từ Phụ A Di Đà Phật cùng chư vị Pháp thân Bồ tát. xin đem năng lực Bản Nguyện, năng lực đại thần thông, năng lực đại trí tuệ, mà thương xót chúng con, giúp cho chúng con cùng hết thảy chúng sanh luôn luôn niệm Phật bằng ḷng tin sâu chắc, bằng chí nguyện vững bền để cùng về Cực Lạc, cùng chứng Pháp Thân, cùng viên thành quả vị Phật Đà vô thượng.

Chúng con lại phụng v́ cha mẹ, anh em, bà con, bạn hiền, bạn ác, phụng v́ bốn vị Thiên Vương hộ vệ thế gian, phụng v́ liệt vị Hộ Pháp, Thiện Thần, phụng v́ hết thảy chúng sanh khắp trong sáu nẽo, mà quy y và đảnh lể chư Phật, chư Tôn Pháp, chư Bồ tát Thánh Hiền Tăng khắp cả mười phương cùng tận hư không giới.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát

PHẨM THỨ SÁU
NIỆM PHẬT PHẢI DỨT TRỪ PHIỀN NĂO

Đă là phàm phu th́ chắc hẳn c̣n ở trong ṿng phiền năo, bị phiền năo làm cho mê hoặc và sai khiến, cho nên nhiều lúc con người không thể tự chủ được.

Phiền năo có nghĩa là khuấy động và thiêu đốt làm cho tâm niệm không yên, ngăn trở bước hành tŕ nên c̣n gọi là phiền năo chướng. Pháp Thân tuệ mạng của chúng con bị phiền năo phá hại, nên c̣n gọi là phiền năo ma.

Có những phật tử tuy ăn chay, bố thí tụng kinh, niệm Phật - nhưng chỉ chú ư về h́nh thức, không quan tâm đến việc dứt trừ phiền năo và vọng duyên, nên dù có tụng kinh và niệm Phật, thế mà tâm tư vẫn chưa được thanh tịnh - bởi lẽ phiền vọng tăng lên một phần th́ đạo tâm phải thối lui một bước. Tóm lại, người tu tịnh nghiệp ngoài phương diện niệm Phật tŕ chú tụng kinh sám hối, c̣n phải đặt nặng vấn đề KHAI TÂM. Mà muốn cho tâm sáng suốt để giúp kết quả niệm Phật mau thành tựu, sớm sanh về Tây Phương, th́ phải dứt trừ phiền năo.

TRỪ DIỆT THAM LAM VÀ SÂN HẬN.

Các phiền năo về THAM không ngoài sự đắm nhiễm ngũ dục là: sắc đẹp, tiền của, quyền danh, ăn mặc, ngủ nghỉ. Từ đó phát sanh ra các chi tiết khác là: bỏn sẻn, ganh ghét, gỉa dối, lường gạt... Cách đối trị tổng quát là phải niệm Phật chuyên cần và luôn luôn cầu nguyện oai lực của đức A Di Đà giúp ban thêm nhiều sức mạnh để dứt trừ tâm tham nhiễm.

Trong các loại phiền năo th́ SÂN HẬN là thứ phiền năo có tướng trạng rất thô bạo, và phá hoại sự nghiệp hành tŕ một cách nặng nề nhất. Người xưa đă bảo rằng; nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai. Có nghĩa là khi khởi một niệm giận hờn tức là đă mở ra muôn ngàn cửa chướng ngại.

Chẳng hạn như lúc đang niệm Phật chợt tưởng đến người ngoài bạc ác, khắc nghiệt, xấu xa, đối đăi với ḿnh nhiều điều không tốt, hoặc nhớ lại việc người thân cận phản phúc gây rối làm khổ ḿnh liền buồn giận bứt rứt không an. Từ nơi tâm trạng đó, miệng tuy niệm Phật nhưng trong ḷng rất phiền muộn, để vọng tưởng dấy lên sôi nổi. Có người bỏ cả chuổi hột không muốn niệm nữa nằm xuống gát tay lên trán suy nghĩ vẫn vơ. Có kẻ lại buồn tức đến quên ăn bỏ ngủ, muốn gặp ngay người đó để hét la ầm ỉ một hồi hoặc t́m cách trả thù cho đă giận. Tâm niệm sân hận nó phá hoại người tu đến như thế.

Muốn đối trị giận hờn, phải khởi ḷng từ bi. kinh PHÁP HOA dạy rằng: Lấy đại từ bi làm nhà, lấy nhu hoà nhẫn nhục làm áo giáp, lấy ư nghĩa " tất cả các pháp đều không" làm ṭa ngồi.

Phải nghĩ rằng, ta cùng chúng sanh đồng là phàm phu ch́m trong biển khổ Sanh Tử, tất cả đều do nghiệp phiền năo mà gây nên không biết bao nhiêu tội ác, mà phiền năo th́ vốn hư huyễn, không thật có. Như một niệm sân hận phát lên, ta phải tự hỏi rằng, trước khi khởi lên th́ nó vốn từ đâu mà đến sau khi tàn rụi th́ nó lại đi về đâu. Vậy mà trong lúc giận hờn ta tự làm khổ cho ta trước hết, vì chính ta tự nổi lửa phiền năo để thiêu đốt tâm can của ḿnh mà rồi cũng không thể cải hoá và làm lợi lạc chi cho người khác cả. Như thế có phải là si mê vô ích chăng?

Lại nên nghĩ rằng: người kia có hành động xấu ác, làm tổn hại cho ta th́ thật ra họ cũng chỉ v́ mê muội nên mới gây ra cái nhân tố xấu ác, chắc chắn về sau họ sẽ phải gặt hái cái quả báo khổ sở. Vậy th́ họ đáng xót thương hơn là đáng giận, bởi v́ nếu họ sáng suốt, thông hiểu nguyên lư tội phước, chắc không khi nào họ lại dám làm điều ấy. Ta là người niệm Phật th́ phải áp dụng giáo lư của đức Thế Tôn, để tự cởi mở sự ràng buột oan trái ấy, v́ mục đích của đời ḿnh là sự an lạc chứ không phải là sống để khổ sở v́ kẻ khác một cách vô lối như vậy.

Đối với hành động tàn hại của họ, ta phải xót thương và tha thứ, nhu ḥa nhẫn chịu, rồi xét mọi việc đều hư huyễn, không thật. Nên răn nhắc chính ḿnh bằng giáo huấn: Lửa sân si tam độc, đốt hết rừng công đức, muốn hành Bồ tát đạo, giữ thân tâm nhẫn nhục.

Từ bi là nước tịnh mát mẽ, rưới lửa phiền năo, nhẫn nhục là áo giáp bền chắc ngăn che tất cả mũi tên độc. "Pháp -Không" là ánh sáng phá tan khói mù tối tăm. Nếu biết dùng ba điều này để dứt trừ sân hận tức là đă vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, và ngồi toà Như Lai vậy.

PHẢI ĐOẠN TUYỆT PHIỀN NĂO THỊ PHI

Hạng phàm phu v́ chưa chứng vào chân tâm b́nh đẳng, và c̣n ranh giới giữa ta và người, nên trong đời sống, sự hơn thua phải quấy khen chê có đến muôn ngàn và không một ai tránh khỏi. Dù cho chư Phật chư Bồ tát v́ ḷng đại bi mà thị hiện giữa cơi trần để độ sanh, cũng phải chịu cảnh thị phi thương ghét.

Những sự thị phi làm cho người niệm Phật, nếu không sáng suốt b́nh tỉnh, nhiều khi phải xao động mà phát sinh phiền năo, gây chướng ngại cho việc hành tŕ. Muốn dứt trừ tâm thị phi, cần phải:

Thứ nhất: Phải xét sửa lỗi ḿnh, đừng nh́n nói lỗi người. Là phàm phu, ai cũng thích lời khen, ghét tiếng chê, và ưa bươi móc điều dở của người, không dè ḿnh cũng nhiều lỗi lầm, chẳng có chi là tốt đẹp. Cho nên nguyên tắc của người niệm Phật là phải luôn luôn tự phản tỉnh, xét sửa lấy ḿnh, đừng nên nh́n và nói đến lỗi lầm của kẻ khác. Xét sửa lỗi ḿnh th́ càng ngày càng sáng c̣n nh́n nói lỗi người tất càng gây việc trái oan.

Thứ hai: khi bị sự thị phi khinh báng, nên an nhẫn mà niệm Phật nhiều hơn, chứ đừng t́m cách biện minh. Ví như tờ giấy trắng bị vết mực làm lem, th́ ta cứ để yên, nó chỉ dơ một chút đó rồi lần lần phai nhạt nếu lấy đó lau chùi tất sẽ hoen ố toàn diện. Bởi khi việc khinh báng xảy ra, nếu hiện tại ḿnh không sai quấy, tất kiếp trước cũng lỗi lầm, nên đời nay phải chịu quả báo. Giả sử kiếp trước ḿnh không có biệt nghiệp trực tiếp gây nên lỗi, th́ cũng do công nghiệp tội ác, mới cùng sanh ra trong chốn ngũ trược nầy.

Thứ ba: người niệm Phật phải giữ vững lập trường, tin chắc nhân quả và đừng xao động v́ tiếng hay dở bên ngoài. Kinh PHÁP CÚ dạy: ngọn núi cao đứng vững giữa cơn giông tố, người chân chính an nhiên giữa tiếng thị phi. Tất cả tiếng khen chê bên ngoài không làm cho ta tốt hay xấu, siêu hay đọa mà tốt xấu siêu đoạ đều do nơi ta. Nếu ta gây nhân tố lành th́ dù người có khinh là xấu xa, tội ác nhưng ta vẫn được siêu thăng. Trái lại, nếu ta gây nhân tố xấu ác th́ tuy người khác quư trọng ngợi khen, nhưng ta vẫn phải chịu đọa lạc.

Đức Lục Tổ HUỆ NĂNG dạy rằng:

Nếu là bậc chân tu
Không thấy lỗi của đời
Nếu như thấy lỗi người
Ḿnh chê là kém dở
Người quấy, ta đừng quấy
Ta chê, tự có lỗi
Muốn phá tan phiền năo
Hăy trừ tâm thị phi
Thương ghét chẳng để ḷng
Nằm thẳng đôi chân nghỉ.

PHẢI TRỪ DIỆT MỌI CĂN NGUỒN SI MÊ

Người niệm Phật đôi khi đối với sự lư của mọi vấn đề mà chưa hiểu rơ ràng, rồi từ đó dẫn sanh tất cả điều mê hoặc khiến cho tâm niệm không yên ổn. Đó là lúc nghiệp si nổi lên phá hoại chánh kiến của ḿnh.

Chẳng hạn như trong khi đang hành tŕ, thoạt nhớ có kẻ nói rằng: phải niệm chừng nào nhất tâm bất loạn mới được văng sanh, nay xét ḿnh khó thực hành đến tŕnh độ ấy, e uổng công phu bấy lâu nay nỗ lực, rồi sanh ư tưởng phân vân đó là hiện tướng của nghiệp si.

Thật vậy, si mê là nguồn gốc của tất cả phiền năo, THAM và SÂN đềy do SI mà phát khởi, c̣n MẠN, NGHI và ÁC KIẾN cũng đều do SI mà ra.

Như khi khởi niệm: sự hành đạo siêng nhọc của ta, th́ chưa chắc người xuất gia đă bằng được; đó là NGĂ MẠN phiền năo.

Lúc niệm Phật bỗng sanh ra ư nghĩ: Cơi Cực Lạc trang nghiêm như vậy, c̣n ḿnh th́ nghiệp dày phước mỏng, làm sao mà văng sanh được? Đó là NGHI phiền năo.

Ác Kiến là sự thấy hiểu cố chấp xấu ác, gồm có năm điều: Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến.

Như đang tu tŕ, chợt nghĩ rằng: thể chất ḿnh th́ ốm yếu, hôm nay lại làm việc nhiều, chắc là mỏi nhọc, vậy nếu niệm Phật lâu hơn nữa, sợ e phải lâm bệnh, đó là THÂN KIẾN.

Hoặc nghĩ rằng: chết rồi th́ như đèn tắt, nếu có đời trước sao ḿnh lại không nhớ? Tốt hơn là nên tu tiên để được sống lâu không chết. Đây là ĐOẠN KIẾN và THƯỜNG KIẾN trong BIÊN KIẾN.

Hoặc suy tưởng rằng: tại sao có người làm lành lại chết yểu, mà lại chết một cách dữ dằn, c̣n kẻ làm ác th́ lại sống lâu mà chết rất yên ổn tốt đẹp? Đây là lối chấp TÀ KIẾN không thấu suốt nguyên lư NHÂN QUẢ của ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai.

Có kẻ lại nghĩ rằng: trước kia ḿnh tu theo cách luyện điển của ngoại đạo, mới có vài tháng đă thấy sự ích lợi, c̣n nay niệm Phật đă lâu sao mà không thấy có chuyển biến chi cả? Đây là KIẾN THỦ KIẾN, tức là chấp lấy cái nhận thức sai lạc của ḿnh và không chịu lấy Chánh giáo để soi chiếu sự hành tŕ, cũng như hướng dẫn đời sống của ḿnh.

Hoặc lại suy nghĩ: bên đạo khác họ đâu kiêng cữ sát sanh, mà vẫn cầu về Thiên Đường cũng như ḿnh cầu về Cực Lạc, vậy cần chi phải giữ giới sát? Đây là GIỚI THỦ KIẾN, tức là sự hiểu biết lầm lạc về Giới Pháp.

Tóm lại mà nói, th́ h́nh thức của nghiệp si quả thật quá nhiều, nhưng người quyết tâm niệm Phật cần nhất là phải y theo kinh điển Đại Thừa và đặt trọn vẹn ḷng tin vào Đức Phật. Đối với đạo lư sâu xa, nếu có điều nào mà ḿnh không biết, th́ nên t́m hỏi nơi bậc Thiện Trí Thức, chứ đừng để cho sự si mê lôi kéo tâm hồn ḿnh, làm ḿnh đánh mất chủ hướng khi mà pháp môn Niệm Phật là một pháp thâm diệu, khó tin và khó hiểu.

Người niệm Phật nên nương theo BA LƯỢNG sau đây để củng cố ḷng tin.

Thứ nhất: LƯ TRÍ LƯỢNG là sự suy lường của trí tuệ. Phải suy nghĩ như thế nầy: tất cả các thế giới đều do tâm tạo đă có cơi người thuộc phân nửa nghiệp thiện ác, th́ chắc chắn có tam đồ thuộc nhiều nghiệp dữ và c̣n có các cơi Trời thuộc nhiều nghiệp lành. Và như thế th́ phải chắc chắn có cơi Cực Lạc do nguyện lực thuần thiện của Phật và do công đức lành của chư Bồ tát cùng những bậc thượng thiện nhân.

Thứ hai: THÁNH NGÔN LƯỢNG là giá trị lời nói của Phật và Bồ tát trong các kinh luận. Phải biết, đức Thế Tôn đă dùng tịnh nhãn thấy rơ y báo và chánh báo của cơi Cực Lạc rồi diễn tả cảnh giới ấy trong các kinh điển Tịnh Độ. Các bậc đại Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền đều ngợi khen cơi Cực Lạc và khuyên chúng sanh nên cầu văng sanh.Người niệm Phật chỉ quyết sống theo lời Phật dạy, th́ cũng phải hành tŕ theo lời Phật dạy. Nếu không lấy lời dạy của Phật mà làm mực thước, th́ lấy ǵ để tin?

Thứ ba: HIỆN CHỨNG LƯỢNG là lối t́m hiểu do sự thấy biết trực tiếp hay sự chứng nghiệm thực tế để mà phát khởi ḷng tin. Trong Tịnh độ Thánh Hiền Lục đă chứng minh rất nhiều người đă niệm Phật mà văng sanh. Và ở Việt Nam cũng có nhiều Phật tử niệm Phật rồi được về Cực Lạc với những bằng chứng cụ thể.

CÁCH GIẢI TRỪ PHIỀN NĂO

Tóm lại, các loại phiền năo của tham, sân, si đều biểu hiện dưới nhiều h́nh thức không thể tả xiết, nhưng vẫn có bốn điều căn bản để đối trị tổng quát:

DÙNG TÂM ĐỂ ĐỐI TRỊ

Người mê với bậc giác ngộ chỉ có hai điểm sai biệt: tịnh là chư Phật và nhiễm là chúng sanh. Chư Phật do thuận theo tịnh tâm nên giác ngộ và có đủ trí tuệ cùng thần thông. C̣n chúng sanh bởi tùy nơi trần nhiễm nên mê hoặc mà bị sống chết luân hồi. Người niệm Phật với mục đích duy nhất là đi thẳng vào cảng giới Định Tuệ để giác ngộ bản tâm, chứng lên Phật quả. Vậy trong khi niệm Phật nếu thấy bất cứ một ư niệm vọng động nào khác nổi lên th́ phải diệt trừ ngay lập tức và trở về với tịnh tâm. Đây là cách dùng Tâm để đối trị.

DÙNG LƯ ĐỂ ĐỐI TRỊ

Nếu khi vọng niệm nổi lên mà dùng tâm ngăn trừ không được th́ phải dùng cách quán xét lư bất tịnh phân tích giáo nghĩa KHỔ ĐẾ, nh́n thẳng vào thực tế VÔ THƯỜNG và suy niệm về chủ đề VÔ NGĂ của vạn hữu. Hoặc triển khai sự tác dụng của tứ vô lượng tâm: TỪ, BI, HỶ, XĂ...

DÙNG SỰ ĐỂ ĐỐI TRỊ

Có khi phải dùng h́nh thức để đối trị mới có hiệu quả, như phải lẩn tránh các duyên có thể gây ra phiền năo, hoặc phải chịu khó ngoảnh mặt làm lơ trước những hoàn cảnh có thể đưa ḿnh đến chỗ đáng tiếc, hoặc tự buộc ḿnh vào một thứ kỷ luật nào đó. Hoặc tự tạo điều kiện riêng để dằn phiền năo cho đến khi phiền năo phai nhạt hẳn.

DÙNG BÁI SÁM ĐỂ ĐỐI TRỊ

Các việc lễ lạy, sám hối, tŕ chú tụng kinh, phải giữ song song với việc niệm Phật cho đều đặn, th́ có năng lực diệt trừ tội nghiệp, phát sanh phước tuệ. Cho nên, muốn xa ĺa phiền năo th́ không có chi hơn là phải lễ lạy, sám hối thường xuyên. Nếu bền bỉ và chí tâm th́ trên đời, không có việc ǵ mà không thành tựu.

Đệ tử chúng con kể từ vô thủy cho đến ngày nay, v́ vô minh khuất lấp, v́ phiền năo dấy động, nên đă đánh mất chánh kiến mà xa rời bạn hiền, gần gũi bạn ác, mà chối bỏ ánh sáng trí tuệ, từ bi của Tam Bảo, mà quay lưng trước Bản Nguyện A Di Đà. Ngày nay, nhờ sự nhiếp thọ của đức Từ Phụ nhờ sự giáo huấn của đức Bổn Sư, nhờ sự khai thị tận t́nh của Thiện Trí Thức, cho nên chúng con đă biết rằng: Niệm Phật th́ phải đoạn trừ phiền năo. V́ vậy, giờ đây với tấm ḷng Tri Ân tha thiết và chí thành; đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật, vị đạo sư tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát

PHẨM THỨ BẢY
NIỆM PHẬT PHẢI THỰC CHỨNG BẰNG KINH NGHIỆM CỦA BẢN THÂN

Muốn được văng sanh th́ cần phải niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn, nhưng các hành gỉa đời nay có mấy ai đi đến tŕnh độ ấy. thế th́ công phu tŕ niệm một đời không lẽ trở thành luống uổng hay sao?

Thật ra, niệm Phật đến tŕnh độ nhất tâm bất loạn chỉ là sự khuyến tấn hay là mức kỳ vọng, mà các hành giả có thể đạt đến. Nhưng phải luôn ghi nhớ rằng, pháp môn Niệm Phật luôn luôn ghi nhớ rằng, pháp môn Niệm Phật có điểm đặc biệt là: bậc thượng căn th́ đạt đến mức nột ḷng không loạn ngay trong đời sống; c̣n bậc hạ căn th́ chỉ cần mười niệm cũng được văng sanh.

Cho nên, vấn đề nhất tâm bất loạn được văng sanh là nói ngay khi lâm chung, không phải là chỉ cho lúc hiện tiền.

Được mười niệm không loạn lúc sắp măn phần, thật ra, không là chuyện dễ dàng. V́ khi sắp lâm chung có một sức nghiệp do từ đời này hoặc từ kiếp trước phát hiện, gọi la øCận tử Nghiệp. Nếu lúc b́nh thường không cố gắng niệm Phật cho thuần thục th́ khi sắp chết bị sức cận tử nghiệp lấn át, khiến chánh niệm không thể hiển lộ, do đó tâm thức tùy theo nghiệp lực mà rối loạn. Như thế th́ làm sao mà văng sanh Cực Lạc th́ đệ tử chúng con phải hành tŕ đúng theo Sự và Lư của pháp môn Niệm Phật mới thực chứng nhiều kinh nghiệm tâm linh.

Thế nào gọi là Sự và Lư ? Lư là lẽ phải, là điều suy luận, là cảnh giải ngộ, thuộc về phần Tánh. Sự là phương tiện, là công hạnh, là h́nh thức thuộc về phần Tướng.

Tuy nhiên, đi đến chỗ cùng cực th́ Sự tức là Lư, tánh tức là tướng, đồng một thể Như Thật tṛn sáng, dung thông. Trên đường hành tŕ th́ Lư và Sự làm trong ngoài cho nhau, phối hợp cho nhau, giúp đỡ lẫn nhau để thành tựu Phật đạo.

Có Lư th́ việc mới có căn cứ cương lănh, có mục tiêu để sanh khởi và tác dụng. Có Sự th́ Lư mới thực hiện được điều suy luận, chứng minh được chỗ lư giải, đi đến mục tiêu và cuối cùng đạt lấy kết quả.

Lư như đôi mắt để nh́n đường đi có Sự th́ như đôi chân để tiến bước. Không có chân th́ dù cặp mắt có sáng tỏ bao nhiêu đi nữa, cũng chẳng thể nào đi đến nơi đến chốn. Lại nữa, có Lư mà không có Sự th́ như người có họa đồ biết đường lối mà chẳng chịu bước đi. C̣n có Sự mà không có Lư th́ như kẻ tuy bước đi nhưng thiếu hướng đạo cho nên lộ tuyến mê mờ.

Vừa có Lư vừa có Sự th́ như đă thông suốt đường lối, lại vừa chịu khó cất bước hành tŕnh, như vậy, chân thực là một kẻ hành tŕ hoàn toàn, chắc chắn sẽ về được nơi bảo sở.

Sự và Lư đă nương nhau như thế, cho nên nếu thiếu một th́ ắt chẳng có hy vọng thành công, trên đường Sống Dạo. Nhưng người niệm Phật dù thiếu phần giải ngộ nhưng nếu chịu noi theo lộ tŕnh của bậc tiên đức đă chỉ dạy mà thực hành, th́ cũng sẽ thành công, cùng với cố nhân không khác.

Kinh điển của Phật để lại cũng như các lời khai thị của thiện tri thức chíng là lộ tŕnh đích xác cho chúng con, chúng con chỉ nương theo đó mà tiến bước hành tŕ.

Có Sự nghĩa là có hành tŕ mà thiếu phần lư giải, thật ra chẳng đáng lo ngại, v́ càng hành tŕ th́ trí tuệ càng khai thông và để rồi đi đến chốn tỏ ngộ. Đáng thương thay cho những kẻ tuy hiểu lư, nhưng không chịu thực hành mà chỉ ngồi nói suông và chỉ trích suông. Dù có đàm huyền luận diệu thao thao bất tuyệt mà suốt đời vẫn chẳng tiến bộ nửa bước.

Cứ sự thực mà nói, th́ người thiếu Sự cũng quyết định không có Lư. V́ sao như vậy? V́ như kẻ đă biết nhà cháy mà không chịu chạy thoát cứ vẫn măi ngồi yên th́ nào có khác chi kẻ không biết ǵ cả ! Do vậy mà có thể nghĩ rằng: Phật Pháp có thể cứu độ hạng người mà thế gian cho là ngu dốt, chẳng thông một chữ, nhưng không thể hiện cách thức để cứu độ những kẻ tự hào là thế trí biện thông mà lại không chịu hành tŕ.

Dù kẻ làu thông tam tạng song chẳng thực hành, th́ chắc chắn nghiệp hoặc từ vô thủy vẫn c̣n y nguyên, cho nên sự tri giải ấy vẫn là vô dụng. Sao cho bằng một bà lăo dốt nát nơi nhà bếp. Mặt mày lem lọ nhưng thường luôn chuyên cần niệm Phật - th́ ngày kia, tâm yên không loạn, ngồi ngự đài sen? Do vậy, kẻ suốt đời chỉ cầu sự thông hiểu trên danh tướng lư luận để mong trở thành một vị bác học về Phật Pháp, mà không thiết thực tu hành, tất phải lâm vào cảnh kể thức ăn ngon mà ḿnh chịu đói, đếm tiền của kẻ khác mà ḿnh mà ḿnh vẫn nghèo nàn, kết cuộc vẫn hoàn toàn vô bổ. Nhà Phật đă v́ những kẻ ấy như là người điếc khảy đàn cho đại chúng nghe, như là kẻ quảy gánh đi khắp nơi rao bán đủ thứ thuốc hay, nhưng quên hẳn ḿnh đang mang nhiều chứng bịnh.

Thế nào gọi là SỰ TR̀ và LƯ TR̀ ?

Ngài Ngẫu ích đại dạy rằng: Sự Tŕ là tin có cơi Cực Lạc và Phật A Di Đà mà chưa thông đạt cái TÂM NÀY LÀM PHẬT TÂM NÀY LÀ PHẬT mà chỉ quyết định cầu sanh Cực Lạc tha thiết ức niệm như con nhớ mẹ không lúc nào tạm quên.

Lư Tŕ là tin hiểu Phật A Di Đà ở Tây Phương do tâm ta sẵn đủ, do tâm ta tạo nên đem câu hồng danh sẵn đủ và tạo nên của tâm ḿnh làm cảnh buộc niệm, chẳng giây phút nào xao lăng.

Đối với môn Niệm Phật th́ duy bậc thượng căn trí tuệ mới dung thông tánh tướng, hiểu đến chỗ tận cùng. Bằng không được thế th́ thà chấp tướng mà tu hành, càng chấp lại càng mầu nhiệm. Bởi v́ càng chấp sự tướng th́ chí nguyện cầu văng sanh lại càng thiết tha và khi đă về Tây Phương lo ǵ mà không chứng ngộ Thật Tướng?

Vấn đề SỰ và LƯ TÁNH và TƯỚNG nói ra vẫn không cùng tận, nhưng nếu hiểu được MỘT th́ sẽ hiểu TẤT CẢ.

Thế nào là SỰ NHẤT TÂM?

Người niệm Phật phải thiết thực dụng công, trong th́ tuyệt hẳn các tướng thị phi nhân ngă, không thấy có thân tâm ngoài th́ dứt bặt các tướng sắc không, lục trần, chẳng c̣n thấy có cảnh giới duy chỉ có một câu Phật Hiệu rành rọt hiện tiền mà thôi. Khi hành giả chỉ chuyên tâm chú ư vào sáu chữ hồng danh th́ lâu ngày tất cả các tạp niệm đều dứt bặt, trong tất cả các cử động đi đứng nằm ngồi duy chỉ có một câu Phật Hiệu hiện tiền, đây gọi là cảnh giới Sự Nhất Tâm, được Nhất Biến thượng nhân khai thị như sau:

Khi xưng niệm danh hiệu
Không Phật cũng không Ta
Chỉ có:
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật

Đây là cảnh giới định tuệ của người niệm Phật, tương tự với trạng thái nhập thiền của người hành thiền.

Thế nào là LƯ NHẤT TÂM ?

Vượt qua mức độ Sự Nhất Tâm, nếu tiến thêm một bước, dụng công đến chỗ chí cực th́ ngày kia tâm địa rỗng suốt thoát hẳn căn và trần mà ngộ vào Thật Tướng. Khi ấy hiện tại tức là Tây Phương mà chẳng ngại ǵ riêng có cơi Cực Lạc, khi ấy tự tánh ḿnh chính là A Di Đàø mà cũng chẳng ngại ǵ riêng có đức Phật A Di Đàø. Đây là cảnh giới LƯ NHẤT TÂM của người niệm Phật, địa vị này là định tuệ nhất như, tương tự tŕnh độ khai ngộ của người hành Thiền Quán.

Ngài Ngẫu Ích dạy rằng: Không luận sự tŕ hay lư tŕ, nếu cứ niệm Phật sao cho đến chỗ hàng phục phiền năo để kiến hoặc và tư hoặc không khởi hiện, đó là cảnh giới SỰ NHẤT TÂM. Không luận sự tŕ hay lư tŕ, nếu cứ niệm Phật đến chỗ tâm khai và thấy rơ bản tánh Phật của ḿnh, đó là cảnh giới LƯ NHẤT TÂM. Sự Nhất Tâm th́ không bị kiến hoặc, tư hoặc làm loạn, c̣n Lư Nhất Tâm th́ không bị nhị biên làm loạn.

Chẳng nói chi đến Lư Nhất Tâm, với tŕnh độ Sự Nhất Tâm th́ người đời nay phải thâm tín lời Phật dạy và nỗ lực hành tŕ, mới mong thấu đạt được. Tuy nhiên, với công đức của câu niệm Phật cộng thêm tấm ḷng cung kính chí thành, th́ trong mỗi niệm sẽ diệt được một phần vô minh, tăng thêm một phần phước tuệ, lần lần đi tới cảnh giới thanh tịnh. Và cứ hành tŕ lâu ngày như thế, lo ǵ không tiến đến chỗ mỗi niệm khai ngộ, mỗi niệm thâm nhập cảnh giới Định Tuệ nhiệm mầu.

Trong bộ luận Đại Thừa Khởi Tín, sau khi kết hợp tin yếu của pháp Đại Thừa và tŕnh bày xong các đường lối tu tập, Ngài Mă Minh Bồ tát dạy rằng: Cơi Ta Bà phiền năo can cường, nên chánh tín khó vững, lại không được thường xuyên gặp Phật nghe Pháp, mà đường tu lại nhiều hiểm nạn chướng duyên. Nên biết rằng, đức Như Lai có phương tiện thù thắng dạy cầu sanh về cơi Cực Lạc ở Tây Phương, nếu chuyên tâm niệm Phật A Di Đàø rồi đem công đức hồi hướng, th́ sẽ được Phật đón rước về thế giới Cực Lạc, được luôn luôn gặp Phật nghe Pháp và chẳng c̣n bị thoái chuyển. Nếu hành giả y theo đường lối nầy mà tu tập th́ quyết định sẽ vào Chánh Định Tụ. Như vậy, chuyên tâm niệm Phật là phương tiện nhiệm mầu để thoát khỏi ma chướng và mau thành tựu Định Tuệ.

Chỉ có sự chuyên tâm là cách thức duy nhất để thực chứng pháp môn Niệm Phật bằng kinh nghiệm tâm linh của bản thân. V́ sao vậy? Bởi v́ đới với người khát khao giải thoát th́ chỉ có kinh nghiệm tâm linh mới là đáng quư nhất mà không có một thứ ǵ có thể đánh đổi được.

Đệ tử chúng con nhờ sự dẫn dắt của đức Bổn Sư, nhờ sự nhiếp thọ âm thầm của đức Từ Phụ, nhờ sự hộ niệm của sáu phương chư Phật, mà hôm nay mới biết rơ rằng Niệm Phật th́ phải thực chứng bằng kinh nghiệm bản thân, cho nên chúng con xin đem cả tấm ḷng tri ân tha thiết chân thật, mà quy lễ và đảnh lễ.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật,
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát

PHẨM THỨ TÁM
NIỆM PHẬT PHẢI BỀN LÂU KHÔNG GIÁN ĐOẠN

Niệm Phật muốn giữ được tinh tấn bền lâu th́ phải có lập trường vững chắc. Lập trường đó là nhớ đến mục đích hành tŕ của ḿnh, bao nhiệu việc làm ngày hôm nay đều là nỗ lực hướng đến giải thoát sanh tử hoàn thành địa vị Phật đà để tự độ độ tha cho ngày sau.

Triệt Ngộ đại sư dạy rằng:

Cương yếu của Pháp môn Niệm Phật chỉ bao gồm trong mười sáu chữ sau đây:


Thật v́ sanh tử
Phát bồ đề tâm
Lấy tín nguyện sâu
Tŕ danh hiệu Phật.

Loài người ở cơi ta bà uế độ nầy nếu chỉ tu ngũ giới, thập thiện và các điều lành khác, mà không niệm Phật th́ cùng Phật vô duyên. V́ không duyên với Phật, nên các chủng tử vô lậu trong a đà na thiếu cơ năng để dẫn phát. Cho nên dù tu các nghiệp lành, th́ nhiều lắm cũng chỉ sanh lên cơi Trời chứ không được về Tịnh Độ. Tuổi thọ ở các cơi Trời tuy lâu dài nhưng vẫn có hạng lượng, khi phước báo chấm dứt th́ sẽ tùy nghiệp mà sa đọa trong ba đường dữ.

Chúng sanh do ngă chấp làm gốc và từ ngă chấp mà khởi tạo các nghiệp nhân lành hoặc dữ nên sau đó, th́ tùy theo sự thành thục của mỗi loại chủng tử mà phải chịu luân hồi. Trong kiếp luân hồi th́ nghiệp ác rất dễ tạo, mà duyên lành th́ khó tu, nên thời gian đọa xuống các ác đạo lại rất ngắn. Tất cả các chúng sanh nếu không về Tịnh Độ của chư Phật th́ tất phải ở uế độ. Đă ở uế độ th́ với hoàn cảnh xấu ác, nhiều chướng duyên, và với căn cơ con người thời mạt pháp. Chắc chắn sớm hay muộn cũng phải đọa ác đạo. Và muốn sanh về Tịnh Độ của Phật th́ tất phải niệm Phật.

Niệm Phật quả thật là pháp môn thuộc về đại thừa viên đốn.

Nói đại thừa v́ pháp nầy lấy niệm Phật làm nhân tố tiến tu và lấy địa vị toàn giác làm quả chứng.

Nói là Viên, v́ môn này nhiếp trọn cả năm tông tám giáo, như các bậc cổ đức đă phê luận.

Nói là Đốn, v́ phương tiện nầy đưa từ hàng cụ phược phàm phu lên đến ngôi Bất Thoái Chuyển, từ bậc sơ học lên đến quả Vô thượng Bồ đề rất thẳng tắt mau lẹ.

Muốn cầu giải thoát th́ đối với niệm Phật phải xem là điều tất khẩn yếu và bắt gặp pháp môn nầy lúc nào th́ phải thực hành ngay khi ấy, không nên chờ hẹn. Mạng sống con người rất ngắn ngũi, muốn pḥng ngừa cơn vô thường chợt đến th́ mỗi thời khắc phải gắng chăn niệm Phật, như thế, gặp giây phút cuối cùng mới khỏi bị bối rối tay chân.

Để niệm Phật cho được bền lâu, th́ phải tùy theo tinh thần, sức khỏe và hoàn cảnh của ḿnh mà tự đặt ra thời hạn, rồi lần lần tăng tiến. Trong đời sống, người niệm Phật phải gồm có đủ hai h́nh thức hành tŕ, đó là Định Thời và Không Định Thời.

Định thờ́ là mỗi ngày đều phải có thời khoá nhất định, lại nên ghi số là bao nhiêu câu Phật Hiệu.

Không định thời là ngoài các thời khóa kể trên, trong lúc đi đứng nằm ngồi đều phải niệm thầm, nhưng niệm thả và không ghi số. Điểm cốt yếu là dù niệm chậm hay mau cũng phải rành rẽ rơ ràng, tâm bắt kịp tiếng, tâm và tiếng đều phải dung ḥa nhau. Cứ như thế, niệm lâu ngày thuần thục nên sức niệm mau dần và niệm được nhiều hơn.

Muốn niệm Phật cho được nhiều th́ phải chuyên cần tập luyện bằng cách:

Phải ngồi mà niệm: Mặc dù đi hay đứng đều có thể niệm Phật, nhưng muốn niệm cho mau mà vẫn nghe rơ ràng sáu chữ, th́ nên ngồi mới thích hợp.

Nên dùng chuỗi nhẹ: và lấy mười câu danh hiệu làm một đơn vị.

Niệm đầy đủ sáu chữ: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT với tấm ḷng chí thành và cung kính.

Vừa niệm thầm vừa niệm ra tiếng luân phiên thay đổi nhau: niệm thầm th́ ít mệt, nhưng dễ hôn trầm, niệm lớn tiếng th́ có tác động lớn lao cho sự phát tâm nhưng lại mau mệt.

Tuy nhiên, phải luôn luôn ghi nhớ cái điểm căn bản của sự niệm Phật là: câu niệm rành rẽ, rơ ràng và tâm cùng tiếng phải dung ḥa nhau. Chớ có vội cầu nhiều mà thành ra niệm dối. Không nhất thiết phải đạt cho được định tâm, mà vấn đề chính yếu là bền lâu, không gián đoạn th́ dù có tán tâm dần dần cũng sẽ chuyển thành Định Tâm. Người tuy tạp niệm có nhiều, nhưng chịu khó niệm bền lâu, tất cả sẽ trở thành chánh niệm.

Mặc dù con đường thực hiện tâm linh c̣n có nhiều hiểm trở khó khăn nhưng đệ tử chúng con vẫn nhận thức rằng chông gai nào cũng phải bị khuất phục trước sự kiên gan của con người. Cho nên trong niềm tin tuyệt đối vào lời Phật dạy trong ước nguyện phó thác cuộc đời ḿnh cho Bản Nguyện A Di Đà, trong khát vọng trở về quê hương Cực Lạc đệ tử hôm nay đối trước mười phương Tam Bảo xin chân thành đảnh lễ khẩn cầu chư Phật cùng chư vị đại địa Bồ tát thương xót đến chúng con mà ban thêm nhiều năng lực để chúng con luôn luôn ghi nhớ rằng: Niệm Phật phải bền lâu không gián đoạn để hoa sen báu bên Liên Tŕ măi măi thắm tươi.

Đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát

PHẨM THỨ CHÍN
NIỆM PHẬT PHẢI AN NHẪN CÁC CHƯỚNG DUYÊN

Con đường hoàn thành Phật đạo thật ra vẫn c̣n vô số chông gai thử thách có muôn ngàn duyên nghiệp sẳn sàng khảo đảo đời sống của người hành tŕ cũng như gây nên rất nhiều chướng ngại trên bước đường tu tập. Những sự khảo đảo ấy có rất nhiều chi tiết sai biệt, được tóm tắt đại cương trong sáu phần sau đây:

Thứ nhất là NỘI KHẢO

Có người trong lúc tu tập bỗng khởi lên những tâm niệm tham lam giận hờn, dục nhiễm, ganh ghét khinh mạn, nghi ngờ, hoặc si mê hôn trầm buồn ngủ. Những tâm niệm ấy đôi khi phát lộ rất mănh liệt, và gặp duyên sự nhỏ cũng dễ sanh ra cau có bực ḿnh. Nhiều lúc trong giấc mơ lại thấy các h́nh tướng thiện ác biến chuyển. Gặp cảnh nầy, hành giả phải ư thức đó là do công năng hành tŕ nên nghiệp tướng phát hiện. Ngay lúc ấy nên giác ngộ rằng các thứ nghiệp tướng đều như huyễn hóa, phải nêu cao chánh niệm th́ tự nhiên các tướng ấy lần lượt tiêu tan. Nếu không nhận thức rơ ràng tất bị nó xoay chuyển làm cho thối đọa.

Tiên đức dạy rằng: chẳng sợ nghiệp khởi sớm: chỉ e giác ngộ chậm. Có người đang lúc niệm Phật bỗng phát sanh tán loạn, mỏi nhọc khó cưỡng lại nổi, ngay khi ấy nên đứng lên lễ Phật hoặc đi kinh hành, hoặc tạm xả công phu lui ra đọc vài trang sách, chờ cho tâm tư thanh tịnh sẽ trở vào niệm Phật. Chớ nên cưỡng cầu, chớ nên tự ép buộc cho mau nhất tâm th́ càng cố gắng, lại càng rối loạn. Nếu thấy qúa cô tịch th́ phải phụ thêm bái sám, tụng kinh, tŕ chú. Đây chỉ là sự uyển chuyển trong lúc dụng công, để con đường hành tŕ trở nên dễ dàng và dễ chịu hơn.

Thứ hai, là NGOẠI KHẢO.

Đây là những nghịch cảnh thuộc về bên ngoài, làm duyên khó khăn thối đọa cho hành gỉa, như là sự nóng bức, ồn ào, uế tạp, hoặc ở chỗ qúa rét buốc hay nhiều muỗi ṃng, gặp những cảnh như thế nầy th́ phải nên uyển chuyển chứ đừng chấp nê theo h́nh thức của ḿnh, mà phải nhẫn nại để cố giữ cho vững khóa tŕnh tŕ niệm. Đừng bao giờ tỏ ra cái ư mong cầu hoàn cảnh bên ngoài phải thuận theo ḷng ḿnh.

Thứ ba là: NGHỊCH KHẢO

Trên đường hành đạo nhiều khi hành giả bị chướng duyên làm cho trở ngại. Có người bị cha mẹ, anh em, hay vợ chồng hoặc con cái ngăn trở, phá hại sự hành tŕ, có người th́ xác thân mang cố tật hoặc đau yếu măi không lành. Có kẻ bị oan gia đeo đuổi ám hại. Hoặc có người bị vu oan, giá họa khiến bị tra tấn hay tù đày, hoặc bị ganh ghét bêu rao nhiều tiếng xấu xa làm cho ḷng khó an khó nhẫn.

Tất cả các việc ấy đều do sự tác động của nghiệp quá khứ hoặc nghiệp hiện tiền, mà muốn vượt qua th́ hành gỉa cần phải ẩn nhẫn sám hối một cách kiên tŕ, chớ buồn phiền oán trách mà phải xem đó như là những thử thách của A Di Đà để trui luyện tín tâm của ḿnh. Và điều cần yếu nhất là phải thường xuyên cầu nguyện sự gia hộ của chư Phật và chư Bồ tát.

Thứ tư là: THUẬN KHẢO

Có người không gặp nghịch cảnh mà gặp thuận cảnh, và cầu mong ǵ đều được toại ư, Nhưng những sự đắc ư ấy lại là duyên ràng buộc chứ không phải là duyên tiến tu. Đây là những cảnh thuận theo duyên đời, quyến rũ người tu rồi dẫn lần đến các sự phiền toái khác làm mất cả đạo niệm.

Người ta chết v́ lửa th́ ít mà chết v́ nước th́ nhiều cho nên trên đường hành tŕ th́ thuận cảnh thật ra đáng sợ hơn nghịch cảnh.

V́ sao thế? V́ nghịch cảnh phần nhiều làm cho hành giả khổ đau nên sớm tỉnh ngộc và dễ thoát ly ư niệm tham đắm, đôi khi c̣n phẫn chí mà lo tu hành. Ngược lại, thuận cảnh làm cho con người âm thầm thối đoạ lúc nào không hay không biết. Đến khi bừng tỉnh mới rơ ḿnh đă lăn xa xuống dốc, khó mà cứu văn cho kịp. Người xưa nói rằng: Việc thuận tốt đến ba - Mê lụy người đến già. Cho nên sự thử thách của thuận cảnh rất là vi tế và khó đối trị Do đó cần phải chú ư.

Thứ năm là MINH KHẢO

Đây là sự thử thách rơ ràng trước mắt mà không chịu cảnh giác để tỉnh ngộ. Chẳng hạn như có một vị tài đức không bao nhiêu nhưng được nhiều người nịnh bợ, khen là nhiều đức hạnh, có phước lớn, rồi sanh ra tự kiêu, tự đắc, kinh thường mọi người làm những điều càn rỡ, kết cuộc bị thảm bại. Hoặc có một vị có đủ khả năng tiến xa trên đường đạo, nhưng bị kẻ khác cản trở, dọa nạt, khích bác, thuyết phục phải bỏ đạo, rồi sanh ra e dè lo sợ để rồi thối thất ḷng tin. Hoặc có những kẻ tự ḿnh biết nếu tiến hành tham vọng nào đó th́ sẽ rước lấy sự lỗi lầm, thất bại, nhưng v́ mù quáng và tự ái, vẫn đeo đuổi theo cho đến khi thân bại danh liệt.

Hoặc có kẻ tuy biết các duyên bên ngoài đều là giả huyễn, nhưng v́ định lực yếu kém, ḷng tin lung lay, cho nên không buông bỏ được, rồi sau đó tự chuốc lấy sự buồn khổ.

Có nhiều người tuy có đức tin và có hành tŕ, nhưng tính t́nh quá nhẹ dạ, nên hay bị phỉnh gạt và bị lôi cuốn vào việc đời cho đến nỗi thân bị mang lụy.khi mà chưa diệt được ḷng tham lam, th́ rất dễ bị người khác dùng tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp lôi cuốn. Hoặc nếu c̣n tánh nóng nảy và khí khái tất dễ bị kẻ khác khích động mà gánh vác những việc phiền phức vào thân.

Đây là cạm bẫy của Đời mà cũng là của Đạo, nếu không dè dặt để cảnh gíac th́ sẽ vướng vào ṿng chướng nghiệp. Đối với những duyên thử thách lộ liễu như thế, hành giả phải nhận định cho sáng suốt và phải quả quyết tiến theo ánh sáng của Chánh Kiến mới vượt thẳng được

Thứ sáu, là ÁM KHẢO
Đây là sự thử thách âm thầm không lộ liễu, mà hành giả nếu không khéo lưu tâm th́ chắc chắn khó hay khó biết.

Có người ban sơ tinh tấn niệm Phật, rồi bởi gia kế lần lần sa sút, công việc làm ăn thất bại, cho nên sanh ḷng trễ năi sự tu. Có người công việc mưu sinh từ từ phát đạt, rồi ham mê theo lợi lộc mà xao lăng hành tŕ. Có người v́ thiếu sự cứu xét nội tâm cho nên phiền năo càng ngày càng tăng thêm, lần lần sanh ra lười biếng kinh kệ. Có người v́ thời cuộc bên ngoài thay đổi, tuy sự sống vẫn đầy đủ nhưng nhà cửa nay đổi mai dời, tâm trí cứ hoang mang hướng ngoại, bất giác bỏ quên sự tŕ niệm hồi nào không hay.

Trên đây, đều là ảnh hưởng diễn biến của nghiệp thiện ác. Nhưng có sức âm thầm lôi kéo hành giả, làm cho bê trễ sự tu học, nên gọi là ÁM KHẢO. Do vậy mà người niệm Phật phải lưu tâm, chú ư nhiều hơn nữa và phải luôn luôn bái sám cùng cầu nguyện sự gia bị của chư Phật cũng như oai thần lực của chư Bồ tát để vượt qua những thử thách vi tế và âm thầm.

PHƯƠNG THỨC HOÁ GIẢI CHƯỚNG DUYÊN

V́ biết trên đường tu có nhiều chướng ngại, cho nên ngày xưa, đức ĐẠT MA tổ sư đă chỉ dạy bốn phương châm để tiến đạo cho hàng đệ tử và những kẻ hậu học, đó là:

Thứ nhất: BÁO OAN HẠNH

Đệ tử chúng con từ vô thủy cho đến ngày nay, mỗi đời đều gây nợ nghiệp, hoặc là ân, hoặc là oán, từ việc nhỏ đến việc lớn, nhiều đến số vô lượng vô biên. Tuy kiếp này có công phu tu tập đă tiêu trừ nghiệp nợ một phần nào, nhưng vẫn c̣n nhiều thứ nghiệp phải bị đền trả. Phải an ḷng nhẫn nại chịu đựng một cách b́nh thản chứ không nên oán trách hoặc buồn phiền, luôn luôn nhắc nhở đến luật NHÂN QUẢ, nuôi lớn ḷng tin và cầu viện đến hồng ân của chư Phật.

Pháp Nhiên thượng nhân dạy rằng muốn cho đời sống thanh thoát và cơi ḷng hoan lạc th́ hành giả chỉ nên chuyên cần chăm chú xưng niệm danh hiệu Phật, rồi đem tất cả cuộc đời ḿnh, giao phó cho Bản Nguyện A Di Đà, như vậy, chỉ có như vậy th́ không c̣n có một thứ nghiệp lực hay oan trái nào có thể tác động đến tâm thức ḿnh.

Thứ hai, TUỲ DUYÊN HẠNH

Người niệm Phật phải hiểu rằng tất cả cảnh thịnh suy, họa phước đều là huyễn hóa, chỉ tùy theo nghiệp nhân mà hiện ra trong một thời gian rồi hoại diệt - Cho nên có chi đáng để tham luyến hoặc chán nản? Luôn luôn phải có thái độ an phận và tùy duyên, giàu sang th́ không tự đắc, nghèo nàn không đổi chi, gặp hoàn cảnh nào đều vui sống theo hoàn cảnh đó, sao cho giữ vững các khóa tŕnh tụng niệm.

Nếu có gặp hoạn nạn, tật bệnh bất ngờ cũng không nên bối rối, mà chỉ nên niệm Phật nhiều hơn và nhớ quán sát ruộng vườn, nhà cửa, vợ con, đều là duyên giả tạm, không nên v́ đó mà bận tâm. Được như vậy mới vững tiến trên đường về Cực Lạc.

Thứ ba: XỨNG PHÁP HẠNH

Pháp tức là chân như pháp tánh đối với người (niệm Phật) tu Tịnh Độ tức là niệm Phật tam muội. Người tu Thiền, khi đi đứng nằm ngồi th́ tâm phải xứng hợp với pháp chân như, c̣n hành giả của pháp môn Niệm Phật th́ tâm lúc nào cũng phải an trụ trong câu Nam mô A Di Đà Phật.

Chư vị Tổ sư đă dạy: Nếu tạm thời không trụ nơi chánh định, tức đồng như người đă chết. Bởi v́ sao? Nếu không trụ vào câu Phật hiệu, tức là tâm thức đă bị trần cảnh cứơp đoạt, và pháp thân tuệ mạng cũng không c̣n. Cho nên đệ tử chúng con quyết luôn luôn an trụ vào câu Niệm Phật để tâm tánh lặng yên sáng suốt. Dễ cảm thông với Phật - và ngay trong đời sống đă văng sanh rồi c̣n lâm chung được tiếp dẫn chỉ là chuyện của ngày sau.

Thứ tư: VÔ SỞ CẦU HẠNH

Đạo là chỉ cho tâm hạnh trong sạch không mong cầu điều chi. Bởi v́ tất cả các pháp đều như huyễn, hễ sanh rồi diệt, diệt rồi lại sanh, có chi chân thật để mong cầu? Vả lại, các pháp thế gian đều tương đối trong họa có phước, trong phước có họa, cứ ẩn nương nhau như thế, cho nên người niệm Phật phải b́nh thản, ở cảnh thạnh suy, họa phước đều không động tâm.

Thí dụ, có một tăng sĩ ở nơi am tranh vắng vẽ, sự sống hẩm hiu, ít người thăm viếng, th́ duyên đời tuy suy kém nhưng việc hành tŕ lại vững chắc. Ít lâu sau có người đến cúng dường, lần lần lập nên chùa lớn, tăng chúng đông đảo, chừng ấy phước duyên tuy thịnh nhưng phần giải thoát lại suy kém, v́ bận rộn đối phó các việc bên ngoài nên xao lăng hành tŕ.

Hoặc có vị cư sĩ nọ có gia đ́nh bần hàn nên kham nhẫn, giữ ḷng tin mà tu niệm, bỗng nhiên gặp duyên may, có người giúp đở buôn bán, về sau công việc làm ăn tấn tới th́ không c̣n th́ giờ để thực hiện nếp sống tâm linh.

Cho nên, nếu quán xét cho thật kỹ lưỡng, th́ cái lẽ họa phước đều là tạm bợ, và người niệm Phật đừng nên mong cầu ǵ hết ngay cả điều thiện cũng không ham, chỉ nên thường xuyên chấp chặt câu Nam mô A Di Đà Phật, c̣n ngoài ra các việc khác kể cả việc văng sanh và thành Phật đều nên phó thác cho đức Phật A Di Đà. Về mặt đời sống hằng ngày th́ hăy nên dùng tấm ḷng tri ân để cư xử với tất cả mọi người.

Đệ tử chúng con tự nghĩ ḿnh vốn tội dày phước mỏng, căn cơ hèn kém, lại sanh nhằm thời mạt pháp, cho nên cứ mỗi lần nh́n lại bản thân th́ buồn tủi và hổ thẹn. Khi dấn bước vào khu rừng bát ngát mênh mông của Phật Pháp th́ vô cùng bỡ ngỡ không biết phải chọn lối đi nào, v́ bất cứ lối đi nào cũng qúa hiểm trở và xa xuôi, mà khả năng của chúng con th́ bị giới hạn bởi nghiệp chướng.

Hạnh phúc thay cho chúng con, đức Thế Tôn đă mở bi nghiệp triệt để và đă chỉ bày Pháp Môn Niệm Phật để đưa chúng con lên bờ giải thoát. Với hành trang là sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật, chúng con mạnh mẽ bước lên con đường về Cực Lạc, nhưng những nghiệp nhân đă gieo từ quá khứ vẫn c̣n tác động đến đời sống cùng tâm thức. Cho nên chúng con măi măi khẩn cầu chư Phật chư Bồ tát ban cho chúng con đầy đủ năng lực, đầy đủ ḷng yêu thương để chúng con luôn luôn tỉnh thức và ghi nhớ rằng: Niệm Phật phải an nhẫn các chướng duyên như là yếu chỉ thứ chín của Pháp môn Niệm Phật.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát

PHẨM THỨ MƯỜI
NIỆM PHẬT PHẢI DỰ BỊ LÚC LÂM CHUNG

Thật ra chữ CHẾT nguyên là giả danh, v́ chẳng qua, chết chỉ là sự kết liễu của một thời kỳ quả báo, do nghiệp cảm liên chuyển giữa mỗi đời, khi xả bỏ xác thân nầy lại thọ nhận xác thân khác mà thôi. Những kẻ không biết Chánh Pháp th́ vẫn đành để cho nghiệp lực xoay vần, và c̣n những người đă nghe pháp môn Niệm Phật của Như Lai th́ phải tín nguyện tŕ niệm, dự bị tư lương để khi lâm chung được văng sanh an thuận. Như thế mới mong sớm thoát khỏi nỗi khổ sống chết luân hồi, chứng vào cảnh chân lạc của niết bàn thường trụ.

Lại chẳng nên v́ riêng bản thân ḿnh, mà đối với cha mẹ, anh em bằng hữu nên phát ḷng hiếu thuận từ bi mà khuyên cho cùng niệm Phật và trợ niệm trong khi bịnh nặng cũng như lúc lâm chung.

DỰ BỊ VỀ NGOẠI DUYÊN

Người niệm Phật khi c̣n khỏe mạnh, phải t́m kết giao những bạn đồng học đồng tu, nhất là kẻ ở gần ḿnh, cùng chung một pháp môn Niệm Phật, để có thể trợ niệm cho nhau lúc lâm chung.

Bởi chúng sanh phần nhiều nghiệp nặng, cho nên đường tu tuy đă gắng hết sức ḿnh, nhưng lúc lâm chung có thể bị nghiệp chướng của quá khứ phát hiện, lại thân thể yếu kém, tâm thức hôn mê, khó mà giữ vững chánh niệm. Nếu không nhờ người khác hổ trợ tất dễ bị tùy theo nghiệp lực mà lưu chuyển sanh tử, như vậy công tu một đời há luống uổng hay sao? Đây là điểm cần yếu thứ nhất.

Người niệm Phật khi thấy ḿnh suy yếu th́ nên đem hậu sự dặn ḍ trước, để khi lâm chung khỏi bận tâm và cũng nên sắp đặt các việc tài sản ruộng vườn cho con cháu, và dạy con cháu không được khóc lóc hoặc lộ nét bi sầu, nếu có thương th́ nên b́nh tỉnh mà niệm Phật giúp vào. Đây là điểm cần yếu thứ hai.

DỰ BỊ VỀ TINH THẦN

Trên đường hành tŕ pháp môn nầy, người niệm Phật phải có tinh thần giải thoát, nên quán sát từ tiền bạc ruộng vườn cho đến thân t́nh quyến thuộc đều là duyên giả hợp, sống tùy cảnh huyễn chết rũ sạch không. Nếu chẳng thấu đạt lẽ nầy th́ vướng vào tâm niệm tham luyến, vừa ngăn trở sự giải thoát, vừa khiến hành giả đọa làm loài bàng sanh để giữ nhà giữ của. Có kẻ v́ nuối tiếc tiền của và t́nh cảm, mà không yên tâm nhắm mắt chứ đừng ḥng bàn đến việc văng sanh. Cho nên, người niệm Phật hằng ngày phải tĩnh tâm quán xét chính bản thân, và cố dứt ḷng tham, chặt ĺa gốc ái dục mà quyết chí hướng về cơi Phật để khi lâm chung khỏi bị sức nghiệp ngăn trở và cuốn lôi.

Người niệm Phật gặp khi lâm chung thường phát khởi những điều nghi ngờ làm chướng ngại cho sự văng sanh cho nên lúc b́nh thường phải luôn luôn củng cố đức tin bằng BA ĐIỂM CỐT TỦY sau đây:

Thứ nhất là nghiệp chướng dù nặng công tu dù ít, vẫn được văng sanh.

Đệ tử chúng con hằng ghi khắc sâu lời thệ nguyện của Phật A Di Đà rằng: chúng sanh nào chí tâm muốn về Cực Lạc th́ niệm danh hiệu Ngài cho đến mười niệm, nếu không được văng sanh, Ngài thề không thành Phật.

Mà Phật th́ không bao giờ nói dối, vậy người niệm Phật phải tin nơi đức Từ Tôn. Mười niệm là thời gian công phu rất ít mà c̣n được văng sanh, huống chi ḿnh niệm nhiều hơn số đó.

Lại nữa, dẫu có kẻ nghiệp nặng đến đâu như phá giới phạm trai hoặc tạo đủ các điều ác, nếu chí tâm sám hối và nương và Bản Nguyện của A Di Đà th́ Ngài đều tiếp dẫn.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy rằng: kẻ tạo tội nặng ngũ nghịch thập ác mà khi lâm chung chí tâm niệm mười niệm đều được văng sanh.

Trong cuốn sách văng sanh Truyện có ghi lại trường hợp Trương Thiện Hoà, Hùng Tuấn, Duy Cung, trọn đời giết trâu ḅ, phá giới, làm ác khi lâm chung có tướng xấu của địa ngục hiện ra, bèn sợ hăi niệm Phật, liền thấy Phật đến rước. Cho đến loài chim sáo, chim két, chim anh vơ mà niệm Phật cũng được văng sanh, huống chi ḿnh chưa phải là tệ hại đến mức đó.

Thứ hai: là ước nguyện chưa hoàn thành và tham sân si chưa dứt trừ vẫn được văng sanh.

Ước nguyện của hành giả đại khái có hai phần, đó là Đạo và Đời.

Về mặt đạo, có người nguyện cất chùa, bố thí, hoặc tụng kinh chú một số bao nhiêu, nhưng làm chưa tṛn mà đă đến giờ chết. Phải nghĩ rằng: chỉ tín tâm niệm Phật là điều hệ trọng nhất, rồi khi được văng sanh và chứng đạo quả, sẽ làm vô lượng công đức, c̣n nguyện ước của kiếp nầy chỉ là việc nhỏ, làm xong hay chưa, không mấy quan hệ, và chẳng có hại chi cả?

Về mặt Đời, hoặc có người v́ bổn phận gia đ́nh chưa tṛn, như cha mẹ ǵa suy không ai chăm sóc, hoặc vợ con thơ dại thiếu chỗ tựa nương, hoặc thiếu nợ kẻ khác chưa trả kịp, tâm nguyện chưa vẹn nên ḷng chẳng yên. Phải nghĩ rằng: lúc ta sắp chết th́ dù có lo hay không cũng chẳng làm được, chi bằng chuyên tâm mà niệm Phật, khi được văng sanh Tây Phương, rồi đắc đạo - quả sẽ trở lại chốn Ta Bà nầy, th́ lúc ấy bao nhiêu ước nguyện đều có thể hoàn tất, bao nhiêu nợ nần đều được đáp trả tất cả kẻ thù người thân đều có thể được ḿnh cứu độ.

Na Tiên Tỳ Kheo Kinh dạy rằng: Ví như hạt cát nhẹ nhưng bỏ xuống nước liền ch́m lĩm. Trái lại, tảng đá dù nặng và to nhưng nếu được chở trên chiếc thuyền th́ có thể đem từ chỗ nầy sang chổ khác. Người niệm Phật cũng thế dù nghiệp của ḿnh rất nhẹ, nếu không được Phật cứu độ th́ chaà'e1c chắn vẫn bị luân hồi. C̣n nếu tội chướng dẫu nặng nề đến bao nhiêu nhưng được Phật tiếp dẫn th́ đương nhiên được sanh về cơi Cực Lạc.

Theo lời dạy ấy trong kinh, đệ tử chúng con thấy môn Niệm Phật là Pháp đới nghiệp mà văng sanh đó là v́ nhờ Phật Lực. Tảng đá lớn ví cho sức nghiệp nặng to, c̣n chiếc thuyền ví cho Bản Nguyện của Phật. Vậy người tu đừng nghĩ rằng ḿnh c̣n tham sân si e không được văng sanh, mà phải nghĩ rằng: với năng lực siêu việt nhân quả của Phật A Di Đà th́ trên thế gian nầy, không có điều ǵ mà Ngài không thực hiện được. Với ḷng tin tuyệt đối vào lời Phật dạy, th́ trên thế gian này không có điều ǵ mà chúng con không làm được.

Thứ ba: Niệm Phật th́ được Phật hiện thân đón rước.

Người niệm Phật tùy theo công đức ḿnh mà khi lâm chung sẽ được thấy Phật hoặc Bồ tát hoặc Thánh Chúng đến rước. Hoặc có khi không thấy chi cả, mà nhờ sức nguyện của ḿnh và Phật lực âm thầm nhiếp thọ mà thần thức tự bay về Tây Phương. Đây là bởi công hạnh tŕ danh của ḿnh có cao thấp, có sâu cạn. Chỉ cần yếu lúc đó th́ phải chí tâm niệm Phật đừng suy nghĩ một điều ǵ khác cả. Nếu nghi ngờ sẽ tự sanh ra chướng ngại. Tóm lại khi lâm chung dù thấy tướng tốt hay không cũng đừng quản đến, chỉ dốc ḷng niệm Phật cho đến giây phút cuối cùng.

KHAI THỊ LÚC LÂM CHUNG

Người niệm Phật khi bịnh chưa nặng vẫn nên uống thuốc, nhưng vẫn tinh tấn niệm Phật, chớ nghĩ tưởng rằng, uống thuốc rồi sẽ lành bệnh. Lúc bệnh nặng có thể không nên dùng thuốc.

Hoằng Nhất đại sư khi đau nặng có kẻ thưa để xin rước thầy hốt thuốc. Ngài liền từ tạ và nói kệ rằng:

Đức Phật A Di Đà
Là vô thượng Y Vương
Nếu bỏ đây không cầu
Âư là kẻ si cuồng !
Một câu hồng danh Phật
Là thuốc diệu Dà Đà
Nếu bỏ đây không uống
Thật lầm to lắm mà !

Rồi Ngài chỉ chuyên tâm niệm Phật quả nhiên cũng lần lần thuyên giảm.

Nên nhớ rằng khi bệnh đă nặng th́ người niệm Phật phải buông bỏ tất cả mọi việc xung quanh ngay cả chính thân tâm ḿnh, mà chỉ chuyên nhất niệm Phật, một ḷng cầu mong văng sanh Tây Phương. Làm được như thế, nếu thọ mạng đă hết th́ quyết định văng sanh. Như thọ mạng chưa dứt th́ tuy cầu văng sanh mà trở lại mau lành bệnh, do v́ ḷng ḿnh chuyên thành nên đă trừ diệt nghiệp ác đời trước.

Trái lại, nếu chẳng buông bỏ mọi duyên và cứ để cho ḷng rối loạn, như thọ số đă hết quyết không được văng sanh v́ ḿnh chỉ chuyên cầu lành bệnh chứ không cầu về với Phật, nên làm sao mà văng sanh cho được? Nếu thọ mạng chưa dứt th́ chẳng những bệnh không thuyên giảm mà bệnh lại tăng thêm v́ ḿnh nhân cầu lành bệnh, vọng sanh ḷng buồn lo, sợ hải.

Lúc bệnh nhân đă suy yếu lắm, nếu thần thức c̣n thành tỉnh, th́ người nhà nên thỉnh bậc tri thức đến thuyết pháp khai ngộ cho -Nếu không có th́ nên mời một vị bạn đồng tu đến an ủi và khai thị theo các chi tiết sau:

THỨ NHẤT: Nói cảnh khổ ở ta bà, diễn tả cảnh vui ở Cực Lạc, lại nên đem việc lành kể rơ ra và khen ngợi, khiến cho người bệnh sanh ḷng vui mừng không c̣n nghi ngại, tự biết ḿnh sẽ nương nơi nghiệp lành ấy mà sanh về Tây Phương.

THỨ HAI: Nếu bệnh nhân có điều ǵ nghi ngờ th́ nên giải thích bằng BA ĐIỂM CỐT TỦY đă nêu trên.

THỨ BA: Vị khai đạo phải can ngăn không cho thân nhân hỏi han về di chúc, không cho nói chuyện tạp vô ích khiến bệnh nhân động niệm t́nh ái, quyến luyến thế gian.

THỨ TƯ: Không cho bà con thân hữu đến trước bệnh nhân mà hỏi han tỏ vẻ buồn thảm mến tiếc. Nếu v́ cảm t́nh và đến th́ khuyên họ v́ bệnh nhân, chấp tay niệm Phật ra tiếng một hồi, đó mới thật là có ḷng thương mến.

THỨ NĂM: Nên khuyên bệnh nhân đem y phục vật dụng, và cả tiền bạc của ḿnh mà tặng cho kẻ khác. Hoặc đem các thứ ấy mà cúng dường kinh tượng Phật, th́ càng hay.

Điều này cũng giúp cho người bệnh tăng thêm phước lạc và tiêu trừ tội chướng, được dễ dàng hơn trong việc văng sanh như trong kinh Địa Tạng đă chỉ dạy.

CÁCH THỨC TRỢ NIỆM

Người bệnh từ khi đau nặng cho đến khi sắp tắt hơi, th́ thân nhân phải b́nh tỉnh không được khóc lóc và không được lộ nét bi ai, sầu thảm. Bởi v́ lúc này chính là lúc bệnh nhân đang đi đến ngă rẽ phân chia quỉ người phàm thánh Sự khẩn yếu nguy hiểm khác thường, như ngàn cân treo trước sợi tóc. Chỉ nhất tâm niệm Phật giúp vào là điều quan trọng nhất. Có người tuy có chí nguyện văng sanh, mà bị quyến thuộc thương khóc, làm khơi động ư niệm t́nh ái, kết cuộc phải bị đọa lạc luân hồi, công tu một đời đành luống uổng.

Người sắp chết thường đau nhức cơ thể, nên chớ ép buộc tắm rửa hoặc thay đổi áo quần làm nhiễu loạn chánh niệm. Đôi khi bệnh nhân có thể sanh về cơi lành, nhưng bị thân nhân xúc chạm thân thể và sửa đổi tay chân, làm thêm đau đớn nên sanh ḷng tức giận. Do ư niệm này, liền đọa vào đường ác làm rồng rắn cọp beo hoặc các loài thú dữ khác.

Có người dù hằng ngày luôn luôn niệm Phật, nhưng nếu không nhờ sức trợ niệm th́ cũng khó nhất tâm để văng sanh. Cách thức trợ niệm phải theo các chi tiết sau:

MỘT là: thỉnh tượng Phật A Di Đà tiếp dẫn, đặt ngay trước mặt bệnh nhân, để cho họ trông thấy. Cắm một b́nh hoa tươi, đốt một ḷ hương nhẹ để dẫn khởi chánh niệm, nên nhớ chỉ có khói nhẹ mà thôi, đừng để khói nhiều v́ e ngột ngạt khó thở.

HAI là: người trợ niệm tùy theo nhiều hay ít, nên luân phiên mà niệm. Ít th́ mỗi lượt có thể hai hoặc ba người, nhiều th́ mỗi lượt có thể sáu bảy người. Nên nhớ bệnh nhân rất cần thanh khí, do đó chớ cho vào quá đông người, lại phải nh́n đồng hồ mà im lặng luân chuyển cho nhau, cốt sao cho câu niệm Phật tiếp tục không gián đoạn.

BA là: niệm bốn chữ hay sáu chữ phải tùy theo tập quán của bệnh nhân, và tiếng niệm phải đừng quá cao, đừng quá thấp, đừng quá nhanh, đừng quá chậm, mỗi chữ mỗi câu đều rành rẽ rơ ràng, khiến cho câu hồng danh lọt qua tai đi sâu vào tâm thức của người bệnh, như thế mới đắc lực. Khi bệnh nhân quá hôn trầm th́ phải kê miệng sát vào tay họ mà niệm, mới có thể khiến cho họ minh tâm.

BỐN là:nên niệm suông là thỏa đáng hơn cả, hoặc nếu có dùng âm thanh th́ nên dùng chuông mơ lớn, khiến cho người bệnh sanh tâm nghiêm kính tuy nhiên điều này phải hỏi trước bệnh nhân, nêú có điều chi không hợp th́ nên tùy cơ nghi mà cải biến, chớ nên cố chấp.

CÁCH THỨC TRUY TIẾN

Người mới tắt thở, điều thiết yếu là không nên vội di động, không nên vội lau rửa, phải đợi qua tám giờ đồng hồ mới nên tắm rửa và thay đổi y phục. Trước và sau khi chết, người thân cũng không được khóc lóc, chỉ nên gắng sức niệm Phật, mới thật sự có ích lợi cho vong nhân. Nếu muốn khóc lóc, phải đợi tám giờ sau. V́ bệnh nhân tuy tắt hơi nhưng thức A đà na c̣n chưa đi hẳn, nếu lúc ấy làm lay động hoặc kêu khóc, họ vẫn c̣n cảm giác đau đớn hoặc sanh ư niệm buồn giận, lưu luyến, mà phải sa đọa.

Điều này rất quan hệ và cần thiết nên phải để ư ghi nhớ cho kỹ.

Sau khi bệnh nhân tắt hơi, th́ thân nhân vẫn phải tiếp tục niệm Phật cho đến tám giờ sau, để sự văng sanh có phần bảo đảm. Nên đóng cửa pḥng lại, canh chừng loài chó mèo hoặc những kẻ không am hiểu đến đổ xô vào xúc phạm. Ngoài ra điều cấm tuyệt không nên làm điều chi khác, v́ trong khoảng thời gian này, người chết vẫn c̣n cảm giác.

Tám giờ sau, nếu tay chân người chết đă cứng th́ nên dùng vải, thấm nước nóng bao quanh khớp xương, một lát th́ có thể sửa tay chân co duỗi như thường.

Trong đám tang của người quá cố th́ thân nhân nên làm đơn giản, đừng quá rườm rà mà tốn kém vô ích. Điều cần thiết là nên dùng đồ chay và chớ có sát sanh để chiêu đăi khách và cúng tế nếu không th́ người quá cố sẽ bị oán đối, khó được giải thoát, dù được văng sanh, th́ phẩm sen cũng v́ đó mà bị giảm thấp.

Khi làm Phật sự để truy tiến cho người quá cố th́ thân nhân nên đem công đức ấy mà hồi hướng khắp chúng sanh trong pháp giới. Như thế, công đức ấy sẽ càng thêm rộng lớn, mà sự phước lợi cũng v́ đó mà tăng thêm rất nhiều.

Bởi v́ buổi lâm chung chính là lúc quan trọng nhất trong cuộc đời, nếu không chuẩn bị trước các món tư lương cho đầy đủ, th́ đến chừng ấy ắt phải kinh hoàng bối rối, kêu cầu không kịp và nghiệp ác trong nhiều kiếp đồng loạt hiện ra, làm sao giải thoát?

Cho nên, tuy lúc lâm chung phải nhờ đến kẻ khác trợ niệm, nhưng chính ḿnh lúc b́nh nhật phải cố gắng tu tŕ, chừng ấy mới được tự tại, nên chúng con xin dự bị ngay từ bây giờ.

Như vậy, đệ tử chúng con cảm nhận ơn lành cao cả của đức Từ Phụ A Di Đà, được sự hộ tŕ của sáu phương chư Phật, được sự dạy dỗ chu đáo của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Niệm, được sự nhắc nhở và d́u dắt của các bậc Thiện Tri Thức cho nên ngày nay mới biết rằng Niệm Phật phải dự bị lúc lâm chung, để cuối cùng được dễ dàng văng sanh về tham dự hải hội Liên Tŕ, để khỏi phụ ơn cứu độ và giáo dục của chư Phật, cũng như khỏi mắc vào cái lỗi:phụ rẫy cả chính ḿnh.

Đệ tử chúng con vẫn thấy rằng biển khổ dễ ch́m, mà hễ ch́m là cứ trôi hoài trôi măi, và đường tu th́ khó bước mà mỗi bước là gặp biết bao chông gai thử thách. Trong kinh TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG đức Phật dạy:

Nhân sanh có hai mươi việc khó:


Nghèo khổ mà bố thí nổi, là khó
Giàu sang mà học đạo được, là khó
Xả thân quyết chết, là khó
Xem được kinh Phật là khó
Nhịn sắc ĺa dục là khó
Sanh gặp đức Phật ra đời là khó
Thấy tốt mà không cầu là khó
Bị nhục mà chẳng giận là khó
Có thế lực mà không ỷ lại là khó
Gặp việc đời mà cư xử vô tâm là khó
Học rộng nghiên tầm nhiều là khó
Trừ bỏ ngă mạng là khó
Không khinh kẻ chưa học là khó
Tâm hành b́nh đẳng là khó
Chẳng nói việc thị phi là khó
Được gặp Thiện Tri Thức là khó
Thấy Tánh để học Đạo là khó
Tùy duyên mà hóa độ kẻ khác là khó
Đối cảnh mà không động tâm là khó
Khéo biết dùng phương tiện là khó.

Quả thật như vậy, sanh gặp đời có Phật là khó, v́ sao? V́ được thấy Phật nghe Pháp và y theo lời dạy mà phụng hành th́ phải là người có nhiều căn lành, phước đức, nhân duyên. Nay Như Lai đă diệt, các bậc thiện tri thức hiện ra hoằng dương Phật pháp, nếu được thân cận nghe lời khuyên dạy th́ cũng được giải thoát.

Nhưng kẻ căn lành sơ bạc th́ gặp thiện tri thức cũng là khó khăn. Dù có duyên lành được thấy mặt nghe Pháp nhưng nếu không hiểu nghĩa lư hoặc chấp h́nh thức bên ngoài mà không chịu tin theo th́ cũng đều vô ích.

Theo kinh HOA NGHIÊM, muốn t́m cầu thiện tri thức th́ đừng nên câu nệ theo h́nh tướng bên ngoài, như thế chấp kẻ ấy trẻ tuổi, nghèo nàn, địa vị thấp, hoặc ḍng dơi hạ tiện, tướng mạo xấu xa, các căn chẳng đủ, mà chỉ cầu người thông hiểu Phật Pháp để có thề làm lợi ích cho ḿnh. Lại đối với bậc thiện tri thức th́ chớ nên t́m cầu sự lỗi lầm, bởi vị đó có khi v́ mật hạnh tu hành, v́ phương tiện hóa độ, hoặc đạo lực cao nhưng tập khí c̣n chưa dứt. Nên mới có các hành động sai trái như vậy. Nếu cứ chấp nê h́nh thức hay t́m cầu lỗi lầm th́ tất không được lợi ích trên đường Đạo.

Cho nên, nh́n t́m bậc thiện tri thức là KHÓ đến như thế !

Tuy nhiên, cái khó và cái dễ chỉ là pháp đối đăi v́ trong khó có dễ và trong dễ có khó. Nếu nhận hiểu và quyết tâm th́ các việc khó đến mấy cũng vẫn có thể thành tựu.

Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, nay nhờ sự gia bị của ơn Tam Bảo mà chúng con có được thân người. Nay nhờ duyên lành mà chúng con được đón nhận sự giáo hóa của đức Bổn Sư, nay nhờ Từ Bi Lực của Phật A Di Đà mà chúng con đă đặt trọn vẹn ḷng tin vào Bản Nguyện Cứu Độ của Ngài, nay nhờ sức sách tấn của chư vị thiện tri thức mà chúng con được đọc tụng cuốn sách này, tức là đă gặp được Pháp thành Phật mầu nhiệm, dễ dàng và rốt ráo.

Ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo, chư vị đại địa Bồ tát, cùng liệt vị Hộ Pháp Thiện Thần, đem năng lực bản nguyện, năng lực trí tuệ, năng lực thần thông, năng lực diệt sạch tội chướng mà ban thêm cho chúng con nhiều sức mạnh cùng trí sáng suốt để dù gặp phải hoàn cảnh khó khăn vẫn nhận rơ duyên đời khổ mộng quyết chí niệm Phật, trường trai giữ giới, khiến cho hoa sen báu bên Trời Tây được nở thêm những hàng thượng thiện.

Với tấm ḷng Tri Ân, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Cực Lạc Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát
Nam mô Lư Sơn Đạo tràng, khai sáng Niệm Phật pháp môn, sơ tổ HUỆ VIỄN Đại sư Bồ tát.
Nam mô Quang Minh Đạo tràng Hoằng dương Niệm Phật Pháp môn Nhị tổ THIỆN ĐẠO Đại sư Bồ tát.
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ tát Liệt vị Thiện Thần Bồ tát Ma ha tát


 
Trang Chủ      Hình ảnh      Kinh điển      Thần Chú      Liên lạc